ĐẢO GUAM, 27 NĂM SAU

https://i2.wp.com/i68.tinypic.com/2wnmkg9.jpg

Cảm nghiệm của một Đại tá tuyên úy hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, Linh mục Nguyễn Văn Tùng.

Viên phi công loan báo cho hành khách chuẩn bị để hạ cánh, đồng thời cho biết những ai ngồi ở ghế cạnh cửa sổ bên cánh phải, phía tôi đang ngồi, đã có thể nhìn thấy căn cứ Không Quân Anderson ở phía Bắc của đảo Guam. Quả nhiên, trên phi đạo, một chiếc phi cơ vận tải quân sự loại mới C-17 vừa hạ cánh và đang từ từ tiến về bãi đậu. Cách đây đúng 27 năm, tôi đã từng đặt chân lên phi trường này, cảm giác nôn nao không thể ngăn chặn với muôn vàn kỷ niệm và những ý nghĩ ngổn ngang như cùng bừng dậy trong thâm tâm tôi.

Image result for USAF C17 LANDING AT Anderson, GUAM

Đúng đêm 30 tháng Tư, 1975, tôi cùng trên 200 đồng bào di tản đã được chuyển từ (đảo) Grande Island thuộc căn cứ Hải Quân Mỹ Subic Bay ở Phi Luật Tân đến căn cứ Không Quân Clark để đi đảo Guam. Nhưng khi qua đến phi trường, mọi người lại được thông báo rằng trại tị nạn ở Guam đã đầy, chúng tôi sẽ phải đi đảo Wake, xa hơn Guam khoảng ba tiếng đường bay.

Bay qua khỏi đảo Guam độ một giờ đồng hồ, thình lình viên phi công loan báo rằng phi cơ đang gặp trục trặc kỹ thuật, phải quay lại Guam, mọi người đều lộ nét lo âu, nhưng rồi máy bay cũng an toàn đáp xuống phi đạo của phi trường quân sự Anderson. Đoàn người được đưa vào một nhà chứa máy bay (hangar) rất lớn để ngồi chờ, trong khi các chuyên viên lo sửa chữa chiếc vận tải C-141 của Không Quân Hoa Kỳ. Hôm ấy là sáng mùng 1 tháng Năm. Hơn hai tiếng đồng hồ sau, máy bay được sửa xong, mọi người lại tiếp tục chuyến bay đến đảo Wake. Chỉ vài tiếng dừng chân ngắn ngủi nhưng cũng đủ gây ấn tượng sâu đậm trong lòng, khiến tôi đã tâm niệm rằng phải trở lại hải đảo này khi có cơ hội. Cơ hội đó đã không đến với tôi, cho mãi đến 27 năm sau.

Trung Tá Tuyên Úy Trưởng, David Girardin, của Bộ Tư Lệnh lực lượng Hải Quân trong vùng quần đảo Marianas (U.S. Naval Forces Marianas), đặt bản doanh trong căn cứ Hải Quân ở bán đảo Orote Point, và trung sĩ nhất trưởng ban phụ tá phòng tuyên úy, Mannix Babanto, đã thân mật ra tận phi trường đón tôi. Một ý nghĩ ngộ nghĩnh chợt nảy sinh: “Tên anh chàng này cũng dễ nhớ đây, Bà-Bán-Tô.” Họ đã giúp tôi nhận xe thuê và hướng dẫn tôi đi một vòng quanh căn cứ trước khi về nơi tạm trú. Tôi hơi ngạc nhiên vì họ không để tôi nghỉ ở lưu xá dành cho các sĩ quan độc thân (Bachelor Officers’ Quarters) như thường lệ, nhưng là một khu ở ngoài căn cứ, tận trên đỉnh núi, phòng của tôi đầy đủ tiện nghi như một “suite” của các khách sạn sang trọng.

