Đại tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Chương Trình Việt Nam Hóa của Tổng Thống Nixon

Vương Hồng Anh

Như đã trình bày, ngay sau khi nhậm chức nguyên thủ Hoa Kỳ, Tổng thống Nixon đã lập tức đảo ngược phương sách can thiệp của vị Tổng thống tiền nhiệm Johnson bằng kế hoạch Việt Nam hóa. Thay vì phải trực tiếp đối đầu với Cộng quân, Tổng thống Nixon chủ trương thương thuyết và chiến lược mưu tìm hòa bình của ông được đặt trên “ba cây cột: thiện chí, sức mạnh và tình tương nhiệm”. Đó là cách Tổng thống Nixon thường nói. Một điểm khác biệt chính yếu duy nhất giữa Tổng thống Nixon và chính sách Hoa Kỳ tại VN từ năm 1954 cho đến trước khi Tổng thống cầm quyền vào tháng 1/1969 dó là ở điểm Tổng thống Nixon “muốn phía tương nhiệm gánh vác việc phòng thủ”.

http://media.gettyimages.com/photos/general-cao-van-vien-of-south-vietnam-picture-id517263886

Theo kế hoạch Việt Nam Hóa của Tổng thống Nixon, trong các năm 1969, 1970, 1971, 1972, Lực lượng Hoa Kỳ lần lượt rút khỏi Việt Nam. Các đơn vị Hoa Kỳ còn lại tiếp tục phối hợp nhịp nhàng với các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa. Sự kết hợp giữa bộ Chỉ huy Yểm trợ Quân sự Hoa Kỳ tại VN (gọi tắt là USMACV) cùng bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH diễn ra tốt đẹp.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27-1-1973 và có hiệu lực vào 8 giờ sáng ngày 28-1-1973, mức quân viện của Hoa Kỳ bị giảm lần. Suốt trong những tháng đầu năm 1973, bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH và Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (gọi tắt là DAO) đưa ra đề nghị số tiền quân viện là 1,600 triệu Mỹ kim. Tổng thống Nixon chuyển sang Quốc hội đề nghị này nhưng với con số sửa đổi là 1,474 triệu Mỹ kim, nhưng Tổng thống Nixon xin thêm 1 khoản 474 triệu đô phụ cho tài khóa 1974 để trang trải các khoản kinh phí về hành quân mở rộng và thay thế các quân cụ bị hư hỏng cùng với 266 triệu Mỹ kim khác để đắp vào khoản thâm hụt do tài khóa năm trước còn thiếu.

Tháng Tư năm 1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử Đại tướng Cao Văn Viên với tư cách Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu sang Hoa Kỳ để vận động sự ủng hộ đề nghị viện trợ vừa nói. Tại Ngũ Giác Đài, Đại tướng Viên trình bày về tình hình quân sự tại VNCH với đầy đủ bằng chứng và hình ảnh về sự vi phạm hiệp định của địch cũng như cuộc chuyển quân và chiến cụ ồ ạt của CSBV vào miền Nam. Các viên chức của bộ Quốc phòng Mỹ bày tỏ một lòng hậu thuẫn Đại tướng Viên hết mình nhưng chẳng may Quốc hội Hoa Kỳ lại bác bỏ yêu cầu viện trợ phụ trội mà chỉ cho phép tối đa cho năm 1975 là 1 tỉ Mỹ kim và trong đó 700 triệu Mỹ kim sẽ bao gồm mọi phí khoản. Trong số này thì tiền chi tiêu cho hoạt động của cơ quan DAO chiếm hết 46 triệu đô. Con số này làm cho quân và dân VNCH sững sờ. Dĩ nhiên ai cũng nhìn thấy một khoảng cách giữa nhu cầu và số cung rộng lớn như thế nào. Sự cắt giảm quân viện của Hoa Kỳ đã ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị VNCH, nhất là Không quân và Hải quân. Sau đây là tình hình hoạt động của Không quân VNCH trong giai đoạn cuối của kế hoạch “Việt Nam hóa” do Tổng thống Nixon đề ra. Phần này được biên soạn dựa theo Hồi ký của Đại tướng Cao Văn Viên do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ xuất bản.

