Viện trợ quân sự cho Việt Nam trong chiến tranh

Trọng Ðạt

Cuộc chiến tranh Ðông Dương cũng như Việt Nam đã được quốc tế hóa từ những năm cuối thập niên 40 và đầu thập niên 50 cho tới ngày kết thúc cuối Tháng Tư năm 1975. Sau khi Mao nhuộm đỏ nước Tầu Tháng Mười năm 1949, Trung Cộng bắt đầu viện trợ ồ ạt vũ khí đạn dược cho Việt Minh và thành lập những trại huấn luyện quân sự tại biên giới Việt-Hoa. Cuối Tháng Mười năm 1950 Mỹ vội viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la, 40 máy bay khu trục. Cuộc chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp do Mỹ và Trung Cộng đứng sau lưng kết thúc Tháng Bảy năm 1954.Năm 1955 Mỹ hất cẳng Pháp và trực tiếp yểm trợ cho miền Nam Việt Nam, từ 1955 đến 1975 cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc thuộc giai đoạn hai tàn khốc hơn trước rất nhiều. Khác với các nước Mỹ, Anh, Nga, Ðức, Nhật… thời Thế Chiến Thứ Hai đã tự sản xuất được vũ khí, hai miền Nam-Bắc Việt Nam và các phe đối nghịch tại Miên, Lào không tự chế được súng đạn mà phải phụ thuộc vào viện trợ của các cường quốc Mỹ, Nga, Trung Quốc. Cuộc chiến tranh Việt Nam giai đoạn hai cũng đã được quốc tế hóa, đây là cuộc đụng độ giữa khối Cộng Sản Quốc Tế và Thế Giới Tự Do mà Hoa Kỳ là đại diện, các nước khác như Anh, Pháp… đã không đóng góp cụ thể mà còn thọc gậy bánh xe phá Mỹ. Miền Bắc được Liên Xô, Trung Cộng và các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ giúp đỡ, miền Nam được Mỹ viện trợ.

Viện trợ quốc tế cho miền Bắc:
Theo bản tin của BBC.com ngày 10 Tháng Năm 2006 một buổi hội thảo qui mô tổng kết cuộc chiến tranh Việt Nam đã được tổ chức tại Sài Gòn trong hai ngày 14 và 15 Tháng Tư năm 2006, cuộc hội thảo tập hợp nhiều tham luận của các sử gia và tướng lãnh trong quân đội Bắc Việt. Trong số các bài đọc ở hội thảo, tác giả Trần Tiến Hoạt và Lê Quang Lạng thuộc Viện Lịch Sử Quân Sự Cộng Sản Việt Nam có bài tham luận về nguồn chi viện của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa dành cho miền Bắc trong cuộc chiến.

Tham luận ghi nhận trong 21 năm chiến đấu, Việt Nam “đã nhận được sự ủng hộ chí nghĩa, chí tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em”.

Bài viết thống kê những con số về vũ khí, đạn dược và trang bị kỹ thuật mà khối xã hội chủ nghĩa đã viện trợ.

Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN viện trợ từ năm 1955 đến 1975 qua từng giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1955-1960:
Tổng số 49,585 tấn gồm: 4,105 tấn hàng hậu cần, 45,480 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật trong đó Liên Xô viện trợ 29,996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19,589 tấn.

Giai đoạn 1961-1964:
Tổng số 70,295 tấn gồm 230 tấn hàng hậu cần, 70,065 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô: 47,223 tấn: Trung Quốc 22,982 tấn, các nước XHCN khác 442 tấn.

Giai đoạn 1965-1968:
Tổng số 517,393 tấn, gồm 105,614 tấn hàng hậu cần và 411,779 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô 226,969 tấn, Trung Quốc 170,798 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 119,626 tấn.

Giai đoạn 1969-1972:
Tổng số 1,000,796 tấn gồm 316,130 tấn hàng hậu cần, 684,666 tấn hàng vũ khí, trang bị kỹ thuật trong đó Liên Xô: 143,793 tấn, Trung Quốc 761,001 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 96,002 tấn.

Giai đoạn 1973-1975:
Tổng số 724,512 tấn gồm 75,267 tấn hàng hậu cần, 649,246 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô: 65,601 tấn, Trung Quốc 620,354 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác: 38,557 tấn.