Sáng hôm sau, ở văn phòng các tuyên úy, tôi đem việc này nói với vị tuyên úy Công Giáo, Thiếu Tá Kent McCord, ông nói ngay: “Úi chào, Nimitz Hill, họ đã đưa cha về lưu xá của các sĩ quan cao cấp đấy.” Tôi thầm nghĩ: “Thảo nào.” Tuyên úy trưởng Girardin đã dành riêng cho một văn phòng với đầy đủ điện thoại và máy điện toán, rất tiện lợi cho việc đọc và viết điện thư hàng ngày (ở thời điểm 2002). Được biết trước về chuyến công tác của tôi, một nhân viên dân sự, đã và đang làm thư ký cho văn phòng tuyên úy suốt 26 năm qua, bà Bennie Limtiaco, trao ngay cho tôi hai tập albums đầy những hình ảnh của dân tị nạn ở Orote Point từ cuối tháng Tư năm 1975. Tôi không có giờ xem ngay, nhưng biết chắc các hình ảnh này sẽ gợi lại trong tôi bao nhiêu tủi hận của những ngày bất chợt phải ly hương từ mấy mươi năm cũ.

Cũng như Puerto Rico và Phi Luật Tân, đảo Guam, nguyên là thuộc địa của Tây Ban Nha, đã nhượng lại cho Hoa Kỳ từ năm 1898. Cái tên “đảo Guam” đã bắt đầu đi vào tâm tư của người dân Việt từ khoảng những năm 1965-66; lúc ấy, cuộc chiến Quốc-Cộng đang đến hồi khốc liệt và bộ Quốc Phòng Mỹ đã bắt đầu sử dụng các siêu pháo đài bay (Stratofortress) B-52, cất cánh từ đảo Guam, để dội bom “trải thảm” (carpet bombing) trên chiến trường Việt Nam. Mỗi chiếc phi cơ này có thể chở được đến 70 ngàn cân (Lbs.) bom, tính trung bình mỗi qủa bom nặng 250 cân (khoảng 120 ký lô), vị chi là 280 quả. Mỗi phi vụ thường có ba chiếc B-52, họ bay thành hàng ngang và dội bom cùng một lúc. 840 qủa bom thi nhau nổ, tạo cơn địa chấn trên một dải đất chiều ngang chừng 500 thước và dài khoảng một cây số rưỡi. Thường thì rất ít sinh vật có thể sống sót trong tầm “tấm thảm” đó, nếu không chết vì mảnh bom, cũng chết vì bị nội thương do sức ép khủng khiếp trong không khí.

Khoảng tháng 7, năm 1967, cả hai chính phủ Mỹ và VNCH cùng loan tin rằng đại tướng Nguyễn Chí Thanh, tư lệnh các lực lực quân sự của phía Cộng Sản ở miền Nam, đã thiệt mạng trong một cuộc oanh tạc của B-52. Tuy nhiên, chính phủ của CSBV (Cộng Sản Bắc Việt, VNCH đã gọi họ như vậy) lại loan báo rằng tướng Thanh đã chết vì một cơn đau tim ở Hà Nội! Khi đó ông ta mới được 53 tuổi! Sự thật về sự kiện này, sớm muộn rồi cũng sẽ được phơi bày. (Con trai út của tướng Thanh là thượng tướng (ba sao) Nguyễn Chí Vịnh, hiện đang giữ chức thứ trưởng bộ Quốc Phòng của Việt Nam).

Chỉ vài ngày sau khi tấn công căn cứ hải quân Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) và các cơ sở quân sự khác, thuộc tiểu bang Hawaii, khai chiến với Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến, quân Nhật đã chiếm hải đảo Guam, hôm 10 tháng 12, 1941. Tuy nhiên, đến tháng 10 năm 1944 Guam đã được quân Mỹ phản công tái chiếm. Ngày 6 tháng 8 năm 1945, chiếc siêu pháo đài bay B-29, mang tên riêng “Enola Gay” đã cất cánh từ đảo Tinian thuộc quần đảo Marianas, để thả qủa bom nguyên tử đầu tiên (hình 3) xuống thành phố Hiroshima của Nhật, tạo những hệ lụy còn vương vấn mãi đến ngày nay.
Giữa tháng 7 năm ấy, chiếc tuần dương hạm USS Indianapolis, CA-35 (hình 1), do đại tá Charles B. McVay, III làm hạm trưởng đã được lệnh tối mật, chở chất uranium và các thành phần khác của quả bom nguyên tử đầu tiên đó đến đảo Tinian. Kế đến, tàu được lệnh ghé qua Guam, trước khi trực chỉ vịnh Leyte thuộc Phi Luật Tân, nhưng không may, trên chặng chót của chuyến công tác định mệnh này, chiếc Indianapolis đã bị một tàu ngầm của Nhật phóng thủy lôi đánh chìm vào đêm 30 tháng 7. Vì đó là một công tác tối mật, ít người biết, nên mãi đến năm ngày sau Hải Quân Mỹ mới được tin chẳng lành của chiếc Indianapolis. Khoảng 900 trên tổng số 1196 thủy thủ, kể cả thuyền trưởng McVay, đã sống sót khi tàu chìm, nhưng sau năm ngày, hai phần ba những người lính thủy đó đã chết vì các vết thương, đói khát, và nhất là làm mồi cho cá mập, chỉ còn 316 người được cứu.

