Danh tướng anh hùng VNCH Nguyễn Khoa Nam

TT Nguyen Khoa Nam .jpg
Tổng hợp và trình bày: Nguyễn Mạnh Trí – Trần Ðỗ Cẩm

Nếu chỉ nói về tướng tuẫn tiết Nguyễn Khoa Nam thì cuốn sách dày 326 trang, nhưng nếu kể cả phần viết về những tướng lãnh khác đã chọn cái chết cho trọn nghĩa với đất nước như tướng Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ và Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn thì tác phẩm Nguyễn Khoa Nam dầy đến 571 trang.

Một người có sức đọc nhanh, đọc một tối 100 trang cũng phải mất cả tuần lễ. Như thế cũng đủ hiểu, sự đóng góp của các tác giả nhiệt tình biết chừng nào và cựu Hải Quân Trung Tá Nguyễn Mạnh Trí và Trần Ðỗ Cẩm cũng đã phải bỏ khá nhiêu công phu để hệ thống hóa, sửa chữa và tổng hợp bài vở.

Người điểm cuốn sách này vốn là một phóng viên mặt trận trong thời gian chiến tranh Việt Nam, có mặt trong khá nhiều trận đánh đẫm máu giữa Chiến Ðoàn 3, rồi Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù của Ðại Tá Nguyễn Khoa Nam với Cộng quân. Trận đánh trên đỉnh Ngọc Văn 1416 ở Kontum 1967, tôi được giúp đỡ cơ hội để lội theo các cánh quân của Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù do Thiếu Tá Nguyễn Viết Cần chỉ huy thay thế Thiếu tá Trần Quốc Lịch công du ngoại quốc. Trong trận này, lần đầu tiên trong đời làm phóng viên mặt trận, tôi được tham dự cuộc tấn công vào ban đêm của các đơn vị Nhảy Dù, và tôi suýt đã bị “té” khi một viên AK-47 trúng vào chiếc ba lô đeo sau lưng. Viên đạn xuyên qua chiếc máy chữ Olivetti nhỏ (dùng để viết tin và bài vì thời đó chưa có computer) để ở trong cùng với khoảng một chục cuốn băng nhựa reel-to-reel dùng cho chiếc máy ghi âm UHER-2000L. May mắn, chiếc ba lô rách toang nhưng đầu đạn kẹt trong máy chữ, chỉ nhô ra khỏi lớp vải ba lô chạm nhẹ vào thanh thép chéo giữ cho chiếc ba lô ép sát vào lưng. Ấy vậy mà sức chạm của viên đạn cũng làm tôi ngã chúi xuống một bụi cây. Khi Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn lên được đỉnh núi, Trung Tá Nguyễn Khoa Nam đến bắt tay tôi khích lệ và hỏi thăm xem có vết thương không, đoạn ông thúc giục tôi làm phỏng vấn ghi âm cho lẹ để rời mặt trận trên chuyến trực thăng tải thương cuối cùng trước khi trời tối. Tôi từ chối lấy cớ là tôi không nên chiếm một chỗ nào của thương binh, dù tôi biết hảo ý của Trung Tá Nam muốn tôi ra khỏi mặt trận an toàn với những cuốn băng ghi âm đầy những tài liệu ghi âm tại chỗ để tôi có thể gởi đến hàng triệu thính giả của Ðài Phát Thanh Quốc Gia về trận đánh lừng danh này (trận đánh khiến cho có đến 1,600 Cộng quân thiệt mạng chung quanh vùng núi rừng trùng điệp này). Mà quả thật chuyến trực thăng tản thương chiều hôm đó có quá nhiều thương binh, nên ông Chiến Ðoàn Trưởng đành chịu.Tôi chọn một vị trí tự đào hố cá nhân bên một gốc cây. Trải chiếc poncho, lấy trong túi ra một khẩu phần C-Ration, chọn mấy chiếc bánh bắp nuốt cho qua bữa với vài ngụm nước dự trữ trong chiếc bi-đông nhựa, loại lớn của TQLC Hoa Kỳ, rồi thiếp đi cho đến khi có những tiếng lưu đạn nổ ở phần sườn núi gần chỗ tôi ngủ. Bọn đặc công lợi dụng đêm tối mò lên ném lưu đạn vào những vị trí chúng nghi có có chốt đóng quân của ta. Lập tức hỏa châu được soi sáng và một cuộc chạm súng nhẹ kéo dài khoảng 5 phút. Nhảy dù có 2 người bị thương. Sáng hôm sau, ngay khi trời hừng sáng trực thăng đến tản thương, Trung Tá Nam đẩy tôi lên trực thăng ngay để về Kontum. Phóng viên Dương Phục theo cánh quân của Thiếu Tá Trần Kim Thạch cũng phải rời mặt trận theo lời yêu cầu của Trung Tá Nam cũng với lòng nhân hậu là tránh nguy hiểm cho Phục. Năm 1968, chúng tôi gặp ông ở Ái Tử, có hỏi lý do ông “đuổi” chúng tôi khỏi mặt trận sớm như thế, ông cười và nói: “Các cậu chưa phải là nhà binh. Ðể các cậu ở lại nhỡ ra các cậu té thì làm gì chúng tôi còn dịp nào để nghe các phóng sự của cậu và bà con hậu phương làm thế nào hiểu được những gì đã xảy ra ở cái đỉnh núi ấy?” Xong, ông thân mật: “Bữa nào rảnh về Saigon, tớ rủ cậu với Dương Phục đi nhảy mấy saut bồi dưỡng hả?” (từ ngữ bồi dưỡng không phải là tiếng Việt Cộng dùng mà dưới thời VNCH, Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù gọi những lần nhảy ngoài 7 lần nhảy (6 ban ngày và 1 nhảy đêm) để lấy bằng thì được gọi là nhảy bồi dưỡng, thường là từ 4 đến 8 sauts nhảy hàng năm). Lần hẹn nhảy bồi dưỡng ấy không bao giờ được thực hiện bởi vì chúng tôi đều bị đẩy vào những cơn lốc của chiến cuộc ở những vị thế khác nhau cho đến ngày mất Miền Nam.
https://s-media-cache-ak0.pinimg.com/564x/4f/56/96/4f56967ff686c527589bad17d386b961.jpg
Vâng, trong suốt 426 trang sách viết về Tướng Nguyễn Khoa Nam đầy ắp những kỷ niệm nhẹ nhàng và trong sáng về con người và nhân cách của ông. Những kỷ niệm ấy cho thấy, Tướng Nam lớn hơn những vì sao ông đeo trên cổ áo, vĩ đại hơn cả vùng lãnh thổ mà ông được trao để bình định, để chỉ huy. Ðến nỗi, cựu chuẩn tướng Trần Quốc Lịch nguyên tư lệnh Sư Ðoàn 5 BB mà trước đó từng là tiểu đoàn trưởng xuất sắc của Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của chiến đoàn trưởng rồi Lữ Ðoàn Trưởng Nguyễn Khoa Nam đã viết ở trang 214 như sau:

