29-4-1975: Đêm dài nhất của Sài Gòn

Mường Giang

“Sao quên được, Tháng Tư Đen mất nước
máu nhuộm hồng cả sóng biển xanh mơn
xương trắng phơi khắp sông núi Trường Sơn
người chết thảm, nơi bến tàu sân đợi
sao quên được những phút giờ hấp hối
trong chiến hào, giữa đồn vắng không tên
lính tuyệt vọng, nhìn mây trắng cô đơn
chờ pháo bạn, ngóng phi tuần trở lại..”

Ôi những lời thơ nhức nhối khiến cho người Sài Gòn và các quân, dân, cán, chính cũng như đồng bào chiến cuộc miền Trung đã có mặt tại thủ đô trong đêm 29 rạng ngày 30-4-1975 làm sao quên được? Ðây là giây phút cuối cùng của cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975), những ai may mắn sống sót sẽ không thể nào quên nỗi cái đêm hôm ấy là đêm gì, trong thân phận nhược tiểu Việt Nam, mà thời gian như dài vô tận.

Ðêm đó cả Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Ðịnh đều bị cúp điện. Nhưng trên trời cao, trong cái khoảnh không gian bao quanh Sài Gòn, lúc đó lại được soi sáng mờ mờ ảo ảo bằng đủ các loại đèn của máy bay trực thăng, cho tới trưa ngày 30-4-1975 mới dứt. Sau này, dân đen Sài Gòn và những người di tản ra ngoại quốc, qua báo chí cùng tài liệu mật được Mỹ công bố, mới biết được “Ðêm 29-4-1975 là thời gian cuối cùng của Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam”. Cũng trong đêm đó, nhờ sự bảo vệ của các đơn vị còn lại của QLVNCH bị bỏ rơi và bán đứng, đang tử chiến với Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế ở dưới đất, nên siêu cường Mỹ đã an toàn rời khỏi Sài Gòn, trong danh dự, bằng hàng trăm trực thăng đáp khẩn cấp trên các mái nhà khắp đô thành, trong khuông viên cơ quan DAO và Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ.

Ðêm đó cũng là giờ thứ 25 của VNCH và chính tổng thống cuối cùng là Dương Văn Minh đã ra lệnh cho “quân đội miền Nam buông súng đầu hàng, cũng như ký lệnh đuổi Mỹ ra khỏi nước”. Ðây là hai đề tài dai dẳng và nhức nhối của những trang cận sử Tháng Tư Đen. Chính nó, đã gây nên cuộc bút chiến giữa các vị khoa bảng, trí thức xôi thịt của miền Nam, trong số này có rất nhiều người từng đâm sau lưng người lính trận. Ðây cũng là dịp ngàn vàng hiếm hoi để họ được sống lại cái thuở tự do báo chí của năm nào nơi quê nhà. Bởi vậy trên diễn đàn và báo chí hải ngoại, người ta lại đánh nhau bằng bọt mép và chữ nghĩa. Tóm lại suốt thời gian rất dài, không ai chịu thua ai, người nào cũng cố vận dụng tất cả văn phong, dao to búa lớn, qua cái danh giá dỏm của những tờ “đại nhật báo” để muôn đời sống mãi với lập trường “ba làng ấm ớ” của mình. Rốt cục, nhờ ánh sáng mặt trời soi sáng gần hết những bí ẩn của cận sử, trong đó có hai vấn đề liên quan tới Dương Văn Minh. Nhờ vậy mới chấm dứt được cuộc đấu võ mồm vô duyên đã làm phiền lòng cũng như tốn giấy bút và thời gian quý báu của người Việt tị nạn Cộng Sản khắp hoàn cầu.

Thì ra, cả hai hành động ra lệnh cho “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hàng cũng như đuổi Mỹ ra khỏi Sài Gòn”, đều không phải là quyết định của Tổng Thống Dương Văn Minh và nội các hai ngày của ông. Theo tài liệu của Hứa Hoành trong “Nam Kỳ Lục Tỉnh số IV”, thì ông Dương Văn Minh chỉ làm theo lệnh của Cộng Sản Hà Nội. Riêng việc đuổi Mỹ thì do Ðại Sứ Martin của Hoa Kỳ nhờ phổ biến. Ðọc Phạm Bá Hoa, nơi trang 235 của tuỳ bút “Ðôi Dòng Ghi Nhớ”, về việc chính ông Dương Văn Minh, đã xác nhận năm 1991 tại Paris, trong bàn tiệc lúc đó có Trần Văn Ðôn và Nguyễn Linh Chiểu. Chính Ðại Tá Chiểu đã hỏi Dương Văn Minh, tại sao mới nhậm chức có một ngày, đã đuổi Mỹ? Tổng Thống Minh đã trả lời: “Moa không đuổi họ, bản văn (đuổi Mỹ) được phổ biến trên đài phát thanh vào sáng sớm ngày 29-4-1975, do chính Martin viết và nhờ Moa phổ biến. Có vậy Mỹ mới có thể rút khỏi Sài Gòn trong danh dự”.