Tính tổng cộng qua 20 năm, theo thống kê chính thức của Việt Nam, số viện trợ mà Việt Nam nhận được là 2,362,581 tấn hàng hóa, khối lượng hàng hóa qui đổi thành tiền tương đương 7 tỷ Rúp (tiền Nga).

Về chủng loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu, các tác giả ở Viện lịch sử quân sự cho biết số liệu như sau:

Súng bộ binh (khẩu): Liên Xô 439,198, Trung Quốc 2,227,677, các nước khác 942,988.

Súng chống xe tăng (khẩu): Liên Xô 5,630, Trung Quốc 43,584, các nước khác 16,412.

Súng cối các loại (khẩu): Liên Xô 1,076, Trung Quốc 24,134, các nước khác 2,759.

Ðạn tên lửa (quả): Liên Xô 10,169.

Máy bay chiến đấu (chiếc) Liên Xô 316; Trung Quốc 142.

Phân tích bài viết về khối hàng viện trợ quân sự.

Giai đoạn 2 (1961-1964) so với giai đoạn 1 (1955-1960) hàng hậu cần giảm 17 lần nhưng hàng vũ khí tăng lên 55%.

Giai đoạn 3 (1965-1968) so với giai đoạn 2 (1961-1964) hàng hậu cần tăng 459 lần, hàng vũ khí tăng gần 6 lần.

Giai đoạn 4 (1969-1972) so với giai đoạn 3 (1965-1968) hàng hậu cần tăng gấp 3, hàng vũ khí tăng 66%.

Giai đoạn 5 (1973-1975) so với giai đoạn 4 (1969-1972) hàng hậu cần giảm 4 lần nhưng hàng vũ khí không thay đổi mấy.

Trong Giai đoạn 1 (1955-1960) số lượng hàng của Liên Xô chiếm 60%, Trung Quốc chiếm 40%.

Trong giai đoạn 2 (1961-1964) Liên Xô chiếm 67%, Trung Quốc chiếm gần 33%, các nước khác không đáng kể.

Trong giai đoạn 3 (1965-1968) Liên Xô chiếm 44%, Trung Quốc chiếm 33%, các nước khác 23%.

Trong giai đoạn 4 (1969-1972) Liên Xô chiếm 14%, Trung Quốc 76%, các nước khác khoảng 10%.

Trong giai đoạn 5 (1973-1975) Liên Xô chiếm 9%, Trung Quốc 86%, các nước khác 5%.

Như thế trong hai giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Trung Cộng đóng vai trò chủ chốt trong quân viện cho CSVN, khối hàng viện trợ của họ chiếm đa số so với Nga và các nước khác.

Về súng bộ binh tổng số là 3,609,863 khẩu, trong đó Liên Xô chiếm 12%, Trung Quốc 62%, các nước khác 26%.

Về súng chống tăng tổng cộng 65,590 khẩu, Liên Xô chiếm gần 9%, Trung Quốc 66%, các nước khác 25%.

Về súng cối tổng cộng có 27,969 khẩu, Liên Xô chiếm 4%, Trung Quốc 86%, các nước khác chiếm 10%.

Máy bay chiến đấu tổng cộng 458 chiếc, Liên Xô chiếm 69%, Trung Quốc 31%.

Trong bài trên không thấy nói tới đại bác, hoặc có lẽ nằm trong mục nói về súng cối, cũng không thấy nói về xe tăng.

Giai đoạn 2 (1961-1964) so với giai đoạn 1 (1955-1960) hàng viện trợ không tăng nhiều nhưng giai đoạn 3 (1965-1968) hàng viện trợ tăng vọt lên, về vũ khí tăng lên gấp 6 lần, cùng năm 1965 Mỹ bắt đầu cho đổ quân leo thang chiến tranh.