“…Trách Nhiệm và Danh Dự là hai gánh nặng luôn luôn đè nặng trên vai ông (tướng Nam). Quả thật ông là vị tướng tài đức khó ai bì kịp. Nhận định đó khiến tôi không ngạc nhiên khi được tin tướng Nam tuẫn tiết vào ngày mất nước. Ðiều đáng nói là xưa kia, một vị Tướng thường chỉ tuẫn tiết khi bị địch đánh mà không giữ được thành. Nhưng chúng ta ai cũng biết mất nước, mất thành không phải lỗi của tướng Nam mà là do các cấp lãnh đạo quốc gia và tình hình thế giới. Vậy mà tướng Nam cũng cũng như vài vị tướng khác (các tướng Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú-NÐ) vẫn tuẫn tiết bởi vì không thể sống để nhìn thấy đất nước bị rơi vào tay kẻ thù. Lòng trung dũng của ông quả là cao độ. Con người ông thật đáng cho chúng ta tôn thờ. Tên tuổi ông sẽ đi vào lịch sử.”

Tuẫn tiết thời nay thường là một phản ứng nhanh gọn bằng cây súng và quyết định chỉ kéo dài trong vòng vài phút. Nhưng hình ảnh tuẫn tiết của tướng Nguyễn Khoa Nam là hình ảnh ngược lại chỉ tìm thấy được trong cổ sử. Có nghĩa là ông lựa chọn cái kết thúc của thân làm tướng bằng sự chuẩn bị cho một thiên bi hùng ca về quân lực Việt Nam Cộng Hòa, một thiên bi hùng ca giống như những lát dao hằn sâu vào những trang vàng sử sách, vĩnh viễn không có quyền lực nào có thể xóa đi được. Trong suốt những năm dài trong các trại cải tạo của Cộng Sản sau ngày 30-4-1975, chúng tôi tôn thờ hình ảnh của những tướng lãnh đã chọn cái chết trong danh dự, dùng những hình ảnh ấy để giữ sự đoàn kết anh em tù cải tạo với nhau, giữ vững giềng mối có trên, có dưới cho dù có bị đẩy vào hoàn cảnh bi phẫn nhất. Chúng tôi nói về những cái chết này bằng những lời kể đầy chất huyền thoại về tướng Nguyễn Khoa Nam. Vì là huyền thoại cho nên vô tình chúng tôi đã biến tướng Nam thành một vị Thánh chứ không còn là người trần thế nữa. Chúng tôi đã vô tình cởi áo ông, lột lon ông khiến ông cũng không còn là hình ảnh của một “người lính” nữa. Bản thân chúng tôi vào những lúc ấy cần một người lính, cần một bậc đàn anh trọn vẹn tài đức, trọng danh dự và trách nhiệm hơn là cần một vị thánh.