Vị thuyền trưởng của tuần dương hạm Indianapolis, đại tá Mcvay, đã bị bộ Hải Quân Mỹ đưa ra tòa án quân sự, mặc dù có sự phản đối của Thủy Sư Đô Đốc (Fleet Admiral – 5 sao) Chester W. Nimitz, tư lệnh các lực lượng quân sự của Mỹ ở Thái Bình Dương, lúc bấy giờ. (Kể từ sau đệ nhị thế chiến đến nay, chính phủ và quốc hội Mỹ đã không còn phong hàm 5 sao cho các đại tướng và đô đốc nữa.) Đại tá McVay bị kết án là bất tuân lệnh chiến thuật: Phải cho tàu chạy ngoằn ngoèo (zigzag) trong vùng có nhiều tàu ngầm của địch. Nhưng ngay cả khi điều này đã được thực hiện, tàu vẫn bị đánh đắm, theo như lời khai của chính vị thuyền trưởng chiếc tàu ngầm Nhật (I-58, tương tự như chiếc I-10 trong hình số 2) đã đánh chìm chiếc Indianapolis, trung tá Mochitsura Hashimoto.

Sau đó, ông Mcvay đã được ân xá, hoàn lại cấp bậc cũ, ít lâu nữa lại được thăng cấp Phó Đề Đốc (một sao), rồi về hưu vào năm 1949. Nhưng có lẽ vì bị ám ảnh triền miên trước cái chết đau thương của bao nhiêu chiến hữu (điều mà hiện nay các tâm lý gia gọi là PTSD – Post-traumatic Stress Disorder – Bị mất thăng bằng bởi dồn ép sau cơn kinh hoàng), nên cuối cùng phó đề đốc Mcvay đã tự sát vào năm 1968. Cho đến nhiều năm sau, các chiến hữu và người thân của ông vẫn đang cố gắng vận động để ông chính thức được trắng án trước tòa quân sự. Mãi đến ngày 30 tháng 10 năm 2000, Phó Đề Đốc McVay mới được Quốc Hội Hoa Kỳ và Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố trắng án.

Trong khi đó, về phần thuyền trưởng Hashimoto của chiếc tàu ngầm Nhật I-58, lúc đầu đã không biết rằng chính ông đã đánh chìm chiến hạm Mỹ chở qủa bom nguyên tử (uranium-235) tàn sát thành phố Hiroshima của quê hương ông. Rồi Hashimoto lại được hung tin cho biết, cùng với 70 ngàn người dân Nhật khác, nhiều người trong gia đình của ông đã bị thiêu hủy hoàn toàn chỉ trong vài giây đồng hồ vì quả bom oan nghiệt đó! Về cuối đời, ông đã trở thành một nhà sư thần đạo (Shinto) và tạ thế năm 2000, hưởng thọ 91 tuổi.

Trung tá tuyên úy trưởng Girardin đã gặp riêng tôi để nhắc rằng Guam là đơn vị mà tôi sẽ phải trình diện khi có lệnh tổng động viên. “Như cha đã biết, cha sẽ phải giữ trách nhiệm chức tuyên úy trưởng của bộ tư lệnh này, vì vậy trong những ngày sắp tới, cha sẽ cùng làm việc với tôi như một tuyên úy trưởng thứ hai vậy. Chiều nay, chúng mình sang trình diện đề đốc tư lệnh, nhá.”

