Phong cách anh hùng

Nguyễn Đông Thành
https://zenglexi.files.wordpress.com/2012/03/vtbmthuat-75.jpg?w=668&h=442
Dù rằng có nhiệm vụ không thể thiếu sót là làm theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Khóa 8 Đà Lạt, Tư Lệnh Quân Đoàn II-Quân Khu 2, vẫn không chối được trách nhiệm về việc bỏ mất miền Tây Nguyên và do thế tạo ra điều kiện thuận lợi cho Cộng Quân tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa một cách mau chóng và dễ dàng hơn cả dự liệu lạc quan nhất của những người hoạch định chiến lược Bắc Việt. Đó là nhận định nhất trí của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài, trong những năm đầu hạ bán thập niên 1970. Nhận định như thế quả là rất thuận lý vào hồi đó, tức là trong khi người ta chỉ biết rất mù mờ về phần đóng góp của Tướng Phú vào cuộc rút quân khỏi vùng Tây Nguyên, một cuộc hành binh đã được ghi nhận là thiếu kế hoạch, thiếu chuẩn bị và thiếu chỉ huy.Nhưng rồi thì từng phần sự thật dần dần được phơi bày. Người ta chưa biết thật đầy đủ, thật chính xác, nhưng cũng đã biết rõ được vài ba sự việc có thể chứng minh rằng Tướng Phú trên thực tế không có trách nhiệm gì hết trong cuộc rút quân khởi sự ngày 13-3-1975. Cuộc rút quân ấy do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định với tư cách và quyền hạn của vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH. Tổng Thống Thiệu đã đích thân ra Nha Trang gặp Tướng Phú, mang theo Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, để đích thân truyền đạt lệnh rút quân.

Với tư cách là tư lệnh một Quân Đoàn trong QLVNCH, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú dĩ nhiên không được phép chống lại mệnh lệnh của vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội. Nhưng Tướng Phú cũng không tuân hành: hoặc là vì chính ông từ khước; hoặc vì Tổng Thống Thiệu, Đại Tướng Viên ngại rằng Tướng Phú sẽ không ngoan ngoãn vâng lời. Người đứng ra thi hành lệnh rút quân khỏi vùng Tây Nguyên là một Đại Tá mới được thăng cấp Chuẩn Tướng, Đại Tá BĐQ Phạm Duy Tất, để lãnh chức Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, và tướng Tư Lệnh được đặt trong tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe từ ngày 14-3-75 đến ngày bị Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Phòng mới nhậm chức, bắt giam vì tội bỏ mất vùng Tây Nguyên.

Như vậy khi cuộc rút quân khỏi miền Tây Nguyên được thực hiện theo lệnh thượng cấp, Tướng Phú trên thực tế chẳng còn là Tư Lệnh Quân Đoàn II-Quân Khu 2, nên không có trách nhiệm về cuộc hành binh tự sát mà ông tuyệt đối không tham dự vào bất cứ một giai đoạn nào từ quyết định, thiết kế, đến việc chuẩn bị và thực hiện. Tuy nhiên dù không dự phần trách nhiệm trong việc bỏ mất vào tay địch một phần lãnh thổ Quốc Gia, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú vẫn khẳng khái tự xử khi thấy rõ là đại cuộc đã không còn cách nào cứu vãn nữa vì Đại Tướng Dương Văn Minh đã dùng quyền Tổng Tư Lệnh mà bắt toàn quân phải buông súng, nộp mình cho Cộng Sản.

https://i1.wp.com/vnafmamn.com/BlackApril/Back_April1.jpg

Người anh hùng thất bại Phạm Văn Phú tự sát chẳng phải là vì sợ Cộng Sản bắt được và hành hạ trả thù. Nếu muốn, Tướng Phú cũng có đủ khả năng để đào thoát ra nước ngoài một cách ung dung như một số đông các vị cựu tướng lãnh khác, chứ không đến nỗi phải chịu nhục trong Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ như một số người khác, hay phải đạp lên đầu đồng bào mà tranh lấy một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng đáp trên một mái nhà như ông Tổng Trưởng Quốc Phòng, kẻ mới tuần trước còn tống giam ông vì tội “không dám hy sinh chiến đấu và bỏ chạy trước quân địch!”