Năm 1989 tôi được thả. Sau khi tìm ra được một công việc làm bằng chân tay, cần sức khỏe mà không cần đầu óc, tôi bắt đầu thăm hỏi người này, người kia về cái chết của Tướng Nguyễn Khoa Nam, nhưng mỗi người nói khác nhau. Những thắc mắc của tôi kéo dài cho đến khi đọc được hồi ký của cựu Trung úy Lê Ngọc Danh, nguyên tùy viên của Tướng Nguyễn Khoa Nam cho đến ngày 1-5-1975. Hồi ký này chiếm từ trang 376 cho đến trang 415 sách “Nguyễn Khoa Nam”, trong đó ông mô tả rất chi tiết từ lúc tướng Nam rời Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 BB để về làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật thay thế tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, thời gian làm việc và theo chân Tư Lệnh đi khắp vùng… cho đến những ngày hấp hối của chế độ, thời gian chứng kiến được sự chuẩn bị cho cái chết dũng liệt của “ông thầy”.

Không văn vẻ, nhưng rất chi tiết, tác giả Lê Ngọc Danh đã đắp được bức tượng hoàn chỉnh của người lính chiến mà anh em chúng tôi ngưỡng mộ. Một trong những chi tiết nhỏ, nhưng rất quan trọng mà tôi tin rằng độc giả sẽ chú ý, đó là tấm khăn trắng trải trên chiếc bàn ăn dài trong phòng ăn ở tư dinh của Tư Lệnh. Tác giả Lê Ngọc Danh viết ở trang 379:

“Tầng dưới (của tư dinh) khi bước vào cửa: bên trái là phòng thuyết trình cũng là nơi làm việc của tùy viên, phía trên vách tường có bản đồ của Vùng IV Chiến Thuật, bàn làm việc của tùy viên và một bộ sofa. Bên phải là phòng thờ Phật với bàn thờ Phật đặt giữa bức tường phía sau. Trên bàn thờ Phật có tượng Phật Thích Ca, phía bên phải bàn thờ Phật có một cái chuông nhỏ, giữa là lư hương điện cắm nhang được, bên trái là đĩa trái cây và hai cây đèn cầy bằng điện ở hai bên bàn thờ. Trước bàn thờ độ 2 thước có một bộ sofa (bộ sofa này là nơi Tư Lệnh ngồi trước khi tự sát). Bên phải phòng thờ Phật là phòng ăn của Tư Lệnh, phòng rất dài, trên 10 thước đặt một bàn ăn dài trải vải trắng (tấm vải trắng này đã đắp cho Tư Lệnh khi ông chết). Trong phòng ăn có hồ cá kiểng, máy TV và ít tranh ảnh trên tường…”

Lê Ngọc Danh còn nhấn mạnh ở trang 383 về một chi tiết cũng đáng chú ý khác:

“Trong thời gian từ Sư Ðoàn 7 Bộ Binh cho đến khi về làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, tôi thấy Tư Lệnh sống rất cô đơn, không thấy hay ít ai đến thăm., thỉnh thoảng lên họp ở Saigon về nhà ở số 403 đường Lê Ðại Hành, trước cửa trường đua Phú Thọ. Tư lệnh suốt ngày làm việc, ngoài những lúc đi thăm các đơn vị, thời gian rảnh rỗi tôi đều thấy ông có mặt ở trung tâm hành quân. Tư lệnh làm việc mỗi ngày đến sau 6 giờ chiều mới về tư dinh. Buổi trưa ông ăn cơm ở câu lạc bộ Cửu Long, tối về trung sĩ Hộ (quản gia) nấu ít món ăn đơn giản để Thiếu Tướng dùng và ông không bao giờ than phiền ngon, dở. Tư lệnh không uống rượu, có lần party ở Tiểu Ðoàn 7 Quân Y ở Ðồng Tâm, ông chỉ uống một chút champagne. Thỉnh thoảng Tư Lệnh nói chuyện với tôi. Có lần thấy Tư Lệnh vui vẻ nói chuyện, tôi đưa đề nghị với ông:

Cơm ở câu lạc bộ chắc không ngon miệng, vì thề em sẽ nói Trung sĩ Hộ lo cơm trưa để Tư Lệnh về ăn thay vì xuống câu lạc bộ.

Tư lệnh ôn tồn nói:

Thôi lính tráng ăn sao qua ăn vậy.