Sáng hôm sau, tôi lại cùng tuyên úy Girardin đi dự buổi họp thường lệ với đề đốc tư lệnh (2 sao) và ban tham mưu của ông. Bước vào phòng họp khá rộng, tôi đã ngạc nhiên đến sững sờ trước bức hình lớn như một màn ảnh chiếu phim, trong đó có trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (3 sao), thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (2 sao), đại sứ Bùi Diễm và phái đoàn của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia Việt Nam, cả thảy chín người; đang ngồi họp với tổng thống Lyndon B. Johnson và phái đoàn cũng chín người của ông, trong đó có đại tướng Westmoreland và các ông McNamara, Cabot Lodge, Dean Rusk, Bunker… Tuyên úy Girardin nói với tôi: “Cha nhìn kỹ cái bàn trong hình với cái bàn này (trong phòng họp) xem có giống nhau không?” Thì ra đó chính là cái bàn hình bầu dục mà hai phái đoàn Việt-Mỹ đã họp trong những ngày 20-21 tháng 3, 1967 ở Guam. Sau cuộc họp “thượng đỉnh” này, miền Nam Việt Nam có tuyển cử và hai ông Thiệu-Kỳ đã trở thành tổng thống và phó tổng thống của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Tôi ngồi vào bàn họp với tâm trạng thật ngổn ngang, họ còn quyết định thêm những gì nữa? Chắc chắn những quyết định đó đã ảnh hưởng đến số mệnh của biết bao sinh linh Việt tộc (và cả một số người Mỹ nữa). Tôi đặt tay xoa nhẹ trên mặt bàn mà lòng trĩu nặng những ưu tư…

Thăm viếng các phòng tuyên úy của những đơn vị trực thuộc bộ tư lệnh là việc tôi đã làm kế tiếp. Tiểu đoàn Công Binh (Construction Battalion hay Sea Bees) CB-40 vừa mới từ California ra đáo nhậm công tác trong vòng 6 tháng. Tuyên úy đại úy Haagen đã đưa tôi đi thăm các thành phần của tiểu đoàn, một số trung đội đã được trải ra khắp địa bàn hoạt động ở miền Tây Thái Bình Dương, kể cả việc hỗ trợ cho cuộc tập trận thường niên giữa quân Mỹ và quân của các nước đồng minh trong vùng Đông Nam Á, mang tên Hổ Mang Vàng (Cobra Gold) đang diễn ra ở Thái Lan. Cách ban chỉ huy khá xa, một toán công binh đang đổ bê tông làm mái nhà cho vài căn lều nghỉ mát trên bãi biển. Ở Guam, tất cả các cơ sở phải được xây cất vững chắc để có thể chịu đựng được những cơn bão “Tứ Phương” (Typhoons ) rất lớn mà sức gió có khi lên đến 250 cây số một giờ (category 5.)

Thình lình tuyên úy Haagen nói nhỏ vào tai tôi: “Sir có thấy cô bé đang đổ hồ trên mái nhà đó không? Cũng là một Miss Nguyễn đấy!” Thật ngạc nhiên, vì trong ngành rất vất vả này mà cũng có một thiếu nữ gốc Việt tham gia, tôi đã cho gọi cô ta xuống để hỏi thăm vài câu. Được biết cô T. Nguyễn đã lớn lên ở Houston, Texas, năm nay 21 tuổi, nhưng trông nhỏ bé như cô gái 16, mới gia nhập Hải Quân hơn một năm. Qua quân trường căn bản ở Great Lakes, Illinois, rồi trường huấn luyện chuyên môn, thì cô được gửi về tiểu đoàn CB-40, vừa trình diện không bao lâu đã đến lượt tiểu đoàn phải ra công tác 6 tháng ở Guam. Hỏi tại sao cô lại gia nhập cái ngành cực khổ này, cô chỉ cúi đầu chúm chím cười. Hỏi cô có dự tính gì trong thời gian công tác ngoài này không? Cô đáp rằng ở đây gần Việt Nam quá, chỉ hơn 4 giờ bay nữa, cô muốn được một lần về thăm quê cha, đất mẹ. Tôi đã chúc cô sớm được toại nguyện.