Như vậy, hai sự kiện quan trọng nhất của cận sử Việt Nam đã được chính những người trong cuộc, xác nhận bằng văn tự chứ không phải là miệng đời, cho nên không thể nào nói là bịa chuyện hay là vì ghét người mà bôi bác. Sự thật lúc đó người Mỹ đã phải tạm rời khỏi mảnh đất đau khổ Việt Nam, vì nơi này không còn một giá trị gì nữa, để mà nấn níu hòng đổi chác và lợi dụng. Có điều hành động tháo chạy của Hoa Kỳ vào giờ thứ 25 thật là tàn nhẫn và lố bịch. Năm 1954, người Pháp sau khi bị quốc dân Việt Nam đánh bại tại Ðiện Biên Phủ, lúc đó dù đã kiệt sức nhưng họ vẫn cố gắng giữ thể diện bằng cách tạo hoàn cảnh để rút quân về nước trong danh dự và tự trọng. Ngoài ra, vào giờ 25 trên đất Bắc, người Pháp cũng không đem con bỏ chợ khi tận lực giúp đỡ các đơn vị của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam đang chiến đấu tại đó, và hơn một triệu người Việt không muốn sống chung với Cộng Sản được di cư vào tìm tự do tại miền Nam. Riêng người Mỹ sau khi đã liên kết được với Trung Cộng, hoạch định thế chiến lược mới nên phải rút khỏi Việt Nam; để có lý do biện minh với thiên hạ, Hoa Kỳ đã ngụy tạo một hiệp định ngưng bắn giả tạo mà thực chất là đã bán đứng đồng minh của mình cho kẻ thù chung năm 1973. Rồi trong giờ phút hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa nhưng với người Mỹ lúc đó, nếu muốn có thể lật ngược thế trận một cách dễ dàng để bắt Cộng Sản Quốc Tế phải rút về phía bên kia vỹ tuyến 17, như họ đã từng đánh đuổi cả triệu quân Trung Cộng và Bắc Hà trong cuộc chiến Cao Ly năm 1950.

Nhưng than ôi! Mỹ đã cúi mặt chịu nhục nhã, trốn chạy khỏi Nam VN trong đêm tối, bằng các trực thăng đáp khẩn trên mái nhà, qua sự bảo vệ của QLVNCH trong giờ phút hấp hối dưới đất. Tàn nhẫn hơn, đám lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tại Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ còn bắn trái khói đạn cay vào rừng người Việt Nam trước mặt đã từng phục vụ cho họ hết lòng, lúc đó đang cần chạy khỏi nước để cứu mạng.

Hành động trên đã nói lên đầy đủ bản chất thật của người Mỹ: “Tiền trao cháo múc”, hay đúng hơn Mỹ vào Việt Nam vì quyền lợi của họ, thế thôi.

Ðể được đem quân vào Việt Nam, người Mỹ đã đồng mưu với các tướng lãnh bản địa “giết chết một tổng thống“. Ðể có lý do chính đáng được người dân và quốc hội Hoa Kỳ, đứng đầu là là Henry Kissinger, người Mỹ gốc Do Thái, đã nhúng tay vào tất cả các âm mưu, trong việc ngụy tạo một hiệp ước ngưng bắn giả mạo vào năm 197, để bán đứng VNCH cho khối Cộng Sản Quốc Tế, đổi lấy quyền lợi cho Do Thái tại Trung Ðông” .

Hậu quả của phong trào phản chiến trên khiến cho giới dân cử Mỹ vì muốn kiếm phiếu trong lần sau nên phải mị dân bằng cách ban hành nhiều đạo luật quái gở, hầu hết đều làm lợi cho Cộng Sản mà điển hình nhất là “War Power Art” ký năm 1973, gần như trói tay tống thống và hành pháp Mỹ. Vì vậy cộng sản Bắc Việt đã công khai xé bỏ bản hiệp ước vừa mới ký tại Ba Lê chưa ráo mực, xua quân cưỡng chiếm miền Nam.

Tháng 5-1975, Henry Winston, chủ tịch đảng Cộng Sản Mỹ đến thăm Hà Nội, đã công khai tuyên bố: “Chiến thắng của CSVN cũng là chiến thắng của đảng CS Hoa Kỳ”. Còn chủ tịch bù nhìn của Mặt Trận Ma-Nguyễn Hữu Thọ tại Mạc Tư Khoa thì nói: “Chiến thắng của Bắc Việt là do công lao của Mỹ, đã viện trợ chính trị và cổ võ cho họ”. Nhưng mai mỉa và nhức nhối tận cùng là lời của Lê Ðức Thọ: “Năm 1954 CSVN thắng Pháp tại Ba Lê, còn năm 1975 CSVN lại thắng VNCH tại Hoa Thịnh Ðốn”.

MỸ BỎ VIỆT NAM:

Mỹ tới Việt Nam chỉ lợi ích và chiến lược. Bởi vậy sau khi đã bắt tay được Trung Cộng vào ngày 21-2-1972, song song với việc đã chế tạo thành công tàu ngầm nguyên tử cùng hỏa tiễn liên lục địa Polaris, thì cái ý nghĩa sử dụng Nam Việt Nam để làm tiền đồn ngăn chận làn sóng đó đã không còn tồn tại. Thêm vào đó là sự ngu xuẩn của Kissinger khi quá tin vào lời hứa cuội của Liên Sô tại hội nghị hòa hoãn Hensinki-Phần Lan, là sẽ kềm chế Việt Cộng. Bởi vậy để thưởng công trước, Mỹ qua đề nghị của Kissinger cho Liên Sô được hưởng ưu tiên tối huệ quốc.

Cũng vì vậy nên từ đó, lúc nào cặp Nixon-Kissinger cũng coi Việt Nam Cộng Hòa như là một thuộc địa của mình không hơn không kém. Ngoài việc nhiều lần làm mất mặt chính quyền miền Nam trên trường quốc tế, Mỹ còn sử dụng viện trợ như là một thứ áp lực gông cùm, bắt ép một quốc gia đang có chủ quyền, dân chúng và lãnh thổ, phải ngồi chung trong bàn hội nghị với công cụ của Cộng Sản Bắc Việt, qua danh xưng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mà Mỹ đã biết rất rõ ràng. Cuối cùng, cũng dùng viện trợ bắt buộc VNCH phải ký hiệp định ngưng bắn vào năm 1973, trong đó Mỹ công nhận Mặt Trận Giải Phóng Miền Namnhư một chính quyền thứ hai cũng như cho bộ đội Bắc Việt ở lại miền Nam, làm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải bó tay, để cho Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế tiếp tục tấn công cưỡng chiếm miền Nam.