Ðối với thuộc cấp, Tư Lệnh ăn nói nhẹ nhàng, thường gọi thuộc cấp là em hay cấp bậc kèm theo tên, còn tư lệnh thì xưng “tôi” hay “qua”. Tư lệnh rất trân trọng và tiếp xúc ngay, gặp mặt hay bằng điện thoại với các đơn vị trưởng, nói chung là các quân nhân. Còn các bà quả phụ qua điện thoại xin gặp Tư Lệnh, ông từ chối và bảo cần việc gì có Thiếu tá Ðức Chánh Văn Phòng, tôi hay Trung úy Việt giải quyết… Còn các xì thẩu (những ông chủ người Hoa ở Cần Thơ nhiều lần xin gặp Tư Lệnh nhưng ông đều lấy lý do bận việc để không gặp họ…”

Hoặc ở trang 385:

“Mỗi buổi sáng, trước 7 giờ, trước khi Tư Lệnh đi làm việc, mặc quân phục xong, đến bàn thờ đốt nhang xá Phật, cắm hương vào lư nhang và gõ vài tiếng chuông. Chiều về, sau khi đến phòng thuyết trình xem tình hình tổng quat, tắm rửa, ăn tối, xem truyền hình ở phòng ăn, sau đó đến bàn phật đốt nhang như buổi sáng trước khi vào trailer ngủ. Tư Lệnh có thói quen mỗi buổi sáng trước khi đi làm việc, tôi đứng nghiêm chào, Tư Lệnh chỉ đưa tay cỡ tầm ngực đáp lại và mỉm cười, ngày này qua ngày khác không nói gì thêm”.

Có nhiều cách nhìn về cái dũng của một vị tướng và cách nhìn cũng thay đổi tùy theo từng giai đoạn, từng thời và từng dân tộc. Nhưng dân gian ở Miền Nam Việt Nam vào thời gian chiến tranh lan rộng vẫn ngưỡng mộ những quân nhân “tỉnh” và “tỏ được bản lãnh” trước mối hiểm nguy. Tác giả Lê Ngọc Danh cũng không thoát khỏi cái thông tục này. Ông kể ở trang 386:

“Có lần Tư lệnh đi thăm một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 12 đang đánh nhau với Việt Cộng ở Long Khốt sát biên giới giữa tiểu khu Kiến Tường và Kampuchia. Tư lệnh đáp trực thăng xuống thăm đơn vị trong khi Việt Cộng đang pháo bằng hỏa tiễn 122 ly cách đơn vị không xa. Vị tiểu đoàn trưởng thấy vậy đến gần tôi nói:

Danh cho trực thăng về phi trường Mọc Hóa đậu, chừng nào xong, goi đến rước Tư Lệnh, ở đây nguy hiểm quá, rủi 122 ly nổ trúng thì chết tao.

Vâng để tôi trình Tư Lệnh.

Tôi đến gần Tư Lệnh và nói:

Trình Thiếu Tướng, em cho trực thăng về phi trường Mộc Hóa, chừng nào xong em gọi lên rước.

Tướng Nguyễn Khoa Nam trầm ngâm không trả lời. Một lúc sau, vị tiểu đoàn trưởng lại thúc tiếp:

“Pháo nổ gần quá, nguy hiểm, Danh cho trực thằng về Mộc Hóa đi.

Một lần nữa tôi đến gần Tư Lệnh, nhỏ giọng nói:

Trình Thiếu tướng, em cho trực thăng về…

Nói chưa hết câu Tư Lệnh xoay qua hướng tôi, nghiêm nét mặt nói:

Lẩm cẩm hoài! Lẩm cẩm hoài!

Tôi cụt hứng, tiu nghỉu không dám nói gì thêm. Tư lệnh ở lại thăm đơn vị trực thuộc trong khi pháo nổ ngay bên cạnh hơn nửa giờ, Tư Lệnh mới cho trực thăng cất cảnh về Cần Thơ”.

Bây giờ đã vào trung tuần Tháng Tư. Mùa xuân ở Nam California đang rộ lên thật đẹp. Nhưng lòng người Việt tha hương vẫn vương buồn, có lẽ vì chưa ai có thể quên được tấn bi kịch của đất nước cách đây 32 năm. Lẫn trong những điệu buồn vẫn còn vang vọng, bức tượng Nguyễn Khoa Nam Tuẫn Tiết được tác giả Lê Ngọc Danh xây dựng bằng những gì ông đã chứng kiến giờ phút cuối cùng của người Thầy của mình. Lối hồi tưởng của ông chân thật, câu văn không mài giũa, tình cảm không che đậy sẽ khiến cho người đọc có thể yên tâm rằng đây là những nét chấm phá cuối cùng cho một tác phẩm điêu khắc bằng đá hình ảnh của một bậc anh hùng.