Giai đoạn 4 (1969-1972) về vũ khí chỉ tăng 66%, giai đoạn chót (1973-1975) hàng vũ khí vẫn như cũ, hàng hậu cần giảm 4 lần. Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, tại miền Nam VN, trên báo Sài Gòn Giải Phóng Cộng Sản Bắc Việt tiết lộ: vũ khí, đạn dược của họ trong năm 1975 coi như gấp 3 lần năm 1972. Như trên chúng ta thấy viện trợ vũ khí trong hai giai đoạn 1969-72 và 1973-75 tương đương nhưng giai đoạn 1975 họ mang vào Nam được nhiều hơn. Trong giai đoạn 1969-1972 đường Trường Sơn bị máy bay chiến lược, chiến thuật của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa oanh kích nên cuộc vận chuyển tiếp liệu gặp nhiều khó khăn, số lượng hàng vũ khí mang vào bị giới hạn. Trái lại giai đoạn 1973-75 họ mang vào được nhiều hơn vì sau ngày ký Hiệp Ðịnh Ba Lê, các tuyến đường xâm nhập gần như bỏ ngỏ, BV đã sử dụng 16 ngàn xe vận tải chuyên chở vũ khí đạn dược vào Nam thoải mái.

Sau khi ký Hiệp định Paris, Hà Nội cho khởi công xây tuyến đường xa lộ Ðông Trường Sơn hay hành lang 613, song song với đường mòn Hồ Chí Minh nhưng nằm trong địa phận Việt Nam Cộng Hòa từ Ðồng Hới cho tới Lộc Ninh, đến đầu 1975 thì công trình hoàn thành dài 1,200 km. Dọc theo Ðông Trường Sơn là hệ thống dẫn dầu từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh. Bắc Việt huy động hàng nghìn xe máy ủi, hàng vạn bộ đội, công nhân, thanh niên xung phong, dân công… ngày đêm phá núi san đèo, xây cống, lắp đường, dựng cầu… đường rộng 8 m… xe vận tải cỡ lớn chạy hai chiều được, ngày đêm chở hàng trăm nghìn tấn đạn dược quân nhu cho chiến trường. Họ đã sử dụng 16 ngàn xe vận tải để chuyên chở binh khí, kỹ thuật, đạn dược, lương thực… chuẩn bị cho chiến trường miền Nam trong hai năm 1973 và 1974. Chiều dài toàn bộ hệ thống chiến lược Trường Sơn tới 1975 là 16 ngàn km gồm 5 hệ thống đường trục dài 5,500 km, 21 đường trục ngang dài 1,020 km, một đường hệ thống dẫn dầu dài 5,000 km.

Theo một cựu trung tá không quân Việt Nam Cộng Hòa cho biết đường xâm nhập của CSBV hiện rõ trên bản đồ nhưng miền Nam không đủ lực lượng để ngăn chặn, cũng có tin cho biết Hoa Kỳ ngăn cản không cho không quân VNCH đánh phá, họ đe dọa cắt viện trợ nếu không nghe theo. Một số nhà nghiên cứu, giới chức quân sự cho rằng viện trợ quân sự của Nga, Trung Cộng cho miền Bắc năm 1975 gấp 3 hoặc 4 lần năm 1972. Sự thực thì không phải như vậy, số lượng vũ khí đạn dược năm 1975 của CSBV nhiều gấp bội lần năm 1972 vì họ mang vào Nam được nhiều hơn, khối lượng hàng viện trợ vũ khí đạn dược như ta đã thấy trong hai giai đoạn này (1972 và 1975) không thay đổi mấy, coi như tương đương .

Quân viện và quân phí tại miền Nam.

Các cường quốc trong Thế Giới Tự Do như Anh, Pháp… không đóng góp gì trong việc viện trợ quân sự cho miền Nam VN mặc dù họ núp dưới cây dù nguyên tử của Mỹ. Từ đầu chí cuối Mỹ gánh chịu hoàn toàn chiến phí và quân viện cho đồng minh. Trong cuốn “1969 Việc Từng Ngày” của ông Ðoàn Thêm có ghi.

“ Ngày 4-11-1969.

Quân phí của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Năm 1962: 287 triệu Mỹ kim.

Năm 1963: 384,1 triệu MK.

Năm 1964: 403 triệu MK.

Năm 1965: 646,1 triệu MK.

Năm 1966: 5,8 tỷ MK.

Năm 1967: 20,1 tỷ MK.

Năm 1968: 26,5 tỷ MK.

Năm 1969: 28,8 tỷ MK”.