* Những khó khăn của Không quân VNCH từ 1973 đến 1975

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/af/F-5As_VNAF_from_Iran_1973.jpg

-Ngưng hoạt động hơn 200 phi cơ, trong đó có các phi cơ ném bom A-1, phi cơ thám thính 0-1 và các loại phi cơ vận tải loại C-7, C-119, và C-47. Chấm dứt việc thay thế F 5A bằng F-5E. 36 chiếc được đặt mua nay phải giao lại cho Không quân Hoa Kỳ, và số tiền hoàn trả chỉ dùng vào công việc bảo trì và hoạt động của các phi cơ hiện hữu.

-400 sinh viên sĩ quan phi công đang thụ huấn tại Hoa Kỳ phải bỏ ngang khóa học trở về nước. Hơn 1,000 khóa sinh Không quân vừa phi hành vừa không phi hành đang theo học đang theo học các khóa Anh ngữ để chuẩn bị đi học chuyên môn phải chuyển sang học Bộ binh tác chiến. Điều này tạo một ảnh hưởng tâm lý tai hại cho Không quân Việt Nam.

– Cắt bớt số giờ bay cho các phi vụ huấn luyện và yểm trợ mà trong đó các phi vụ yểm trợ bị cắt xuống còn một nửa so với mức độ của hai năm 1973-1974, các phi vụ thám thính bị cắt 58% Như vậy vấn đề phát giác và theo dõi các cuộc chuyển quân của địch bị trở ngại và công tác bảo vệ đoàn tiếp tế cũng bị hạn chế rất nhiều. Trực thăng vận bị cắt giảm 70%. Điều này làm ảnh hưởng nặng nề trong công tác tải thương hay đổ quân tăng cường và tiếp tế, nhất là trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống kênh đào chằng chịt như bái quái trận đồ. Nơi đây nhờ chiến thuật trực thăng vận mà rất nhiều binh sĩ bị thương được kịp thời cứu sống và nhiều đồn bị vây hãm được giải tỏa kịp thời. Nay thiếu vắng các trực thăng này buộc Quân đội phải dùng đến thuyền tam bản và ghe để tải thương, việc tiếp tế đạn dược trở nên vô cùng khó khăn. Thêm vào đó, vấn đề tâm lý rất khó nguôi.

Các chuyến chuyên chở bằng đường hàng không cũng bị cắt một nửa. Sự kiện này có ảnh hưởng nặng đến khả năng di quân của các đơn vị Tổng trừ bị. Vì Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến là hai lực lượng tổng trừ bị nên cần phải có mặt tại bất cứ nơi nào cần đến trên toàn lãnh thổ, do đó khả năng cơ động của hai lực lượng này vô cùng quan trọng. Suốt trong năm 1972, khi Cộng quân tấn công, Sư đoàn Nhảy Dù phải di chuyển từ Sài Gòn lên Pleiku rồi từ Pleiku ra Vùng 1 chỉ trong vòng 48 giờ. Việc di chuyển này vẫn do phi cơ của chính phủ hay của Hoa Kỳ nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến các hoạt động không vận khác. Thế nhưng qua năm 1975 cũng với hoạt động như vậy thì phải mất 7 ngày và phải cắt bớt các chuyến bay khác để lấy phi cơ chuyển quân. Các loại phi cơ C-130A là phương tiện không vận chính, đã phải thi hành một số phi vụ ném bom vào các tháng đầu năm 1975. Nhưng vì yếu tố kỹ thuật cũng như cánh phi cơ nứt, bình xăng rỉ cộng với sự cắt giảm các chuyến bay nên mỗi ngày chỉ có 8 trong 32 chiếc C-130 A được sử dụng.

Suốt trong vài tháng cuối của cuộc chiến, vì lâm vào tình trạng khó khăn, nên bộ Tổng Tham Mưu đã dùng phi cơ C-130 A vận tải để thi hành các phi vụ yểm trợ chiến thuật, tăng cường hỏa lực và để giảm thiểu thiệt hại về số phản lực cơ chiến thuật gây ra bởi hỏa lực phòng không hùng hậu của địch. Mỗi chiếc C-130 mang theo 8 bành thùng đựng JP-4 chứa đầy dầu phế thải. Phi cơ bay trên cao độ từ 15 đến 20 ngàn feet. Mỗi lần phi cơ bay qua và bom nổ, binh sĩ dưới đất lấy làm vui mừng. Được hướng dẫn bằng vô tuyến từ dưới đất lên nên rất chính xác nên mỗi đợt thả chỉ cách nhau từ 150 đến 450 mét.