Từ trang 389 đến trang 391, tác giả Lê Ngọc Danh lược qua tình hình quân sự “không thể cứu vãn được nữa” của Miền Nam Việt Nam, những phản ứng vẫn tích cực cho việc điều động và phòng thủ của Tướng Nguyễn Khoa Nam cho đến khi có lệnh đầu hàng qua hiệu triệu của Tổng Thống Dương Văn Minh sáng 30-4-1975. Tác giả viết ở trang 392:

“…Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này nhiều lần Tư Lệnh Phó (tướng Lê Văn Hưng-NÐ) liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư Lệnh. Qua điện thoại, Ðại Tá tiểu khu trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp gấp Tư Lệnh, lần thứ hai Ðại Tá xin giật sấp cầu Long An để cắt đường Việt Cộng chuyển về vùng IV. Tư Lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập. Vào gần trưa tôi được báo cáo là Thiếu tá Chánh Văn Phòng rời văn phòng bỏ đi với Ðại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh cùng một số sĩ quan khác, lộ trình từ sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc của Tư Lệnh để báo cáo cho ông rõ. Căn hầm này là phòng làm việc thứ hai của của Tư Lệnh ngay dưới phòng làm việc chính thức, được xây dựng lúc vùng I và vùng II đang xảy ra những trận đánh lớn. Hầm này rộng và cao, thiết trí giống như phòng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phòng Tư Lệnh. Thấy tôi, theo lệ thường ông kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:

Có gì không?

Trình Thiếu Tướng, Thiếu tá Chánh Văn Phòng và Ðại tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh (tỉnh lỵ là Cần Thơ-NÐ) đi cùng với một số sĩ quan bằng tầu theo sông Hậu.

Tư lệnh không giận. Ông điềm nhiên hỏi:

Ði hả! Ði làm chi vậy?

Nói xong Tư Lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tĩnh như không có gì xảy ra…”

Thực tình mà nói, phải cố gắng lắm tôi mới có thể đọc hết những trang mô tả diễn biến tiếp theo vào giờ phút cuối cùng giữa Tướng Nguyễn Khoa Nam và người tùy viên trung thành của ông. Trang nào cũng làm mắt tôi cay xè. Văn phong của tác giả Lê Ngọc Danh là thể loại kể lể, đều đều… nhưng mỗi dòng của ông vẫn cứ khiến nước mắt tôi cứ trào ra. Có lẽ tôi cũng ở vào hoàn cảnh giống ông Danh và cũng là người cuối cùng rời bỏ Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, cơ quan tôi đã làm việc liên tục từ 1964 đến 11 giờ sáng 30-4-1975. Nhưng ông Danh may mắn hơn vì còn Tư Lệnh ở bên cạnh để mà nhận lệnh, còn hoàn cảnh tôi thì những người có trách nhiệm lãnh đạo ngành đã bỏ đi từ mấy ngày trước. Chúng ta, những cấp chỉ huy thừa hành, vào những giây phút lâm nguy ấy, ai cũng cần được chỉ huy. Thói thường, dù biết rằng tình hình khó có thể cứu vãn, nhưng nếu có những chỉ thị từ thượng cấp, mình vẫn thấy đỡ “lạnh cẳng” hơn.

Từ trang 393 đến trang 396, tác giả Lê Ngọc Danh dùng để hồi tưởng lại thái độ ung dung, trầm tĩnh của vị Tư Lệnh Quân Ðoàn IV trong việc ông chỉ định Ðại Tá Thiên lên thay thế vị Ðại Tá tỉnh trưởng Phong Dinh bỏ đi, việc ông ra lệnh gỡ bỏ những đường ranh giới và những mũi tên làm bằng băng keo trên bản đồ hành quân, việc ông ngồi đọc lại những tài liệu cần phải huy bỏ, việc ông còn bình thản xuống câu lạc bộ Cửu Long dùng cơm vào trưa 30-4 trước khi trở lại tiếp tục những chuẩn bị mà tác giả nghi là do ông đã có quyết định về cái chết trong danh dự của mình, việc ông tiếp những đại diện Việt Cộng đến nói chuyện tiếp quản, và nhất là chi tiết tác giả đề cập đến việc ông thăm thương bệnh binh tại bệnh viện quân và dân y Phan Thanh Giản Cần Thơ lần cuối cùng:

“Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi ông đi qua dãy kế bên và tiếp tục. Hơn một giờ nặng nề và buồn bã chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:

Vết thương của em đã lành chưa?

Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.

Với nét mặt buồn rầu, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Ông chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay ông mếu máo:

Thiếu tường đừng bỏ tụi em nghe Thiếu Tướng!

Qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em.

Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa tay sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư lệnh cố nén xúc động nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:

Em cố gắng điều trị… có qua ở đây…”

Vâng, có ông “ở đây” thật nhưng ở với phần hồn, với tinh thần bất khuất của một quân nhân trung liệt với đất nước. Còn phần xác thì chỉ là cát bụi. Thân làm tướng, ông chưa để mất thành nhưng các nhà lãnh đạo lại không giữ được nước. Ông không có lỗi gì, nhưng ông đã tự xử để nêu cao danh dự trách nhiệm của một tướng lãnh, và đồng thời cũng là để rửa mặt cho toàn thể quân và dân Miền Nam Việt Nam. Ở trang 407 của sách Nguyễn Khoa Nam, tác giả Lê Ngọc Danh mô tả sự bàng hoàng và niềm đau như dao cắt ở những giây phút cuối cùng trong đời của một tướng lãnh yêu nước, tận tụy và nhân hậu:

“Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, Tư Lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa để về thăm vợ con, còn Trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy 3 cây nhang đốt, xá ba xá căm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông… xong xá ba xá tiếp rồi về ngồi lại nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa như không có chuyện gì sắp xảy ra cả. Bất chợt Tư Lệnh xoay qua bảo tôi:

Danh ra ngoài bảo Việt (tùy viên thứ hai của tướng Nam NÐ) dẫn vợ con đi đi.

Dạ.

Tôi thầm nghĩ Tư Lệnh và tôi đều độc thân, chắc Tư Lệnh nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng Trung Úy Việt. Vừa đi khỏi cột cờ một chút là tôi nghe thấy tiếng súng nổ từ hướng bàn thờ Phật. Tôi chưa kịp xoay người trở lại thì Trung sĩ Hộ chạy ra la thất thanh:

Ðại úy! Ðại úy ơi! Thiếu Tướng tự sát chết rồi.

Trong lúc sợ hãi anh Hộ đã gọi tôi là đại úy. Tôi chạy nhanh vào phòng thì một cảnh tượng hãi hùng. Tư Lệnh ngã ngửa, hơi lệch về phía sau sofa, đầu nghiêng về bên trái, khẩu Colt 45 (loại súng lục dành cho các sĩ quan quân đội khi tác chiến dùng để làm súng lệnh, trong lịch sử chiến tranh nhiều sĩ quan đã tự sát bằng chính súng lệnh của mình-NÐ) vẫn còn trong tay buông thõng xuống lòng, nhưng các ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên màng tang phải qua trái, mắt ngước nhìn lên trần nhà…”

Lúc đó là khoảng 7 giờ 30 sáng ngày 1-5-1975.

Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và Vùng IV Chiến Thuật, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã chọn con đường tự sát để bảo toàn danh dự và để không bị rơi vào tay địch. Ông đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho sự lựa chọn của ông. Ở trang 407, những dấu hiệu đầu tiên của lựa chọn đã được cựu Trung úy Lê Ngọc Danh mô tả rất cảm động với bối cảnh là sân thượng của tư dinh, con đường Hòa Bình và thời gian là chiều 30-4-1975:

“Tôi linh tính có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng phía tay phải Tư Lệnh, anh Việt đứng bên trái. Vài xe qua lại trên lộ, người đi lại thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt Thiếu Tướng bật khó. Dù cố nén để tiếng khóc không bật thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt cứ cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn của Tư Lệnh trước cảnh nước mất nhà tan. Tôi và anh Việt cũng khóc theo, không còn kềm hãm nữa cứ để cho những dòng lệ tự do chảy…” Tôi đọc xong 571 trang tác phẩm “Nguyễn Khoa Nam” trên đường bay từ Los Angeles đi Ðài Loan và trên đường bay chuyến khứ hồi, nhân chuyến công tác cho tòa báo vào tuần trước. Do có tật ít khi ngủ được trên máy bay dù là đường bay dài, cho nên ngoài những bữa ăn, tôi dùng hết thời giờ đọc kỹ những hồi ức của rất nhiều tác gỉa về tướng Nguyễn Khoa Nam. Ngồi ghế cạnh tôi là một vị cao niên người Phi Luật Tân. Ông tự giới thiệu là cựu sĩ quan trong quân đội Phi Luật Tân từng tham chiến ở Việt Nam, đơn vị đóng ở Tây Ninh. Có lẽ vì đèn cá nhân trên trần máy bay của loại Boeing 747 tôi bật lên để đọc sách sáng quá có thể làm cho vị cao niên này hơi khó ngủ. Ông hỏi tôi: “Tôi thấy ông đọc suốt nửa đường bay rồi, chắc nó hấp dẫn?”. Tôi xin lỗi, rồi đưa cho ông xem bìa cuốn sách và giải thích. Ông vội kêu lên: “Á tôi có nghe nói đến chuyện này trên báo chí Phi Luật Tân năm 1975, lúc tôi còn ở Manila chứ chưa đi định cư”. Tôi chỉ nói cho ông bạn đường người Phi qua loa về nội dung để ông hiểu tại sao tôi lại có thể đọc liên tiếp trong 12 tiếng đồng hồ, rồi lại tiếp tục đọc cho tới khi phi công loan báo phi cơ chuẩn bị đáp xuống phi trường Ðào Viên (Taoyuan).