Sau ngày 30-4-1975, Tướng Alexander Haig, một cựu bộ trưởng thời Tổng Thống Nixon đã viết: Chúng tôi gạt Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu ký vào bản hiệp ước ngưng bắn năm 1973 tai Ba Lê bằng cách gởi nhiều bức thơ viết tay của Nixon”. Theo nội dung những bức thơ đó, thi Nixon nhân danh nước Mỹ cam kết sẽ sử dụng quân đội và pháo đài bay B52 trở lại trên chiến trường nếu Bắc Việt tiếp tục xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra Nixon còn to miệng hứa là sẽ tiếp tục quân viện cho miền Nam, trên nguyên tắc mà hai nước đã ký kết từ trước “1 đổi 1”. Nhưng than ôi tất cả chỉ là sự lừa bịp của một siêu cường đang lãnh đạo khối tự do lúc đó với một đồng minh từng sánh vai sống chết với mình trong lúc đang hấp hối vì thù trong giặc ngoài. Cho nên Mỹ đã phủi tay khi đem được tù binh về nước, giúp Tổng Thống Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ (1971-1975).

Bởi vậy vào ngày 21-1-1973, tại Ba Lê trong khi các nguyên thủ trên thế giới liên hệ đang nổ rượu Champagne nói là để ăn mừng vì hòa bình tại Việt Nam thì khôi hài hơn hết là sự việc hai tên đại bịp Kissinger và Lê Ðức Thọ được cái gọi là Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình tại Na Uy phát giải thưởng. Cũng lúc đó, Cộng Sản Bắc Việt đã sử dụng chính bộ đội mà Mỹ cho phép ở lại tại lãnh thổ Nam Việt Nam, tấn công đồng loạt các cứ điểm VNCH tại Cửa Việt (Quảng Trị), Kon Tum, Kiến Tường.. Nhưng quan trọng hơn hết là tại Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Bình Thuận và Trại Biệt Ðộng Quân Biên Phòng Tống Lê Chân (Bình Long)..

Tiếp theo khi biết chắc Mỹ đã phủi tay thật sự không bao giờ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, nên tháng 12-1974 Bắc Việt xua đại quân tấn chiếm quận Thường Ðức (Quảng Nam), Phước Long, Ban Mê Thuột và toàn thể Miền Nam vào ngày 30-4-1975.

MỸ CHẠY KHỎI VIỆT NAM TRONG ÐÊM TỐI, TRÊN MÁI NHÀ:

Từ khi có ý định phủi tay bỏ Nam Việt Nam, cuối năm 1974 Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn đã bắt đầu lập bản dự thảo kế hoạch rút số viên chức còn lạ, cũng như di tản những thành phần bản xứ có liên hệ với họ. Ðó là chiến dịch “Talon Vice”, sau được đổi thành “Frequent Wind”. Theo sử liệu bật mí mới đây, sở dĩ kế hoạch trên vào phút chót trở thành “đầu gà đít vịt”, là do sự bất đồng ý kiến giữa Đại Sứ Mỹ Martin và Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ (DAO). Nhưng đây cũng chỉ là cái cớ để phần nào làm nhẹ bớt tội tắc trách của ông đại sứ. Cũng theo tài liệu, sự thất bại còn có rất nhiều lý do khác, chẳng hạn do Tướng Smith trưởng cơ quan DAO, đã tiết lộ kế hoạch chạy của Mỹ trong bữa tiệc do Tổng Cục Tiếp Vận tổ chức trong đêm giáng sinh 24-12-1974.

Tin này lập tức được loan truyền rộng rãi, nên thay vì Mỹ di tản các thành phần quan trọng có nguy hại tới tánh mạng khi VC vào, lại chỉ vớt toàn bọn nhà giàu, Tàu Chợ Lớn, me Mẽo, bọn cò mồi phá thối chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. và đặc biệt là bọn tướng-tá ăn không ngồi chơi xơi nước tại các cơ quan đầu não trung ương về quân sự cũng như hành chánh. Bọn này đa số đều giàu có về tiền bạc cũng như quyền thế và phe cánh Mỹ, nên ra đi ngoài gia đình nội ngoại ba đời, còn có cả con sen thằng ở. Sau rốt là do đại sứ Martin tới giờ phút chót, vẫn còn ngu xuẩn cả tin vào sự hẹn hứa của Bắc Việt, nên nuôi ảo vọng thương thuyết, khi chấp nhận điều kiện “đổi ngựa” hết Nguyễn Văn Thiệu, tới Trần Văn Hương và cuối cùng là Dương Văn Minh. Nhưng kết cuộc, Mỹ đã bị Việt Cộng bịp xả láng nên đã phải bỏ chạy nhục nhã trong đêm tối 29-4-1975 trên khắp các mái nhà Sài Gòn, đến nỗi quên cả cuốn và vác cờ theo. Thật là một trò hề vô cùng sỉ nhục của siêu cường Hoa Kỳ, lãnh tụ của phe thế giới tự do.

Theo bản dự thảo ban đầu, chiến dịch di tản gồm có bốn giải pháp, tùy theo hoàn cảnh để thi hành như:

1- Dùng hàng không dân sự để di tản người tại Phi Trường Tân Sơn Nhất.

2- Sử dụng các vận tải cơ C123,130 và C5 để bốc người tại Sài Gòn cũng như các tỉnh lân cận.

3- Sử dụng các loại thương thuyền có sẵn tại bến Bạch Ðằng.

4- Dùng trực thăng bốc người từ Sài Gòn, đưa ra các chiến hạm.

Sau khi Quân Đoàn I và II tan rã ngày 1-4-1975, cơ quan DAO đã cho thành lập một cơ quan điều hợp di tản, gọi tắt là DCC tại Tân Sơn Nhất và giải pháp (4) dùng trực thăng bốc người được chọn, nếu Phi Trường Tân Sơn Nhất bất khiển dụng.