(Trang 338)

Không thấy tác giả ghi nguồn gốc, chắc là nguồn báo Times vì trong các số thống kê khác ông thường nói theo báo Times.

Trong cuốn sách nổi tiếng Khi Ðồng Minh Tháo Chạy, Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng nói về quân phí và quân viện như sau.

“Ðể dễ so sánh, ta nên coi lại những chi tiêu và sự viện trợ quân sự những năm trước đó:

– Trong thời gian 1966-197: Mỹ tiêu 25 tỷ đô la một năm.

– Trong hai năm 1970-197: tiêu 12 tỷ một năm (vì đang rút quân).

– Sau khi Mỹ rút, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa:

– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2.1 tỷ)

– Tài khóa 1974 : một tỷ tư (1.4 tỷ)

– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (07 tỷ). (Trang 223)

Theo Tiến Sĩ Nguyễn Ðức Phương, vấn đề cắt quân viện đã manh nha từ đầu thập niên 1970.

 

“Hành quân Kampuchia năm 1970 đã tạo ra phản ứng chống đối dữ dội của Quốc Hội Mỹ vì họ cảm thấy bị ngành Hành Pháp che dấu sự thật. Tháng Sáu, 1970, Thượng Viện đã biểu quyết với đa số chấm dứt nghị quyết Vịnh Bắc Việt trao toàn quyền hành động cho tổng thống Mỹ từ năm 1964. Hai Thượng Nghị Sĩ John S. Cooper (đảng Cộng Hòa, tiểu bang Kentucky) và Frank F. Church (đảng Dân Chủ, tiểu bang Idaho) một thành viên của Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện đã đề nghị một tu chính án cắt tất cả phí tổn về quân sự của Mỹ tại Miên kể từ ngày 1 Tháng Bảy, 1970. Sau 7 tuần lễ tranh cãi, Thượng Viện Mỹ biểu quyết vào cuối Tháng Sáu, 1970 với 58 phiếu thuận và 37 phiếu chống. Tuy nhiên Hạ Viện đã bác bỏ tu chính án này.

Tu chính án do đó được sửa đổi lại và được biểu quyết chấp thuận vào Tháng Mười Hai. Theo đó Mỹ không được đưa quân tác chiến vào Lào và Thái Lan. Lần đầu tiên tổng thống Mỹ với tư cách tổng tư lệnh Quân Ðội bị giới hạn quyền hành trong tình trạng chiến tranh. Một tu chính án khác do hai Thượng Nghị Sĩ George Mc Gocern (đảng Dân chủ, tiểu bang South Dakota) và Mark O. Hatfield (đảng Cộng hòa, tiểu bang Oregon) đã đề nghị rút tất cả quân đội Mỹ và cắt tất cả quân viện cho VNCH vào cuối năm 1971. Tuy nhiên Thượng Viện Mỹ đã bác bỏ hai lần (1970 và 1971) tu chính án này. Năm 1973, Quốc Hội Mỹ biểu quyết chấp thuận tu chính án do Frank Church và Thượng Nghị Sĩ Clifford (đảng Cộng Hòa) chấm dứt tất cả quân viện cho các nước Ðông Dương.”

(Chiến Tranh Việt NamToàn Tập trang 510 )

Về chi tiết số quân viện bị cắt giảm còn 700 triệu, cuốn Khi Ðồng Minh Tháo Chạy kể trên có nói.

“Tình hình viện trợ từ 1967 đến 1970, lúc Hoa Kỳ còn đang dấn thân sâu đậm ở chiến trường Việt Nam, mỗi năm cuộc chiến đã tốn tới 25 tỷ đô la. Trong hai năm 1970 và 1971, chi phí mỗi năm giảm xuống còn 12 tỷ. Giờ đây, sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, Việt Nam Cộng Hòa phải một mình đảm nhiệm cuộc chiến, và với ngân khoản 700 triệu viện trợ, trong khi đó thì cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng nhớt tăng gấp bốn. Bởi vậy mãi lực thật của ngân khoản ấy chỉ là trên dưới 350 triệu, bằng 3% của mức chi tiêu 1970-71.