Hiển nhiên tác phẩm hấp dẫn không phải chỉ vì những chi tiết rõ ràng liên quan đến sự tuẫn tiết của các tướng Nguyễn Khoa Nam mà còn hấp dẫn ở những bài viết liên quan đến gốc gác của vị tướng này, đến dòng họ Nguyễn Khoa, đến ngài Bố Chánh Sứ Nguyễn Khoa Luận tức Viên Giác Ðại Sư Chùa Ba La Mật ở Huế và chuyện “Ðá vô sanh” ở trang 38 trích từ gia phả và cuốn sách của G. Riviere, đến mối liên hệ giữa dòng Nguyễn Khoa và Tuy Lý Vương ở những trang 68,69, đến bài viết về Thôn Vỹ Dạ của Nguyễn Phúc Bửu Diên và Phạm Thị Hoàng Oanh, đến bài “Nhớ Về Người Anh” của cựu TNS Nguyễn Khoa Phước vốn là em ruột Tướng Nam ở những trang 78-79, đến những kỷ niệm nho nhỏ với những người bạn như Vĩnh Bội, như Cao Văn Khánh và một người mà sau này làm tới Thượng Tướng Việt Cộng là Ðoàn Huyên (trang 82), đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Hai với bài “Lá Thư Gởi Anh Nam” trong đó ông tiết lộ về năng khiếu hội họa của học sinh Nguyễn Khoa Nam thuở thiếu thời (trang 87).

Thế nhưng, bề thế nhất vẫn là những bài viết về Khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức và về khoảng thời gian ông Nam tác chiến ở Nhảy dù, làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 BB, rồi Quân Ðoàn IV Vùng IV Chiến Thuật. Ðây là những bài viết những, những tảng sơn, những khối đá được đẽo gọt dựng lên một cách đầy đủ Người Lính Trung Liệt Nguyễn Khoa Nam. Từ cựu Trung Tá Nguyễn Văn Phong, Lê Chu vốn là những bạn đồng khóa 3 SQTBTÐ với tướng Nam… cho đến những đồng đội của ông ở binh chủng Nhảy dù cũng như ở các đơn vị khác như Ðỗ Ðức Hạnh, Ðỗ Ðình Lũy, Khiếu Hữu Diêu, Nguyễn Thu Lương, Phạm Hy Mai, Hoàng Cơ Lân, Trần Quốc Lịch, Trương Dưỡng, Trần Xuân Lớn, Lê Ngọc Danh, Vương Hồng Anh, Nguyễn Mạnh Trí (cựu Hải Quân Trung Tá, cháu gọi tướng Nam bằng cậu), Phạm Trung Nghĩa, Trần Văn Lưu, Vanuxem-Dương Hiếu Nghĩa và Trần Thị Kim Ðính (phu nhân của cựu TNS Nguyễn Khoa Phước, em dâu tướng Nguyễn Khoa Nam), người đọc sẽ trầm mình vào những dữ kiện quan trọng làm nên con người Nguyễn Khoa Nam.

Từ trang 423 đến 426, bà Kim Ðính đã hoàn chỉnh những vết đục cuối cùng trên bức tượng Nguyễn Khoa Nam lẫm liệt, vĩ đại nhưng mộc mạc, giản dị và đẹp như con người ông, đứng sừng sững chế ngự trên những cánh đồng ruộng vườn xanh mênh mông, kinh rạch chằng chịt của vùng Ðồng Bằng Sông Cửu Long.

Ðặc điểm của tác phẩm nhiều người viết về Nguyễn Khoa Nam là khi chúng ta đã bắt đầu đọc những chương đầu thì sẽ không thể ngừng ở những chương sau trừ phi đêm trường và sức khỏe không cho phép. Tuy tác phẩm mang tên Nguyễn Khoa Nam, nhưng các tác giả đã không quên nói về các tướng lãnh khác cũng chọn con đường chết danh dự như tướng Nam: Lê Văn Hưng (Tư Lệnh Phó của Tướng Nam), Trần Văn Hai(Tư Lệnh Sư Ðoàn 7BB), Phạm Văn Phú (Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu II), Lê Nguyên Vỹ (Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB) và Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn Tỉnh Trường Kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện, bị bắt tại mặt trận và VC đem ông về Cần Thơ xử tử). Ðó là chưa kể phần viết về các cuộc đối thoại với cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của nhiều cựu sĩ quan và các bài viết khác về các tướng tuẫn tiết của các nhà báo ở hải ngoại.