Mỗi phi cơ C-130 có thể chở 8 bành bom loại thùng GP 81-82 (tương đương với 250-500 cân Anh) hay ba bành loại GP-117 tương đương với 750 cân Anh. Binh sĩ đặt tên cho các phi vụ này là tiểu B 52, hay B 52 Việt Nam. Lần đầu tiên khi loại bom này được thả tại Tây Ninh, dân chúng tưởng B 52 của Mỹ. Vậy là tin đồn rằng Không quân Hoa Kỳ can thiệp được loan đi rất nhanh.

Gần đến cuối cuộc chiến, địch tập trung quân với một số lượng lớn và các căn cứ của địch để hơ hớ giữa ban ngày, thật là những mục tiêu ngon lành cho phi cơ. Kết quả trong các lần viếng thăm của ông Eric Von Marbol, phụ tá bộ trưởng Quốc phòng vào cuối tháng 2/1975 và tướng Weyand, tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, bộ Tổng tham mưu đã làm một yêu cầu đặc biệt xin cung cấp vũ khí nào mà Không quân Việt Nam có thể sử dụng được. Đó là loại bom 15 ngàn cân Anh có tên là bom bạch cúc mà Không quân Hoa Kỳ thường dùng thả bằng phi cơ C-130 để làm bãi đáp trong các khu vực rừng già. 27 quả bom thuộc loại này được dự trù đưa đến Việt Nam cùng với chuyên viên Hoa Kỳ trong vòng một tuần. Vào giữa tháng 4, ba trái đến trước và tiếp theo sau đó ba chiếc nữa đến chỉ hai ngày trước khi kết thúc cuộc chiến. Một chuyên viên Mỹ đi theo chuyến này để hướng dẫn các chuyên viên Việt Nam cách gắn ngòi nổ và cách gắn bom lên phi cơ. Thế nhưng viên phi công Hoa Kỳ lái máy bay này không đến kịp. Trước tình thế khẩn cấp và vì mức độ nguy hiểm nếu tồn trữ loại bom này tại Tân Sơn Nhất hay tại Long Bình nên bộ Tổng Tham mưu và bộ Tư lệnh Không quân đành phải chọn một phi công kinh nghiệm để bay thả thử trái đầu tiên.

https://i2.wp.com/www.hyperscale.com/2010/galleries/p7hg_img_99/fullsize/vnafC130RM_fs.jpg

Theo dự trù, chuyến bay khởi hành vào giữa khuya. Chiếc C-130 được gắn bom cắt bạch cúc cất cánh nhưng sau đó bay trở về sau 20 phút. Mọi người nín tbở, bám tay vào thành ghế hồi hộp nhìn phi cơ hạ cánh. Rất may phi cơ đáp xuống an toàn, chỉ vì một sơ sót kỹ thuật nhỏ cần sửa chữa. Nửa giờ sau, phi cơ cất cánh lần thứ hai. Đến 1 giờ sáng, trái bom đại đầu tiên được thả ngay xuống trên đất địch cách thị trấn Xuân Lộc khoảng 6 cây số về hướng Đông Bắc. Toàn thị trấn này rung chuyển như một trận động đất lớn: đèn phụt tắt, làn sóng vô tuyến của địch tức khắc im tiếng. Bộ tư lệnh Sư đoàn 341 CSBV bị dội bom và bị xóa tên hoàn toàn.

Trong năm 1972, các hậu cứ có những loại C-141 và C-130 của Không quân Hoa Kỳ giúp chuyên chở quân dụng vũ khí bất kể ngày đêm nên việc tái thành lập các đơn vị VNCH rất dể dàng và nhanh chóng. Vào lúc đó, hầu như không thiếu thứ gì, từ tiền bạc cho đến quân trang quân dụng. Quân đội VNCH không lo đến chuyện thiếu hụt mà chỉ lo làm sao hoạt động cho ứng hợp với mức độ vũ khí và quân cụ được cung cấp. Tình hình lúc này thì ngược lại, thay cho B-52, quân đội được cung cấp loại bom 15 ngàn cân Anh nhưng các thứ khác đều phải tự chế. Ghi nhận chung là từ 1973 đến 1975, Không quân VNCH đã chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn.

https://vietbao.com/a76848/dai-tuong-cao-van-vien-ke-lai-chien-su-1975-chuong-trinh-viet-nam-hoa-cua-tong-thong-nixon

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s