Tình hình viện trợ quân sự tài khóa 1975 rất rối ren, nhưng có thể tóm tắt như sau:

-Mức ban đầu do chính phủ Nixon đề nghị là 1,4 tỷ, tức bằng tài khóa 1974.

-Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Nghị Viện do Nghị Sĩ John Stennis (Mississipi) làm chủ tịch giảm còn một tỷ 126 triệu cho cả Ðông Dương, phần chia cho miền Nam là một tỷ.

-Trước khi từ chức, Tổng Thống Nixon ký thành luật một mức tối đa cho Việt Nam Cộng Hòa là một tỷ.

-Sau khi Ford nhậm chức, Ủy Ban Chuẩn Chi Thượng Viện do Nghị Sĩ John McClellan (Arkansas) làm chủ tịch, cắt xuống còn 700 triệu.”

(Trang 222, 223)

Tổng Thống Nixon từ chức ngày 9 Tháng Tám, 1974, phó Tổng Thống Ford lên thay, hạ tuần Tháng Chín, 1974 ông Nguyễn Văn Thiệu cử Bộ Trưởng Ngoại Giao Vương Văn Bắc đi Mỹ để vận động xin thêm 300 triệu quân viện để phục hồi một tỷ như cựu Tổng Thống Nixon đã ký trước đây. Tại Sài Gòn, ông Ðại Sứ Martin vốn sẵn cảm tình với Việt Nam trấn an ông Thiệu yên tâm. Ông Vương Văn Bắc mang bức thư đề ngày 19 Tháng Chín, 1974 của Tổng Thống Thiệu sang trình Tổng Thống Mỹ Gerald R. Ford.

Tại Hoa Thịnh Ðốn, Bộ Trưởng Ngoại Giao Kissinger đưa ông V. V Bắc và Ðại Sứ Phượng vào gặp Tổng Thống Ford, buổi họp kéo dài khoảng nửa giờ. Ngày 24 Tháng Mười, 1974 sau khi ông Bắc đã về VN hơn một tháng, Tổng Thống Ford gửi thư phúc đáp ông Thiệu nói vẫn ủng hộ chính phủ Việt Nam. Ngày 2 Tháng Giêng, 1975 Hành Pháp đưa ra Quốc Hội ngân khoản phụ trội 300 triệu.

Ðầu Tháng Ba, 1975 một phái đoàn Quốc Hội Mỹ được cử tới Việt Nam để thẩm định tình hình trước khi quyết định viện trợ thêm, thành viên đa số là những người có sẵn lập trường chống đối viện trợ cho VN. Phái đoàn Mỹ vừa rời Sài Gòn thì CSBV tấn công Ban Mê Thuột ngày 10 Tháng Ba, 1975. Mấy ngày sau 13 Tháng Ba, 1975, khi ấy Ban Mê Thuột thất thủ, ban lãnh đạo đảng Dân Chủ, cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, họ là thành phần quyết định trong Quốc Hội Mỹ bỏ phiếu với đại đa số chống bất cứ viện trợ nào thêm cho miền Nam Việt Nam. Ngày 10 Tháng Ba, Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm trở về Sài Gòn sau chuyến đi Mỹ vận động, ông nói không hy vọng gì đối với khoản 300 triệu mà sẽ không bao giờ còn viện trợ quân sự nữa.

Ngoài ra một đề nghị khác xin viện trợ khẩn cấp vào giờ chót cũng đã bị Quốc Hội bác. Ngày 25Tháng Ba, 1975 Tướng Weyand và Ðại Sứ Martin họp với Tổng Thống Ford tại Tòa Bạch Ốc, sau đó Tổng Thống Ford cử Weyand đi Việt Nam. Trước khi Weyand đi Sài Gòn vào cuối Tháng Ba, Bộ Trưởng Quốc Phòng Schlesinger đã dặn dò đừng hứa hẹn nhiều, đừng để cho VNCH hy vọng Mỹ sẽ đảo ngược tình thế, họ cho rằng không thể đảo ngược được. Ngày 5 Tháng Tư, 1975 Kissinger họp báo về chuyến đi công tác của Weyand biện hộ cho việc cứu xét 722 triệu Mỹ kim tiền viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam mà Weyand đề nghị. Kissinger cũng muốn bán cái cho Quốc Hội vì thực ra ông cũng không ủng hộ đề nghị trên. Ngày 9 Tháng Tư, 1975, một ngày trước khi Ford ra Quốc Hội, Kissinger đưa lời Ron Nessen khuyên Tổng Thống Ford hãy đưa nước Mỹ ra khỏi VN chớ đừng có đi vào, các bộ hạ, cố vấn của Ford đều khuyên ông bỏ Ðông Dương và VN. Ford là một tổng thống không phải do dân bầu ra, một người không có lập trường , uy tín cũng như khả năng lãnh đạo đã nghe theo các cố vấn.