Ngày 3-4-1975, DAO lại thành lập thêm Toán Thiết Kế đặc biệt, có nhiệm vụ thanh lọc, để xác nhận tổng số người VN cần di tản và tới ngày 7-4-1975, có 70.000 người được lên danh sách. Ngay sau đó, DAO đã tổ chức một đoàn xe Bus, chuyên chở họ từ tư gia vào phi trường TSN. Vì hầu hết sân thượng tại Sài-Gòn, Chợ-Lớn và Gia-Ðịnh, không đủ tiêu chuẩn để cho các loại trực thăng H46 và H53 đáp, nên DAO phải trưng dụng tất cả các trực thăng nhỏ của hãng Air American do CIA thuê mướn, bốc người khắp nơi về DAO, sau đó trực thăng lớn mới chở họ ra chiến hạm.

Ngày 9-4-1975, Bắc Việt xua đại quân tấn công Xuân Lộc. Cơn phẫn nộ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và dân chúng được bộc phát tại đây. Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, Lữ Ðoàn 1 Dù, Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân Long Khánh, chẳng những đã chận đứng Cộng quân tại chiến trường mà còn tiệu diệt cả vạn quân xâm lăng phương Bắc, khiến cho Hà Nội lại la làng là Mỹ bội tín đem bom nguyên tử vào thả tại Việt Nam.

Thiet van xa M113 tai mat tran Xuan Loc thang 4 nam 1975

Do tình hình chiến trường biến động khắp nơi báo hiệu nguy cơ miền Nam sắp mất, nên DAO đã mướn nhà thầu sửa chữa các sân thượng tại đây, đồng thời yêu cầu Tòa Đại SỨ Hoa Kỳ cho đốn cây cổ thụ trước sân để làm bãi đáp khi hữu sự nhưng đã bị Martin phản đối và bác bỏ.

Ngày 16-4-1975 Tướng Home Smith, chỉ huy trưởng DAO, ra lệnh đóng cửa các PX, đồng thời bắt buộc các quân nhân không cần thiết và tất cả nhân viên dân chính cùng gia đìn, đều phải hồi hương.

Ngày 24-4-1975 thời Tổng Thống Trần Văn Hương tình hình chiến sự bùng nổ dữ dội khắp nơi nên Đại Sứ Martin mới cho thi hành giải pháp (3) trong chiến dịch Frequent Wind, sử dụng tất cả các thương thuyền trống, sau khi đã giở hàng để di tản. Trong lúc đó, vì tuân thủ theo lệnh của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nên hầu hết các máy bay quân sự của Mỹ khi rời Sài Gòn đều trống không, dù có rất nhiều người đang sắp hàng ngày lại ngày để chờ phương tiện xuất ngoại.

Ngoài việc di tản quân nhân, viên chức tòa đại sứ rời Việt Nam, ngày 4-4-1975, DAO lại cho thực hiện chiến dịch “Baby Lift” di tản 250 em mồ côi Việt Nam tại các cô nhi viện sang Hoa Kỳ bằng vận tải cơ khổng lồ C5A-Galaxy. Tháp tùng trong chuyến đi này, còn có 37 nữ thơ ký và phân tách viên của DAO với nhiệm vụ giúp đỡ và săn sóc các em trong suốt cuộc hành trình. Nhưng than ôi công tác đầy nhân đạo này đã bị bàn tay bí mật nào đó phá vỡ ngay. Bởi vậy máy bay vừa mới cất cánh thì đã rớt xuống ngay tại đầu phi đạo tan tành. Rốt cục chỉ còn sống sót 175 người. Tới nay sự việc trên vẫn chưa được soi sáng nên đâu biết ai là thủ phạm đã gây nên tai nạn thương tâm cho các em bé mồ côi khốn khổ trên.

Tại Subic Bay-Phi Luật Tân ngày 17-4-1975, lực lượng đặc nhiệm 76 của Hải Quân Hoa Kỳ vừa mới cặp bến để tu bổ và sửa chữa tàu bè, sau một thời gian dài đã tham dự cuộc hành quân Eagle tại Ấn Ðộ Dương, thì lại nhận được lệnh rời bến tới chờ lệnh tại Đông Hải, ngoài hải phận Nam Việt Nam.

Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tình hình chiến sự tại miền Nam vô cùng sôi động. Khắp nơi, những đơn vị còn lại của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gồm sư đoàn Dù, sư đoàn Tthuy3 Quân Lục Chiến, các Liên Ðoàn Kỵ Binh, Pháo Binh, Lực Lượng III Xung Kích, Sư Đoàn 18, 5, 25, 22, các sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Chiến Tranh Chính Trị, Thủ Ðức, Học Viện Sĩ Quan Cảnh Sát, khóa sinh hạ sĩ quan-binh sĩ quân dịch các Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp, Quang Trung, lực lượng Ðịa Phương Quân-Nghĩa Quân, Trung Đoàn Bình Thuận, Cảnh Sát Dã chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông thôn cả Nhân Dân Tự Vệ.. phối họp với Không Quân, Hải Quân và Quân Đoàn IV gần như tử chiến với mấy trăm ngàn cán binh-bộ đội Cộng Sản Bắc Việt, từng giây phút, suốt đêm ngày.. trong nỗi đoạn trường máu lệ. Tất cả đã lấy xương thịt và thân xác thay súng đạn ngăn chận xe tăng, đại pháo và biển giặc.. vì người Mỹ đã cúp hết quân viện từ ngày 25-4-1975.

Ðêm 28-4-1975 Nguyễn Thành Trung hay Ðinh Thành Trung, con rớt của một cán bộ tập kết ở Bến Tre, nằm vùng trong Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, thi hành theo lệnh của Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Cộng, lái A37 giội bom phi trường Tân Sơn Nhất. Theo Lê Văn Trí, tư lệnh Không Quân Cộng Sản miền Bắc, thì VC đã dùng các máy bay của QLVNCH đã bỏ lại tại các phi trường Ðà Nẵng, Phù Cát để oanh tạc Sài Gòn. Sáng 28-4-1975, sáu chiếc A37 được chuyển vào sân bay Thành Sơn (Phan Rang) do Trung làm phi đội trưởng, hợp với các phi công Bắc Việt gồm Từ Ðể, Nguyễn Văn Lục, Hoàng Mai Vượng, Hàn Văn Quảng và một tên phi công phản tặc khác của VNCH là Trần Văn On. Vì các máy bay trên không mở đèn, hơn nữa lực lượng phòng vệ ở dưới đất tưởng là bạn, nên chúng mới toàn mạng. Vụ oanh tạc trên đã làm hư hại 3 chiếc Hỏa Long AC119, vài chiếc C47 nhưng quan trọng nhất là đã tạo tình trạng hỗn loạn tại phi trường, đang có nhiều người đợi máy bay di tản. Ngoài ra còn có nhiều đoạn phi đạo bị bom và đạn pháo kích làm hư hỏng, không còn sử dụng được. Trước tình trạng hỗn loạn này, Tướng Smith ra lệnh giới nghiêm DAO 24/24, trong khi đó tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, Martin vẫn bất động.