Image result for USS Frank Cable (AS-40) AT GUAM

Guam là hậu cứ lớn của toàn lực lượng Hải Quân Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, nên các chiến hạm thường xuyên thay nhau vào bến ở đây. Tôi đã lần lượt xuống thăm tuần dương hạm (Cruiser) USS Lake Champlain (CG-57), “Tender Ship” USS Frank Cable (AS-40) là loại “tàu mẹ” của các tiềm thủy đĩnh, chở tất cả những thứ cần thiết cho tàu ngầm, ngay cả việc sửa chữa cấp tốc, nếu cần. Tiểu hạm đội (Battle Group) của hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk (CV-63) có hậu cứ ở Yokosuka, Nhật, cũng ghé bến trong những ngày này. Cả hải đảo như bừng lên vì trên 8,000 thủy thủ của các tàu chiến đã chia nhau “xuống phố.” Các nhà thương mại địa phương đã ước tính, trung bình mỗi thủy thủ sẽ tiêu khoảng 1,000 đô cho năm ngày ghé bến. Chỉ năm ngày, hải đảo đã thu vào 8 triệu đô-la, ai mà không “thương” lính thủy?

Tôi lái xe thật chậm, lách tránh những ổ gà, trên một phi đạo cũ đã bị bỏ hoang hàng mấy chục năm, dài khoảng hai cây số. Hai bên phi đạo này và một phi đạo chéo góc nữa của phi trường chiến thuật Orote Point, đã có hàng hàng lớp lớp những lều bạt lớn được dựng lên vội vã trong những ngày cuối tháng Tư, 1975, cho dân tị nạn người Việt Nam vào tạm trú. Gọi chung là dân tị nạn cho cả hai thành phần: Những người được Mỹ di tản và những người vượt thoát ra biển vào phút cuối, trước khi quân Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam. Từ một không ảnh, người ta có thể đếm được đến trên 600 lều bạt, mỗi lều có thể kê đến 50 giường gấp (cots) hay nệm giường cho cùng một số người ở tạm. Như vậy, tổng số người tị nạn ở trại Orote Point lúc nào cũng phải trên 25 ngàn và có ít nhất 100 ngàn người đã “đi qua” trại này trong những tháng kế tiếp, sau ngày bi thảm 30 tháng Tư.
Để tái định cư dân Việt tị nạn (đúng hơn là dân Đông Dương vì có cả những người tị nạn từ Cambodia và Laos nữa), những người đã được hưởng quy chế “tạm dung” (Parolee), được cấp số an sinh xã hội, được định cư và làm việc ở Mỹ; chính phủ Hoa Kỳ đã thành lập hai chương trình mang tên “Chiến dịch Đời Sống Mới và Chiến Dịch Tân Nhập Cư” đặt dưới sự điều hành của một cơ quan “Đặc Nhiệm Liên Ngành” (Interagency Task Force.) Các chương trình này đã kéo dài từ 1 tháng 4, 1975 đến 1 tháng 6, 1976. (Để ý: Người Mỹ đã chính thức chuẩn bị di tản khoảng 100 ngàn người Việt Nam từ đầu tháng 4/75)

Những tấm hình trắng đen, chen lẫn vài tấm ảnh màu, do ban tuyên úy của căn cứ Hải Quân chụp, như cùng nhảy múa trước mắt tôi. Những khuôn mặt hốc hác, thất thần không thể che giấu của nhiều người vì họ vừa trải qua cơn kinh hoàng vượt xa sự tưởng tượng của con người. Không âu lo sao được khi con đang lạc cha, vợ đang tìm kiếm chồng, anh em không biết có còn gặp được nhau không. Những người dân đã dùng các bảng thông tin tạm để dán đầy các mẩu giấy viết vội vài hàng, với hi vọng mong manh rằng người thân của mình sẽ đọc được, chính tôi cũng đã làm việc này ở đảo Wake cũng như khi phi cơ tạm ngừng ở phi trường quốc tế Honolulu thuộc tiểu bang Hawaii. Những tấm hình đó đã nói lên phần nào nỗi nhiêu khê của đời sống dân Việt trong các trại tạm trú vào thuở đầu đời tị nạn. Cuộc sống này đã được hai anh em nhà đạo diễn Tim và Tony Bùi làm sống lại khá đầy đủ trong phim Rồng Xanh (Green Dragon.)