Gerald Ford ra trước Quốc Hội ngày 10 Tháng Tư, 1975, ông nói Mỹ đã cắt giảm viện trợ VNCH để cho CSBV lộng hành mà chưa có biện pháp trừng phạt. Tổng thống yêu cầu Quốc Hội chấp nhận ngân khoản 722 triệu và ấn định thời hạn 10 ngày, hạn chót để Quốc Hội biểu quyết là ngày 19 Tháng Tư, 1975. Sự thực Ford chỉ đưa ra Quốc Hội cho có lệ, ông đoán biết trước không đi tới đâu, ngân khoản viện trợ khẩn cấp 722 triệu đã bị bác bỏ ngày 18 Tháng Tư, 1975. Báo Times số ngày 21 Tháng Tư, nói ông Ford yêu cầu Quốc Hội viện trợ nhưng chính ông lại chẳng hy vọng gì, họ cho rằng ông đã “bán cái” cho Quốc Hội. Mười năm sau Brent Scowsroft, phụ tá của Tổng Thống Ford đã trả lời rõ ràng trong một cuộc phỏng vấn của Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưhg như sau:

“Thực ra, không một ai trong chúng tôi tin rằng sẽ xin Quốc Hội được khoản tiền ấy (722 triệu đô la). Việc xin như vậy chỉ là một cách làm cho chúng tôi trông có vẻ như vẫn còn thật lòng về tất cả những cố gắng ấy. Chúng tôi chỉ quan tâm đến cách rút đi và giải kết mà thôi”

(Khi Ðồng Minh Tháo Chạy, trang 293.)

Hành Pháp muốn bán cái cho Quốc Hội, họ đổ lỗi cho Quốc Hội một cách khéo léo chứ thực ra trong thâm tâm họ chỉ tìm cách rút lui khỏi VN, dù hành pháp, lập pháp họ cũng là Mỹ, họ vì quyền lợi của đất nước họ.

Hậu quả của việc cắt giảm quân viện.

Cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân đội VNCH trong cuốn Những Ngày Cuối VNCH đã cho biết về ảnh hưởng tai hại của quyết định giảm thiểu viện trợ quân sự của Quốc Hội Mỹ đối với quân đội VNCH, nó đã khiến quân đội thiếu thốn và giảm hỏa lực rất nhiều, không thể tồn tại lâu được nếu không có tăng viện.

“Ngân khoản 700 triệu chỉ cung cấp được phân nửa nhu cầu tối thiểu của quân đội VNCH, trong năm 1975 hoạt động quân sự của CSBV gia tăng 70% hơn năm trước. Sau khi trừ đi 46 triệu cho USDAO, số tiền còn lại được chia ra như sau:

Không Quân: Cần 414 triệu; nhận 183 triệu – 44% ngân khoản yêu cầu.

Lục Quân: Cần 841 triệu; nhận 458 triệu – 54% ngân khoản yêu cầu.

Như vậy, từ số tiền 1 tỉ 283 triệu của ngân sách quân viện năm 1975, VNCH chỉ được 654 triệu – chỉ bằng 51% ngân khoản cần thiết.”

(Những Ngày Cuối của VNCH, trang 85.)