Sau này qua các tài liệu báo chí, đọc được nhiều chuyện vui cười ra nước mắt, liên quan tới sự người Mỹ tiếp tục quân viện cho VNCH, theo tinh thần hiệp định Ba Lê 1973 và những lời hứa của Nixon, từ các thơ riêng viết tay. Thật sự để có lý do hạ cánh những vận tải cơ khổng lồ C5, người Mỹ giả bộ chở tới một vài khẩu súng đại bác 105 ly thời Thế Chiến 1, ít trăm bộ nón sắt cháo lòng không giống ai. Tàn nhẫn nhất trong số những thứ rác phế thải này, có nhiều thùng băng cá nhân đã sử dụng. Biết Hoa Kỳ đã tận tuyệt rồi nhưng chính phủ VNCH vẫn giả đò tương kế tựu kế, họp báo đăng tin, để phần nào giữ lại chút niềm tin cho người lính đang xả thân nơi chiến trường, trong giờ thứ 25 đối mặt với thù trong giặc ngoài. Riêng Mỹ thì mục đích đến là để chuyển tải tất cả hồ sơ mật và những vật dụng máy móc điện tử quý giá về nước.

Lạ lùng nhất là lúc 3 giờ sáng ngày 29-4-1975, tại DAO có 3 chiếc vận tải cơ C130, thường trực chuyển người ra chiếm hạm. Nhưng không biết vì lẽ gì, lại chở từ biển vào Sài Gòn ba quả bom con heo Tiểu Nguyên Tử (Blue 82 Daisy Cutter), loại bom 15.000 Lbs, mà QLVNCH đã sử dụng tại mặt trận Xuân Lộc-Long Khánh vừa qua. Khôi hài hơn là trong lúc các chuyên viên Mỹ-Việt đang hì hục tháo gỡ đem bom vào kho, thì một phi công Hoa Kỳ lại bạch thoại trên vô tuyến, khiến cho CS Bắc Việt bắt được tần số và nã ngay hỏa tiễn 122 ly vào phi trường, làm cháy một vận tải cơ C130 đang bốc người. Thế là Dao chấm dứt kế hoạch di tản bằng máy bay lớn ra hạm, vì phi trường đã bất khiển dụng.

Trong lúc những lãnh đạo của miền Nam “đang trầm kha trong ảo vọng thương thuyết hòa hợp để kết thúc cuộc chiến”, thì đúng nửa đêm 29-4-1975 cũng là giờ mà cộng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, chọn là giờ ‘G’ ngày ‘N’ tổng tấn công dứt điểm VNCH. Sài Gòn đã rối loạn vì hơn mấy chục Sư đoàn cộng sản Bắc Việt đã áp sát thủ đô. Một số đại pháo được tập trung nã vào các khu vực đông dân cư trong nội thành. Phần khác là do đám quan quyền, ngày thường ngồi trên ăn đủ, cùng với bọn nhà giàu, me Mẽo.. tới tấp ra đi, khiến cho lòng người càng thêm tơi tả. Tuy rằng trung ương không còn đại bàng nhưng khắp bốn hướng, Quân Lực VNCH vẫn chiến đấu dũng mãnh, gần như lấy máu xương của chính mình để ngăn cản bước tiến của giặc. Lữ đoàn 4 Nhảy Dù, Sư Ðoàn TQLC, Sư đoàn 18 BB, Lực lượng III Xung Kích, Liên đoàn 4 Biệt Ðộng Quân, Sư đoàn 22 BB, Giang Ðoàn 54 Tuần Thám, Lực Lượng Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân.. và đặc biệt là Chiến Ðoàn 3, thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, từ ngày 26-4-1975, đã được lệnh về bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.

https://i0.wp.com/www.vnafmamn.com/untoldpage/AC119_down.jpg

Nhưng không phải ai cũng tham sống sợ chết chỉ muốn hưởng vinh hoa phú quý mà người Mỹ hứa hẹn. Vẫn còn vài chiếc Hoả Long AC119 K cùng với hai khu trục A1 Skyraider đã không ngừng lên xuống, nã đạn pháo, thả hỏa châu, soi sáng giúp quân bạn đang chiến đấu dưới đất. Anh hùng nhất là Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành, xuất thân từ Thiếu Sinh Quân. Ông đã lái AC119 bắn phá những vị trí pháo của VC quanh phi trường, nhờ vậy nhiều người trong số này có Tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu tư lệnh Không Quân, cựu chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, cựu phó tổng thống VNCH, mới bay được trực thăng riêng từ tư gia ở Tân Sơn Nhất ra chiến hạm đi Mỹ. Thương thay người hiền không bao giờ sống lâu nên Trung Uý Thành đã gãy cánh vào lúc 6 giờ 46 phút rạng sáng ngày 29-4-1975, khi chíếc hỏa long của ông bị một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt cánh may bay và bốc cháy trên bầu trời.