Việc Tướng Phú đến cơ quan DAO gặp Tướng Smith để chỉ xin độc một chỗ trong một chuyến bay di tản cho một người con ông, tác giả cuốn sách “Decent Interval” không khen các tướng lãnh khác là thức thời và cũng không chê Tướng Phú là gàn dở. Ông chỉ viết thêm một câu ngắn, đại ý là Tướng Phú tự sát ngay sau khi Cộng Sản tràn vào Sài Gòn và thở hơi cuối cùng ở Bệnh Viện Grall. Nhưng một tấm hình in trong tập ảnh kẹp giữa cuốn sách “Decent Interval” lại nói hộ ông Frank Snepp những điều ông không cần viết ra mà vẫn nói lên được về tiết tháo và tinh thần trách nhiệm của một tướng lãnh đã quyết tâm tự sát để được chết với lương tâm thanh thản chứ không đành chạy thoát thân khi đất nước lâm nguy. Đó là bức ảnh kỷ niệm mà Tướng Smith lúc đó phụ trách về việc xếp hạng ưu tiên cho những người được coi là có liên hệ với Hoa Kỳ cùng với việc ấn định giờ giấc của các phi vụ di tản. Ông ta bận đến mức không có thì giờ đi ăn, nên sự kiện Tướng Smith bỏ ra vài chục phút để tiếp chuyện và chụp ảnh lưu niệm với Tướng Phú, chứng tỏ hai người có sự tương kính lắm. Nếu cũng tham sống sợ chết, Tướng Phú có thể xin người bạn thân của mình dành nhiều chỗ cho gia đình ông ung dung ra đi.

Nhưng người anh hùng thất bại Phạm Văn Phú còn đủ liêm sỉ để không đành cúi mặt sống hèn; ông chỉ hỏi xin Tướng Smith một chỗ duy nhất cho cậu con trai của ông, ý hẳn là để giữ cho họ Phạm còn có người nối dõi. Hành động tự giết mình để chết theo Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử đã được quyết định từ lúc ông đến gặp Tướng Smith để ký thác đứa con côi, chứ không phải là một việc liều lĩnh chỉ được nghĩ tới khi chiến xa Cộng Sản đang hùng hục tiến về phía Dinh Độc Lập.

Trước Frank Snepp hơn 20 năm, hai tác giả người Pháp cũng có dịp tán thưởng phong cách anh hùng của một sĩ quan nhảy dù tên Phạm Văn Phú, một nhân vật mà lẽ ra họ không lưu ý tới, vì đã chỉ mới được đề bạt giữ một chức vụ khiêm nhường là Tiểu Đoàn Phó lại là sĩ quan người bản xứ của một quân đội mới thành hình. Một trong hai tác giả đó là Đại Tá Pierre Langlais, một sĩ quan Pháp đã tự thú là có thành kiến xấu với quân nhân Việt Nam.

Cho đến ngày Trung Úy Phạm Văn Phú theo đơn vị, TĐ5ND, nhảy xuống tiếp viện lực lượng G.O.N.O. trong vùng lòng chảo Điện Biên Phủ, Trung Tá Langlais còn giữ nguyên vẹn cái thành kiến xấu xa của ông ta. Langlais lại có ấn tượng xấu đặc biệt về TĐ5ND, đơn vị mà chính ông ta đã đề nghị trả về Lực Lượng Tổng Trừ Bị hồi cuối năm trước. Langlais có chép lại đầu đuôi vụ ấy trong quyển “Điện Biên Phủ” do nhà xuất bản France-Empire phát hành năm 1963. Cũng trong tập ký sự đó, Langlais còn nhìn nhận rằng ông đánh giá lính Việt Nam thấp. Nhưng cũng trong tập ký sự Điện Biên Phủ về sau, Langlais lại dành hơn 10 đoạn để nói về TĐ5ND, đặc biệt về viên sĩ quan cấp úy tên Phạm Văn Phú, người đã chỉ huy giỏi giang và chiến đấu dũng liệt đến mức làm cho Langlais phải từ bỏ các thành kiến sai lầm của mình về tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Việt Nam trên trận tuyến chống Cộng. Đại Tá Langlais viết đến người về sau trở thành vị Tư Lệnh cuối cùng của Quân Đoàn II-Quân Khu 2 của Việt Nam Cọng Hòa:

“Ngày 2-3-1954, khi tình hình Điện Biên Phủ đã nguy ngập tới mức René Pleven, Bộ Trưởng Bộ Quân Lực Pháp, vừa từ Điện Biên Phủ trở về, đã phải ra trước Hội Đồng Liên Bộ, để đề nghị một loạt biện pháp cấp cứu. Tướng Navarre ra lệnh thành lập Liên Đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam, Tiểu Đoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù, và TĐ6ND mà Thiếu Tá Begeard, Tiểu Đoàn Trưởng, là một đơn vị trưởng nổi tiếng từ những năm kháng chiến ở vùng Đức chiếm đóng. TĐ5ND nhảy xuống Điện Biên Phủ trước tiên, vào buổi chiều ngày 24-3-1954. Nhảy ở độ thấp, dưới mưa đạn súng cối và đại bác 105 ly. Địch bắn dữ dội đến mức phải thay đổi bãi nhảy mấy lần.

Trung Tá Langlais là Tư Lệnh Phó Lực Lượng G.O.N.O. nhưng nắm toàn quyền trên thực tế, vì Đại Tá De Castries chỉ làm một việc độc nhất là ký và chuyển đi những gì được Langlais đưa cho. Langlais vốn có thành kiến với các quân nhân người Việt, nhất là với TĐ5ND nên ông đã dự tính là xé lẽ ra để bổ sung chỗ này chỗ nọ, chứ không xử dụng nguyên cả tiểu đoàn như một lực lượng xung kích.

Ngay mấy giờ sau khi nhảy xuống, một đại đội của TĐ5ND đã bị biệt phái cho một đơn vị Lê Dương để tiếp cứu lực lượng trấn giữ ở cứ điểm Gabrielle; cuộc hành quân không đạt được kết quả nên Langlais càng nghi ngờ khả năng và tinh thần chiến đấu của lực lượng vừa gởi tới tăng viện. Nhưng Langlais đã bắt đầu nhìn TĐ5ND với con mắt khác hẳn ngay vài hôm sau. Cùng với TĐ6ND của Thiếu Tá Begeard, TĐ5ND được giao cho trấn giữ đồi Eliane 4 ở phòng tuyến thứ 2, nhiệm vụ vừa nặng nề vừa nguy hiểm, là tự chôn mình dưới hỏa lực địch. Cả hai tiểu đoàn đóng gần đỉnh đồi, TĐ6ND giữ mặt Tây, TĐ5ND giữ hai mặt Đông và Nam. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn có thể bị bắn trực xạ bất kể ngày đêm bởi các xạ thủ địch rình rập thường trực ở phía đối diện. Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng tình nguyện trấn giữ vị trí nguy hiểm đó, chiến sĩ tiểu đoàn đào đắp xong công sự và địa đạo giao thông hào trong thời gian kỷ lục; Langlais bắt đầu nghĩ khác về khả năng và tinh thần phục vụ của những quân nhân Việt Nam, đang ép lòng chấp nhận quyền chỉ huy của người Pháp trong giai đoạn chuyển tiếp.