Tôi dừng xe tại một ngã tư, nơi hai phi đạo cắt chéo góc với nhau, “Khu này, hẳn là ‘thị tứ’ nhất trại,” tôi thầm nghĩ, vì ở đây có nhiều lều nhất, dày đặc khắp bốn góc của ngã tư. Một số hình chụp lúc Đức Giám Mục Flores của giáo phận Guam vào thăm trại, số khác đã ghi nhận sự hiện diện của vài nhân vật quen thuộc như Giám Mục MTL và Linh Mục MKH ở Orange County, Linh Mục NQB (RIP) ở San Diego v.v… Một nhà sư mặc áo nâu cũng chụp hình chung với các tuyên úy Mỹ trước lều Phật Giáo…

Nay, tất cả đã đi vào quá khứ nhạt nhòa, đặc biệt trong những người trẻ, cây rừng nhiệt đới đã mọc phủ kín hoàn toàn những phần đất của trại tị nạn năm xưa, để lại hai phi đạo hoang tàn, loang lổ những ổ gà… Còn chăng chỉ là những kỷ niệm ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng một số người lớn tuổi hơn, vẫn tha hương, vẫn hoài bão, vẫn mong chờ…

Mấy hôm sau, tôi đã làm một việc mà tôi muốn thực hiện ngay từ hôm đầu trở lại đảo Guam: Đi thăm căn cứ Không Quân Anderson. Qua bãi biển Asan, nơi cũng đã có một trại tị nạn nhỏ, tôi còn pải lái xe gần nửa tiếng nữa mới tới cổng căn cứ. Mặc dù toàn trại và phi trường đang trong tình trạng báo động khá cao (Threat Condition: Alpha), người lính gác vẫn nhanh chóng lịch sự ra dấu cho tôi lái xe vào, sau khi đã xem thẻ quân nhân của tôi và kính cẩn nghiêm chào.

Một chiếc siêu pháo đài bay B-52 cũ đặt giữa một bùng binh thật đẹp để để trưng bày. Đã bao lần chiếc phi cơ này vần vũ trên bầu trời Việt Nam? Bao nhiêu tấn bom đã từ nó trút xuống mảnh đất nghèo trơ sỏi đá đó?

Vị tuyên úy Công Giáo, linh mục đại úy McDowell, của binh chủng Không Quân, đã thân mật đón và đưa tôi đi một vòng quanh căn cứ. Anderson cũng từng là trại chuyển tiếp cho những đồng bào được di tản bằng phi cơ trong những ngày đầu của chiến dịch “Đời Sống Mới”, bắt đầu khoảng 21/4/75. Tất cả dân tị nạn đến từ Đông Dương (Indochina: Việt-Miên-Lào) đều được chuyển vào một trong bốn bốn trung tâm tị nạn ở lục địa Hoa Kỳ: Camp Pendleton, California; Fort Chafee, Arkansas; Căn cứ Không Quân Eglin, Florida; và Fort Indiantown Gap, Pennsylvania.

Hangar dành để chứa B-52 năm xưa đã được xây cất lại, vẫn bề thế, rộng lớn và đẹp hơn xưa. Sáng mùng 1 tháng 5, 1975, tôi đã ngồi trong hangar đó, một thanh niên đã không còn nhà, đã ly biệt gia đình và không còn có thể trở lại quê hương. Trong cái túi xách nhỏ, chỉ thêm một bộ quần áo, vài quyển sách, và thực sự không có một xu dính túi. Tương lai bất định, mịt mờ như chính nỗi khốn khó đã ập đến trên quê hương miền Nam Việt Nam yêu dấu của tôi và đang xa cách nghìn trùng. Tâm trạng của tôi lúc ấy quả đúng như lời cụ Nguyễn Du đã diễn tả:

“Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
Để xem con tạo xoay vần đến đâu.” (Kiều).

Nỗi trống không, bất ổn, hụt hẫng như lúc phi cơ vừa cất cánh là đã nhìn thấy vách đá thật sâu bên dưới vì phi trường được xây trên đỉnh vách đá này.
Cũng như hàng trăm ngàn người dân Việt đến Mỹ vào thuở ban sơ đó, tôi đã phải bắt đầu lại cuộc sống trên miền đất mới với những bước đi thật nhỏ bé, thật khiêm nhường. Hoa Kỳ quả là một cường quốc với nhiều cơ hội, “giấc mơ Hoa Kỳ” vẫn luôn tồn tại, chỉ cần có ý chí và một chút may mắn là người ta đã có thể thành công. Nhưng cần nhất vẫn luôn phải có một tấm lòng, tình nhân ái không thể thiếu trong mọi cảnh vực của cuộc đời, có như thế những thành công kia mới mong tồn tại lâu dài.