Trong khuôn khổ của một bài điểm báo, tôi lấy làm tiếc là không thể trích dẫn hết được những phần quan trọng khác của tác phẩm, nhưng sẽ cố gắng điểm từng phần trong các số báo kế tiếp trong Tháng Tư. Tuy nhiên, ở những dòng kết thúc bài báo này, tôi vẫn không thể bỏ lại qua một đoạn trong bài “Nụ Hôn Vĩnh Biệt” của Phạm Trung Nghĩa viết về giây phút cuối cùng của tướng Lê Văn Hưng Tư Lệnh Phó của tướng Nam (trang 435)

“Lúc đó khoảng 8 giờ tối ngày 30-4-1975, bộ quân phục nghiêm chỉnh vẫn còn trên người Chuẩn Tướng. Bên trong phòng ngủ ông, ngay sát đầu cầu thang trên lầu, sau nụ hôn vĩnh biệt của phu nhân vừa kịp đặt lên mà chồng, ông tướng đã vội đẩy bà ra phía ngoài và đóng nhanh cánh cửa… Lúc quay người lại, thấy tôi còn đứng lại trong phòng, giọng ông Thảng thốt:

Nghĩa! Mày đi ra!

Vừa nói, ông vừa nắm tay tôi lôi về phía cửa. Tôi bệu bạo:

Tôi ở lại cùng Thiếu Tướng!

Sự dứt khoát của nghiêm lệnh hàng ngày trong giây phút xúc động mãnh liệt làm cho giọng nói của Chuẩn Tướng lạc đi… Tôi chợt òa khóc. Ðứng bên ngoài tôi và phu nhân nghe tiếng rít gài then khô khốc từ bên trong. Bất giác, tôi và bà tướng mọp người xuống nền gạch, cố đưa mắt nhìn vào khe hở dưới cửa. Mọi sự diễn ra không đầy một phút sau đó. Một tiếng nổ chát chúa vang lên bên trong cánh cửa…”

Và Trịnh Văn Ngạn-Huỳnh Văn Hoa viết ở trang 460-461 về sự tuẫn tiết của tướng Trần Văn Hai.

“Chuẩn tướng Tư Lệnh (Trần Văn Hai-SÐ7BB-NÐ) gục đầu mê man trên bàn làm việc. Một ly rượu lớn đã cạn ở trên bàn. Tôi biết điều gì đã xảy ra… Tôi liền trình bày qua điện thoại với Thiếu tá bác sĩ ở bệnh xá về tình trạng của Chuẩn Tướng Tư Lệnh. Một lát sau thiếu tá bác sĩ đến với xe cứu thương. Chúng tôi đặt chuẩn tướng Tư Lệnh nằm trên băng ca và chở xuống bệnh xá sư đoàn ngay. Lúc này ông đã mê man bất tỉnh. Tại bệnh xá sau một hồi tận lực cấp cứu, vị thiếu tá bác sĩ buồn rầu báo cho tôi biết, vì thuốc độc ngấm vào máu đã lâu, Chuẩn tướng Tư Lệnh Không qua được cơn nguy kịch..”

Rồi Thanh Sơn viết lại theo lời kể của một nhân chứng đang làm việc tại Trung Tâm Hành Quân vào lúc vị Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Lê Nguyên Vỹ tự sát bằng súng tại sân cờ Sư đoàn ở Lai Khê (trang 500) đúng lúc lúc địch đã bao vây Lai Khê và kêu gọi tướng Vỹ ra hàng: “…Vì tôi là tướng chỉ huy mặt trận, nên không thể nào thi hành được lệnh đầu hàng. Tôi nghĩ thân làm tướng là đã phần nào được hưởng những ân huệ và vinh dự của quốc gia hơn các anh em nên tôi phải chọn con đường đi riêng cho tôi…”

Tướng Lê Nguyên Vỹ đã nói với các thuộc cấp như thế trước khi ông bình tĩnh bước ra sân nghiêm trang đứng dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB tự sát bằng chính khẩu súng lệnh của ông.

Cảm khái trước những cái chết dũng liệt này, nhà thơ Cao Tiêu (cũng là một cựu sĩ quan cấp ngành Tâm Lý Chiến) đã viết hai cấu đối như thế này (trang 520):

“Trận mất chẳng hàng, sử sách lưu truyền danh tuẫn tiết
Thân còn không tiếc, quân dân ca ngời tiếng anh hùng”.

Tôi mạo muội dùng hai câu đối này thay cho lời kết thúc phẩn điểm sách và giới thiệu tác phẩm nhiều người viết “Nguyễn Khoa Nam”.

(Ðọc “Nguyễn Khoa Nam”, Tháng Tư năm thứ 32 ngày mất VNCH)

Vũ Ánh

 https://www.tvvn.org/forums/threads/nguy%E1%BB%85n-khoa-nam-m%E1%BA%B7t-tr%E1%BB%9Di-th%C3%A1ng-4.190/
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s