Hồi ấy, Trung Úy Phạm Văn Phú là sĩ quan người Việt Nam độc nhất nắm đại đội trong TĐ5ND và cũng là đại đội trưởng độc nhất mang cấp bậc Trung Úy. Hai đại đội trưởng khác là Đại Úy Armandi và Rouault. Ngày 24-3-54, TĐ5ND được tăng phái thêm Đại Úy Alian Bizard, sĩ quan Tùy Viên của một tướng ở Sài Gòn xung phong ra mặt trận. Do ở thâm niên cấp bậc, ông được cử làm Tiểu Đoàn Phó chịu trách nhiệm trấn giữ hai cứ điểm H6 và H7. Đại Úy Bizard mang theo mấy trung đội lấy từ Đại Đội 1 và 4; trong khi ấy Đại Đội 3 được biệt phái cho cứ điểm Dominique, Eliane và Isabelle. Lính Bắc Phi ở Dominique 1 bị tràn ngập, Đại Đội 3 của TĐ5ND tăng phái chỉ còn 10 người chạy về tới tiểu đoàn bộ.

Tình hình hồi ấy tuyệt vọng đến mức Navarre và Cogny chỉ còn độc một việc là đổ lỗi lên đầu nhau. Langlais luôn miệng réo hết Bruno (ám hiệu của Begeard) đến Dédé (Botella) để động viên tinh thần họ giữ vững đồi Eliane 4 vì để mất cứ điểm ấy là đại bản doanh của De Castries cũng mất luôn. Tuy rằng phải chia xẻ với TĐ6ND của Begeard cái nhiệm vụ tử thủ đó, TĐ5ND, đã mất đi Đại Đội 3, chỉ còn sử dụng được non phân nửa quân số còn lại. Langlais giải nhiệm cho Bizard chức Tiểu Đoàn Phó hư hàm để ông ta mang Đại Đội 1 đi trấn giữ cứ điểm H6, trong khi Trung Úy Phú được tôn vinh bằng một trọng trách không tương xứng với một đại đội là trấn giữ điểm tựa Opéra vừa thiết lập để chận địch trong khoảng giữa các cứ điểm Hugette 1 và Épevier.

Trong thượng tuần tháng 4-1954, tình hình ngày càng tồi tệ hơn. Ngày 14-4-1954, Langlais báo cáo là chỉ còn 3,000 quân khiển dụng vì ông không thèm tính tới các phần tử đã mất hết tinh thần chiến đấu. Ở đoạn này trong sách Điện Biên Phủ, tác giả nhấn mạnh rằng lực lượng đóng cứ điểm Eliane 4 (TĐ6ND và TĐ5ND) vẫn giữ vững tinh thần, và họ nhất quyết sống chết với nhiệm vụ.

Hôm sau, Đại Tá De Castries được thăng Thiếu Tướng, hai Trung Tá Langlais và Ladande cũng được thăng một cấp, cũng như mười sĩ quan khác trong đó có Trung Úy Phạm Văn Phú.

Ngày 19-5-1954, Đại Úy Phú được thay thế bởi Đại Úy Bizard, ông này được lệnh rút khỏi cứ điểm H6 đêm hôm trước. Đại Đội 1 gồm 200 chỉ còn lại 80 người đứng vững để tới điểm tựa Opéra thay thế Đại Đội 2, rồi Đại Úy Phú được đề bạt lên chức Tiểu Đoàn Phó ngày 26/4.

Vào thời điểm ấy, tình hình ở Điện Biên Phủ rõ ràng là vô phương cứu chữa. Sau gần một tháng thí quân không tính đếm, 3 trung đoàn địch đã phá hủy được toàn bộ phi đạo; giải quyết xong 3 điểm tựa trong đó có điểm tựa Opéra mà Đại Úy Phú đã giao lại cho Đại Úy Bizard 5 ngày trước.