9 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, Sài Gòn đã hỗn loạn khắp nơi. Do trên tướng Smith yêu cầu đại sứ Martin cho thi hành giải pháp ‘4’ trong chiến dịch di tản nhưng đã bị từ chối. Nguyên do vì đại sứ Mỹ lúc đó vẫn còn ngây thơ tin rằng “tổng thống VNCH Dương Văn Minh có khả năng hoà hợp, hòa giải với VC” để vãn hồi hòa bình cho VN. Cùng ngày, từ thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Kissinger đã gọi điện khẩn cấp sang Sài Gòn, ra lệnh cho đại sứ Martin phải di tản gấp. Từ đó, Martin mới cho lệnh đốn cây đa cổ thụ trước sân toà đại sứ vào lúc 11 giờ 01 phút, để làm bãi đáp cho trực thăng. Ðây cũng là thời gian, Martin gợi ý “nhờ TT. Dương Văn Minh giả bộ đuổi Mỹ trên đài phát thanh Sài Gòn”. Có như vậy siêu cường Hoa Kỳ mới chạy khỏi VN trong danh dự, đồng thời giúp TT Minh có chính nghĩa.

Nhờ bài bản xuất sắc, diễn viên ăn khớp, Martin đã cứu nước Mỹ phần nào bớt mất mặt trước đồng minh thuộc phe thế giới tự do, cũng như kẻ thù Liên Xô-Trung Cộng. Nhưng đồng thời Martin chính là người đã phá hỏng kế hoạch di tản, vì lúc chịu thi hành thì trời đã tối nên các tài xế xe bus đều nghĩ việc, khiến cho nhiều người có tên trong danh sách di tản không được đón. Ðể cứu vãn tình thế nguy cấp tồi tệ trên, tướng Smith đã cho các loại trực thăng nhỏ của hãng Air American đi bốc người thế xe bus.. nhưng đã quá trễ.

Ba mươi bảy năm về trước, người Sài Gòn làm sao quên được cảnh tượng hai ngày 29 và 30-4-1975, nếu có dịp đi ngang qua tòa đại sứ Hoa kỳ, kế Tòa Đại Sứ Pháp và nhà thờ Tin Lành, nằm trong chu vi các đường Hồng Thập Tự, Hai Bà Trưng và đại lộ Thống Nhất. Có thể gọi được là một biển người đã tụ tập trước hai cánh cổng sắt vô tri của tòa đại sứ. Lúc đó người nào giơ hai tay lên cao, trong đó ngoài các giấy tờ còn có những nắm đô la dầy cộm, với những tiếng gào thét, van nài nghe thật là bi thiết não nuột, trước những cặp mắt gần như lạc thần lạnh lẽo của lính thủy quân lục chiến Mỹ. Ai cũng lăm lăm tay súng có gắn lưỡi lê, làm như đang lăm le sẵn sàng phanh thây xé xác bất cứ ai, muốn xé rào vượt cổng.

Cùng lúc quang cảnh phía bên trong khuông viên của tòa đại sứ cũng đâu có khác gì bên ngoài. Sóng người đang đùn ép, xô lấn, cấu xé với nhau để tới cho được chân tường, dẫn vào cầu thang lên sân thượng, nơi đoàn trực thăng dùng làm bãi đáp lên xuống, để bốc người ra chiến hạm. Màn đêm lúc đó như được Thượng Ðế ban thêm ân huệ, nên cứ kéo dài hơn, để cho những kẻ chờ đợi nuôi chút hy vọng mỏng manh trong cơn tuyệt vọng. Tóm lại đến giờ phút hỗn loạn đó, thì không ai còn cần chú ý làm gì tới danh sách nữa. Bốc người tại chỗ, có nghĩa là ai mạnh chen được tới trước thì đi, khiến cho hằng vạn người từng giúp Mỹ rất đắc lực như thơ ký, thông dịch viên, nhân viên tình báo, cảnh sát chìm.. cứ ngóng cổ chờ di tản, rốt cục sáng ra mới biết Mỹ đã đi hết rồi.

Ðể thi hành chiến dịch di tản bằng trực thăng, tướng tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là Carey từ chiến hạm bay vào tòa đại sứ lúc 13 giờ 15 ‘ chiều 29-4-1975 và hạ cánh tại Dao. Cùng lúc có một Toán Không Lưu do thiếu tá KQ Dave Cox chỉ huy. Họ dọn dẹp sân thượng và chỉ dẫn đoàn trực thăng từ biển vào bốc người. Trong lúc đó súng cối và đại bác của VC quanh Sài Gòn nổ tới tắp.

15 giờ 06 phút chiều 29-4-1975, một đoàn 12 chiếc trực thăng Mỹ, chở TQLC do trung tá J.L Bowltan chỉ huy, thuộc Lực Lượng Ðặc Nhiệm 76 tới bố trí quanh Dao để giữ an ninh. Ðoàn trực thăng lên xuống bốc người không ngớt, mỗi chiếc chở một lần từ 50-60 người.

Nhưng cuộc di tản đã gặp trở ngại vì bãi đáp trực thăng trúng đạn pháo kích của VC bốc cháy. Trong lúc sự liên lạc giữa toán không lưu và các phi công cũng bi trục trặc vì máy truyền tin bị hỏng, còn trung tâm tiếp vận đài tại Sài Gòn hoàn toàn tê liệt.

Những giờ phút cuối, để giải quyết số người còn ứ đọng, Mỹ phải dùng các loại trực thăng lớn CH46 và H53 đáp ngay tại bãi đậu xe trước tòa đại sứ. Song song với trực thăng Mỹ, trực thăng của KQ/VNCH cũng bốc người ra đi từng đoàn. Thành phố đã bị cúp điện hoàn toàn từ 6 giờ 30 tốì 29-4-1975. Khắp nơi trời đất tối thui, dân đen thì run rẩy núp kín trong nhà để giữ mạng, phần lính tráng còn lại, từ quan tới thuộc cấp, ai củng cố chóng con mắt chờ sáng trong các giao thông hào, đợi phép lạ mà tổng thống Dương Văn Minh đã hứa là sẽ tới vào sáng ngày 30-4-1975.