Tôi hỏi tuyên úy McDowell: “Có đường xuống đến bờ biển không?” “Có, để tôi đưa cha xuống bãi biển.” Phải đứng tận mé nước nhìn lên mới thấy cái thăm thẳm, cheo leo của vách núi. Phi đạo nằm ngay trên đỉnh vách, thảo nào tôi đã cảm thấy rờn rợn khi phi cơ vừa cất cánh đã bay qua chốn này.
Kết thúc chuyến công tác, tôi đã phải thức dậy từ nửa đêm để chuẩn bị cho chuyến bay sớm, trở lại đất liền, gần tám tiếng mới tới Hawaii và thêm năm tiếng nữa mới vào đến California. Từ trên đỉnh núi nơi có cư xá Nimitz Hill, tôi lái xe theo con đường quanh co để xuống bãi biển Asan dọc theo lối ra phi trường, vầng trăng hạ tuần vằng vặc dãi chiếu trên những đồi nương thiếu ánh đèn đường.

Tôi chợt nhớ tới danh sách những sĩ quan gốc Việt sẽ ra hội đồng thăng cấp năm nay (2002.) Chỉ trong binh chủng Hải Quân và ở hai cấp khá cao là thiếu tá và trung tá đã có đến trên 20 người; riêng trong cục Quân Y, 11 bác sĩ và nha sĩ đang ra hội đồng để lên thiếu tá. Nhưng đấy là những sĩ quan hành chánh (Staff Officers), hiếm khi được lên đến hàng đề đốc (tướng) và không được chỉ huy chiến hạm hay phi đoàn. Tôi lại tò mò xem qua danh sách các sĩ quan tác chiến (Line Officers) ở hai cấp nói trên, ngạc nhiên đến thích thú, tôi đếm được 13 sĩ quan trong các ngành tác chiến của Hải Quân đang ra hội đồng thăng cấp. Ai sẽ là người đầu tiên lên chức đề đốc? Lên hàng tướng lãnh? Căn cứ vào thâm niên quân vụ của những sĩ quan trẻ này, chỉ khoảng hơn 10 năm nữa người ta sẽ có câu trả lời. “Tiềm năng của dân Việt ở hải ngoại quả thật khôn lường,” tôi nghĩ và mỉm cười, một niềm tự hào sảng khoái chợt dậy, ý tưởng sẽ về hưu khi tròn 20 năm tuổi lính, nhẹ nhàng đến với tôi như sự tự nhiên của vũ trụ tuần hoàn.

Chỉ thiếu một điều, một ước mơ, một đòi hỏi là được nhìn thấy Việt Nam trở thành quốc gia thật sự có tự do, dân chủ và phú cường. Những điều đó, cho đến nay, dường như vẫn còn ở ngoài tầm tay của cả dân tộc.

Ánh trăng suông vẫn theo tôi đến tận bên ngoài khung cửa sổ phi cơ. Hai câu Đường thi của Lý Bạch lại như văng vẳng bên tai:

“Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.”
(Ngửng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ quê hương.)
(“Tĩnh Dạ Tứ” của Lý Bạch)

***

Ghi chú: Lời tiên đoán của tôi đã thành sự thật ngày 6 tháng 8, 2014, khi Đại Tá Lương Xuân Việt (hình 1) đã trở thành vị chuẩn tướng (một sao) gốc Việt đầu tiên ở Hoa Kỳ. Ông thuộc thế hệ thứ hai của dân Việt tị nạn, những người còn quá trẻ khi họ đến Mỹ hay đã sinh ra trên đất nước này. Hiện Chuẩn Tướng Việt đang giữ chức Phó Tư Lệnh, đặc trách hành quân, của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh, đang trấn đóng ở Fort Hood, Texas. Trong thời chiến tranh Việt Nam, sư đoàn này được mệnh danh là “Sư Đoàn Không Vận Kỵ Binh số 1” 1st Cavalry Division (Airmobile) chuyên dùng trực thăng để hành quân, hay vắn tắt là Air Assault Division.

Tôi cũng nên nhắc đến vài vị sĩ quan cao cấp khác được biết đến khá nhiều như Hải Quân Đại Tá Lê Bá Hùng và Duyên Phòng (Coast Guard) Đại Tá Nguyễn M. Hùng.

Hình 2: Một số sĩ quan trẻ gốc Việt, thuộc Hải, Lục, Không Quân của quân đội Hoa Kỳ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s