TĐ5ND chỉ còn ngót hơn 200 chiến sĩ vì ngoài Đại Đội 2 không toàn vẹn, Bộ Chỉ Huy chỉ sử dụng vài chục người còn sót lại của 3 đại đội đã tan vỡ. Quân số đã hao hụt quá nửa nhưng lại phụ trách nhiệm vụ nặng nề gấp bội là một mình trấn giữ tuyến đầu, án ngữ phía trước cho TĐ6ND (Tiểu Đoàn Trưởng mới là Thiếu Tá Béchignac) giữ liên lạc với Bộ Chỉ Huy Trung Ương. Để làm cái việc không thể làm nổi là ngăn chặn không cho địch quân đông gấp mấy chục lần vượt sông xâm nhập vào trung tâm, ngót 200 chiến sĩ TĐ5ND chỉ được tăng cường bằng mấy chục chiến sĩ còn lại của Tiểu Đoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù do Đại Úy Guillemint chỉ huy. Nhưng lực lượng tử thủ ấy vẫn làm tròn được nhiệm vụ cho tới sáng sớm ngày 7-5-54. Mấy giờ trước đó, hai đại đội lính Lê Dương gởi đến tiếp viện cho TĐ5ND, nhưng họ phải mất 3 giờ mới đến được Bộ Chỉ Huy của Thiếu Tá Botella, và chỉ còn không quá 20 chiến sĩ.

Đến hừng sáng, Đại Úy Phú mở cuộc phản kích với ngót 100 tàn quân của mấy đơn vị hợp lại, đánh cận chiến ở thế 1 chọi 20, nhưng cũng dành lại được hơn 100 thước địa đạo. Nhưng rồi thì mũi xung phá ấy bị bẻ gãy, nhiều chiến sĩ và 3 sĩ quan (Đại Úy Guillemint, Đại Úy Phú, Thiếu Úy Lafanne) lần lượt bị đạn địch quật ngã. Thiếu Úy Mackowak, sĩ quan độc nhất còn đứng vững cùng mấy chục chiến sĩ TĐ5ND tiếp tục tử chiến trong khúc địa đạo dưới sườn đồi phía Đông Nam. Địch chùn bước vì mức thương vong quá cao; nhưng mấy chục phút sau, trận đánh dứt điểm tiếp diễn, lần này địch quân sử dụng loại súng cối có nhiều nòng và bắn tự động hàng loạt đạn, loại vũ khí mới lần đầu tiên xử dụng trên chiến trường Việt Nam, và căn cứ chỉ huy của TĐ5ND thất thủ lúc 9 giờ sáng ngày 7-5-54.”

Trên đây là tóm lược các đoạn nói về TĐ5ND và về Đại Úy Phạm Văn Phú trong cuốn Điện Biên Phủ của Đại Tá Pierre Langlais, người thực sự chỉ huy lực lượng G.O.N.O. ở Điện Biên Phủ trong thời gian tiểu đoàn này tham chiến tại mặt trận đó. Đại Tá Langlais đã đích thân ra lệnh, đã chính mắt nhìn thấy, hay đã được báo cáo tường tận tại chỗ, nên chắc chắn là biết rất đúng sự thật. Viên đại tá Pháp đó, từng mang nặng thành kiến không tốt với các chiến hữu Việt Nam, nên chắc chắn không cố ý nói sai để ca tụng chiến sĩ Việt Nam trong TĐ5ND Việt Nam nói chung và viên Đại Úy anh hùng Phạm Văn Phú nói riêng. Vả chăng, tác giả tập hồi ký Điện Biên Phủ cũng chỉ thuật lại các sự việc, như tác giả quyển Decent Interval về sau, chứ không trực tiếp khen chê gì nhân vật Phạm Văn Phú.

Cũng như Đại Tá Pierre Langlais, người viết quyển “La Bataille de Dien Bien Phu” (xuất bản ở Paris cuối năm 1963) cũng là một sĩ quan cao cấp, cũng từng tham chiến ở mặt trận đó từ đầu đến cuối. Ông Jules, về sau được phép trở lại Bắc Việt thu thập tài liệu để kiện toàn pho sách của ông (gọi là pho vì dày đến 624 trang), bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận ở Điện Biên Phủ. Sự nghi ngờ đó không phải là vu vơ, quả thật tác giả “La Bataille de Dien Bien Phu” đã đưa ra khá nhiều hình ảnh và luận điệu có lợi cho phe địch. Tuy nhiên trong các đoạn rải rác trên mấy chục trang nói về diễn tiến mấy trận đánh từ sau ngày các cứ điểm Béatrice 1, 2 và 3 thất thủ (đêm 13/3/54), Jules Roy cũng ghi nhận tương tự như Pierre Langlais (khá chi tiết hơn vì viết dài hơn) về các chiến tích của TĐ5ND/VN và nhất là về phong cách anh hùng của Tiểu Đoàn Phó Phạm Văn Phú. Về trận đánh dứt điểm đêm mùng 6 rạng mùng 7/5/54 nhằm vào cứ điểm Eliane 4, Jules Roy bổ túc thêm các chi tiết dưới đây:

“Xế chiều ngày 6, địch pháo kích kịch liệt cứ điểm Eliane 4. Áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, đến 18 giờ 30, địch mới tấn kích, lực lượng Cộng Quân là Trung Đoàn 98. Bộ Chỉ Huy TĐ5ND chỉ còn xử dụng được không đầy 200 chiến sĩ đã mệt nhừ sau một tuần lễ chiến đấu, đạn dược đã gần cạn mà xin tiếp tế không được. Thiếu Tá Botella ra lệnh cho chiến sĩ kháng cự bằng súng cối và súng không giật, nhưng xạ thủ phải tiết kiệm từng viên đạn một, nên địch quân vẫn tiến được lại gần. Trong thế ưu thắng rõ rệt, Trung Đoàn 98 vẫn phải dè dặt tối đa; đây là lần đầu tiên họ xử dụng đường điện thoại vô tuyến nối liền các đại đội với chỉ huy sở Trung Đoàn.

Chiến sĩ TĐ5ND chiến đấu cực kỳ dũng liệt, đến 21 giờ, Đại Úy Phú chỉ còn 30 người để chỉ huy. Họ bắn đến nòng súng nóng bỏng và địch tràn vào như thác nhưng chẳng ai chùn lại. Họ tử chiến để giành giựt với địch từng đoạn địa đạo; lấy súng của người đã chết để bắn về phía những tên đội nón cối đan bằng nan tre. Một loạt đạn súng cối liên châu nã vào, đất bị cày tung lên và đổ ập xuống ông Tiểu Đoàn Phó vừa bị đốn ngã.

Trên đỉnh đồi vừa rạng sáng, trận cận chiến vẫn tiếp diễn trong ruột đồi Eliane 4. Quân địch tràn ngập khắp nơi, nhưng phép lạ là cứ điểm Eliane 4 vẫn còn cầm cự. Theo lệnh Đại Tá Langlais, Trung Tá Lemeunier, Tư Lệnh Bán Lữ Đoàn Lê Dương số 13, đi tiếp cứu Eliane 4, nhưng không kịp. Vì trong căn hầm chỉ huy đầy nhóc thương binh, Thiếu Tá Béchignac không đồng ý xin bắn vào đầu mình và hơn 10 người còn vững tay súng bị bắt làm tù binh lúc 9 giờ sáng.”

Tác giả “La Bataille de Dien Bien Phu” bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận ở Điện Biên Phủ. Tác giả hồi ký “Dien Bien Phu” xác nhận vốn có thành kiến xấu với các quân nhân người Việt Nam nói chung và TĐ5ND nói riêng. Nhưng cả hai tác giả đều không thể không ghi nhận phong cách anh hùng của nhân vật Phạm Văn Phú, hồi ấy còn là một sĩ quan cấp úy, tức là cấp nhỏ hơn họ nhiều. Một chiến sĩ có phong cách anh hùng như thế, từ thuở mới bắt đầu binh nghiệp, tất nhiên không thể chà đạp lên tiết tháo và tinh thần trách nhiệm của một tướng lãnh mà cúi mặt ở nước người khi quân tan, nước mất. Việc thất bại, anh hùng Phạm Văn Phú tự sát, để được chết với lương tâm thanh thản chỉ là việc tất nhiên phải có của một tướng lãnh.

nguồn:http://hoilatraloi.blogspot.com/2011/04/thieu-tuong-pham-van-phu-vi-anh-hung.html

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s