Sài Gòn đã chết từ đó, chỉ còn có tiếng quạt của các loại trực thăng gầm hét đinh tai điếc óc nơi khoảng không gian mà Mỹ còn làm chủ, nhờ sự bảo vệ của QL/VNCH trong giờ thứ 25 dưới đất. Ðây cũng là những lời thóa mạ cuối cùng của người Mỹ trước khi về nước, để lại nghìn đời trên xác chết chưa chôn của miền Nam VN trong thế kỷ XX.

Cũng lúc đó, nơi các nẻo đường vắng ngắt dẫn về thương cảng, bến tàu Sài Gòn, từng chặp từng chặp lại xao động bởi tiếng máy nổ ròn của đủ loại xe dân, lính.. xen lẫn đâu đó là các tràng súng ngắn. Lúc này bọn sĩ quan đào ngũ, bọn nhà giàu bất lương, bọn văn nghệ sĩ cà chớn một thời phá nát miền Nam.. cũng ôm đầu chạy trối chết, tới các bến tàu, để tìm đường vượt thoát cộng sản, trên các chiến hạm Hải quân và Thương thuyền đang hối hả nhổ neo ra khơi. Súng nổ, đạn cối rơi, hỏa tiễn xuyên phá, tiếng trực thăng gào thét.. như những giọt nước mắt trước cơn mưa thống hận VN, ba mươi bảy năm qua cũng vẫn là những hình ảnh và âm thanh , mà người Sài Gòn đã cảm nhận trước vài giờ, khi toàn thể non sông Hồng Lạc bị đắm chìm trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng.

Ðúng 9 giờ tối đêm 29-1-975 cuộc di tản tại Dao kết thúc. Người Mỹ vội cho thiêu hủy toàn bộ những gì còn lại trong toà nhà này, mà một thời được coi như một tòa tiểu bạch ốc ở phương đông. Chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh lúc 12 giờ đêm, bỏ lại đằng sau tòa nhà trong biển lửa.

Riêng tại tòa đại sứ Mỹ, sự di tản đã gặp rất nhiều khó khăn vì đèn không đủ soi sáng hiện trường, còn bãi đáp thì quá nhỏ không thích hợp cho các loại trực thăng lớn, Tuy nhiên việc bốc người vẫn được tiếp tục, từ 11 giờ đêm 29-4-1975 cho tới 3 giờ sáng ngày 30-4-1975. Sự liên lạc bằng vô tuyến giữa Sài Gòn và Hoa thịnh Ðốn cũng chấm dứt lúc 1 giờ 06 phút, khi trạm liên lạc vệ tinh tại Dao đã bị phá hủy. Ðể nối liên lạc giữa Mỹ và toà đại sứ, Không quân Hoa Kỳ phải thiết lập một trạm liên viễn thông vệ tinh trên chiếc C130, nhưng vẫn không mấy hiệu quả.

3 giờ sáng ngày 30-4-1975, bộ ngoại giao Mỹ ra lệnh cho tòa đại sứ Sài Gòn chấm dứt di tản nhưng Martin không chịu thi hành, vì lúc đó tại chỗ vẫn còn hơn 12.000 người chờ bốc ra chiến hạm. Tới 4 giờ 56’ sáng, chính Tổng thống Ford ra lệnh bằng điện thoại, bắt buộc ông đại sứ phải rời VN. Do không còn cách nào lựa chọn, Martin đành phải bỏ lại 420 người đang đợi, trong số người này có cả nhân viên của toà đại sứ Nam Hàn. Martin ra đi đơn độc với con chó nhỏ tên Nitnoy, trên chiếc trực thăng CH46, do Ðại Uý Thủy Quân Lục Chiến tên G.Berry lái.

Tù phút đó, chỉ còn lại toán lính TQLC Mỹ giữ an ninh tòa đại sứ. Họ rút hết vào bên trong tòa nhà, đóng cửa sắt và lên trên sân thượng đợi. Ðúng 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, trực thăng ngoài biển bay vào đón họ, chấm dứt sự hiện hữu lần thứ ba của người Mỹ trên nước VN, tính tròn 21 năm , từ lúc tướng Edward Landale của CIA đặt chân tới Sài Gòn. Tình đồng minh, đồng hướng và chiến hữu giữa VNCH cùng Hoa Kỳ, cũng chấm dứt từ đó.

Theo tài liệu được Mỹ công bố, thì tòa đại sứ và Dao ngày 29 rạng 30-4-1975 chỉ di tản được 7014 người, phần lớn không có tên trong danh sách được lập lúc ban đầu. Ðể hoàn thành công tác trên, người Mỹ đã sử dụng trực thăng của Sư đoàn 7 Không quân và Hạm Ðội 7 tại Thái Bình Dương. Suốt thời gian chiến dịch, chỉ có một A6 bị mất tích, một trực thăng AH1J. Cobra rớt xuống biển và 2 lính TQLC Mỹ bị tử thương khi VC pháo kích vào Dao tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Tuy người Mỹ đã chính thức rời Sài Gòn vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975 nhưng trọn ngày đó cho tới hôm sau 1-5-1975, nhiều trực thăng của Không quân VNCH khắp nơi bay tới Hàng Không Mẫu Hạm Midway, đang bỏ neo ngoài khơi Vũng Tàu để xin đáp. Vì có quá nhiều người, nên Mỹ đã phải xô nhiều trực thăng xuống biển, để làm bãi đáp cho các trực thăng tị nạn. Dù việc làm trên có thiệt hại hằng triệu mỹ kim nhưng cũng đã cứu vớt được nhiều chiến binh trong giờ phút cuối cùng, không còn một lựa chọn nào khác hơn, trong khi nước đã mất.