Trong mục nói về ngân quĩ của Không Quân và Hải Quân trang 86, 87 ông Cao Văn Viên đã cho biết cụ thể, xin tóm lược dưới đây như sau.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/51/A-1H_Skyraider_VNAF_armed_in_flight.jpeg

Với số ngân khoản ít hơn, Không Quân VNCH phải giải tán hơn 200 phi cơ gồm các loại như chiến đấu – oanh tạc cơ A-1; phi cơ vận tải C-47, C-7, C-119; và thám thính cơ 0-1. Hồi hương 400 sinh viên sĩ quan đang theo học bay phản lực và trực thăng ở Hoa Kỳ. Giảm giờ bay thực tập và yểm trợ, Không Quân chỉ cung ứng 50% yểm trợ hỏa lực và 58% các phi vụ thám thính so với tổng số các phi vụ trong năm 1973-1974. Sự cắt giảm làm cho chúng ta mất nhiều khả năng theo dõi, thám thính sự xâm nhập của CSBV hoặc hộ tống yểm trợ các cuộc hành quân vận chuyển.

Trực thăng vận bị giảm 70% vì thiếu nhiên liệu gây trở ngại cho việc tải thương, tăng viện hay tiếp tế nhất là tại đồng bằng sông Cửu long, sông ngòi chằng chịt. Trực thăng vận là phương tiện chuyển vận quan trọng để tải thương, tiếp tế, nay không còn yểm trợ trực thăng các đơn vị Ðịa Phương Quân phải dùng võng, thuyền chèo tay để tải thương, thiếu thốn về không vận gây ảnh hưởng tâm lý quân đội. Sự chuyển vận của các phi cơ vận tải bị cắt giảm 50% ảnh hưởng tới việc điều quân của các đơn vị tổng trừ bị, khả năng đưa các đơn vị Dù, Thủy Quân Lục Chiến nhanh chóng tới mặt trận bị ảnh hưởng trầm trọng.

Cac chien dinh LLDNTB.jpg

Các hoạt động Hải Quân bị cắt giảm 50%, các hoạt động ở sông ngòi chỉ còn 28%, sự cắt giảm sâu rộng khiến ta phải giải tán 600 giang thuyền trong đó 240 chiếc thuộc Ðịa Phương Quân, Hải Quân không còn đủ khả năng kiểm soát sông ngòi và vùng ven biển nhất là vùng bốn, sự kiểm soát cửa khẩu dẫn vào sông Sài Gòn, đường sông Sài Gòn Vũng Tầu, các bến tầu Qui Nhơn Ðà nẵng, Cam Ranh nằm trong tình trạng nguy hiểm.

Trang 88 và 89 sách nêu trên ông Cao Văn Viên nói về khó khăn trong việc thay thế phụ tùng và quân cụ.

Trong tài khóa 1973-1974 với số tiền quân viện quá ít, quân đội VNCH chỉ thay được một số quân xa, đại bác và xe tăng. Trong tài khóa 1975 với tất cả ngân quĩ được trưng dùng vào việc quản trị và điều hành cuộc chiến, từ ngày ngưng bắn không một tầu chiến một phi cơ nào được thay thế. Vào cuối năm 1974 tổng số nhu cầu thay thế lên tới 400 triệu đô la, những quân dụng cần thiết như vũ khí đạn dược thì chỉ được thay thế khoảng 70%.

Từ trang 89 tới 94 tác giả đề cập tới tiết mục quan trọng nhất: Nhiên Liệu và đạn dược.

Tổng số ngân sách của Lục Quân năm 1975 là 458 triệu đô la, 52% số tiền đó (239 triệu) dành cho đạn dược, tuy vậy con số này chỉ cung ứng được 56% nhu cầu thực sự của Lục Quân. Hàng tháng ngân quĩ chỉ cho phép lấy ra một số tiền là 19.9 triệu cho chi phí đạn dược. Con số này chỉ bằng phân nửa chi phí hàng tháng trong thời gian từ Tháng Sáu, 1973 đến Tháng Hai, 1974 là 37.3 triệu, ngoài ra vấn đề lạm phát làm giá đạn tăng 27.7%.

Trong 8 tháng từ Tháng Bảy, 1974 đến Tháng Hai, 1975 quân đội sử dụng 19,808 tấn đạn hàng tháng chỉ bằng 27% so với 73.356 tấn dùng hàng tháng trong thời gian trước (có nghĩa là hỏa lực giảm hơn 70%), sau Hiệp Ðịnh Paris trung bình hàng tháng có 2980 hoạt động quân sự của CS so với 2072 vụ trước ngày ngưng bắn.

( Nguồn: http://www.nguoi-viet.com )

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s