Ba mươi bảy năm trước hay bây giờ, người Mỹ cũng chỉ nghỉ đến quyền lợi của quốc gia mình mà thôi. Bởi vậy muốn đem quân vào VN, người Mỹ phải giết một tổng thống dân cử của bản xứ. Rồi để rút quân an toàn về nước, khi đã đạt xong mục đích chiến lược kinh tế của mình, Mỹ lại dùng áp lực quân viện, để bắt buộc đồng minh của mình, ký vào một hiệp ước giả mạo phi luân. Cuối cùng dùng nó để bán đứng quốc gia VN, chôn vùi tương lai của dân tộc anh hùng trong vòng nô lệ của cộng sản đệ tam quốc tế., suốt thời gian từ đó tới bây giờ. Tất cả đúng như lời Sir R.Thompson đã viết năm 1989 trong tác phẩm “Make for the hill”, đại ý ông nói rằng, sự sống của miền Nam VN đã bị bán đứng , vì cảnh cấu xé của nước Mỹ. Riêng Nixon, nhân vật chính đã cùng Kissinger đạo diễn tấn thảm kịch VN hôm nay, cũng đã viết những lời sám hối trong “No More VietNam”. Ông viết rằng, tôi đã nhìn thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê, nhất là sự thỏa hiệp, cho phép bộ đội Bắc Việt công khai ở lại và xâm lăng miền Nam . Nhưng đau đớn nhất, có lẽ là lời phát biểu của M. Gauvin, nguyên Ủy Viên Giám Sát Quốc Tế (ISCC) tại VN. Ngay khi thấy CS Hà Nội ngang nhiên xé bỏ hiệp định ngưng bắn mà chúng vừa ký kết chưa ráo mực, tấn công xâm lăng VNCH, bất chấp cả Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc. Vì vậy ông đã viết bài đăng trên tờ The Times số 59362 ngày 5-4-1975 rằng, sự thất bại của VNCH đã bắt nguồn từ hiệp định Ba Lê, vì nó chẳng bao giờ phản ảnh được ý muốn và nguyện vọng của dân-nước VNCH.

Một thập niên sau ngày Mỹ bỏ chạy khỏi Sài Gòn trong đêm tối trên mái nhà, do những biến chuyển chính trị thế giới, quan trọng nhất là sự hòa hoãn giữa Nga-Hoa cũng như sự liên hệ của Mỹ và Trung Cộng có chiều hướng thay đổi. Ðể chiếm phần ưu tiên, người Mỹ lại tìm cách mon men trở lại Ðông Dương lần thứ 4 vào tháng 4-1985. Bởi vậy một phái đoàn cao cấp của Mỹ , do Richard Armitage cầm đầu, cùng với phụ tá ngoại trưởng Mỹ là Paul Wolfon Witz (đặc trách Ðông Á và Thái Bình Dương), lần đầu tới Hà Nội, với chiêu bài “tìm lính Mỹ mất tích và hài cốt quân Hoa Kỳ còn tại VN”. Sự kiện giằng co úp mở giữa hai nước, cho tới khi phái đoàn nghiên cứu Mỹ do cưu Bộ trưởng Quốc phòng Mc.Namara, sau khi thăm viếng Hoa Lục về, đã tiết lộ âm mưu Trung Cộng đang có dã tâm muốn trở thành bá chủ Á Châu và Thái Bình Dương. Vì thế Hoa Kỳ mới mở phòng liên lạc giữa hai nước vào ngày 3-2-1995 và nối lại bang giao năm 1996. Một Ðại Sứ Mỹ tại Hà Nội được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận sau 22 năm chiến tranh chấm dứt, đã chính thức xác nhận sự bình thường hoá ngoại giao với VC.

Tóm lại lịch sử đã ngừng lại và quay tròn đúng vào thời điểm cũ trên đất nước tội nghiệp VN. Cả hai : Tài phiệt Hoa Kỳ và cộng sản đệ tam quốc tế cũng đều vì quyền lợi riêng tư của mình, nên muối mặt đổi thù thành bạn. Lần này không còn sử dụng được chiêu bài VN là tiền đồn chống cộng, nên người Mỹ đã công khai tới VN qua danh phận lái buôn lái súng. Hiện trong cộng đảng cầm quyền đã manh nha hai phe theo Tàu, theo Mỹ. Nhưng dù VN có theo phe nào chăng nữa, thì chắc chắn đất nước chúng ta cũng sẽ bị cuốn hút theo vết xe lịch sử, khi Trung Cộng công khai gây nên thế chiến lần thứ 4 tại Á Châu-Thái Bình Dương.

Ðọc và viết lịch sử, không phải để khóc hận than thân, mà là lấy đó làm một kinh nghiệm để hành động cứu nước trong thực tại và tương lai. Năm 1954, khi Cộng Sản Đệ Tam chiếm được miền Bắc, một số ít trí thức khoa bảng chạy vào làm trùm tại Việt Nam Cộng Hòa nên họ chẳng hề biết gì về kinh nghiệm sống chung với Việt Cộng. Ngày 30-4-1975, khi VC chưa vào Sài Gòn, số trí thức khoa bảng trên lại ù trốn chạy sang Mỹ hay ngoại quốc. Họ không hề biết thế nào là sự đổi đời của phận người xuống hàng súc vật. Ở ngoại quốc vì quá tự do cái miệng nên vẫn chứng nào tật đó, coi sự hiểu biết của mình qua mớ bằng cấp có được (thật hay dỏm đâu ai biết?) ngang hàng với lãnh tụ, muốn ai cũng phải theo ý và đứng sau lưng mình. Họ vì không sống thật với lịch sử nên chẳng bao giờ có kinh nghiệm lịch sử, vẫn ảo tưởng xây lâu đài và chức phận trên cát biển, vẫn ngây thơ muốn hòa hợp hòa giải, với một đảng cướp tàn bạo bất lương, qua tám mươi năm chỉ lừa bịp lường giết đồng bào và bán nước mình mà thôi. Tệ nhất là những ngài trí thức và gia đình mình lúc nào cũng thích sang giàu hạnh phúc nơi thiên đường Âu Mỹ, mà mồm thì luôn xúí người khác, nếu đi hết biển, thì phải trở về để làm nô lệ cho Cộng Sản.

Thảm thê cho thân phận nhược tiểu Việt Nam.

https://www.tvvn.org/29-4-1975-dem-dai-nhat-cua-sai-gon-muong-giang/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s