Những tài năng tiềm ẩn

Nguyễn Văn Chín

Vì lối chơi chữ của CS trong thông cáo kêu gọi các SQ đi tập trung cải tạo, đa số SQ/QLVNCH và gia đình thân nhân đều bị gạt mà không biết. Theo như thông cáo của CS thì SQ cấp úy chỉ chuẩn bị đồ dùng, tiền bạc và thực phẩm trong vòng mười ngày để đi “học tập cải tạo”. Phần đông ít ai biết được sự thật và chỉ mang theo một ít đồ ăn, tiền bạc, quần áo cần thiết cho mười ngày. Đa số thành phần SQ cấp úy là những người có lợi tức vừa đủ để nuôi sống gia đình, ít người có dư thừa tiền bạc, cho nên muốn đem theo nhiều tiền, nhiều thực phẩm, nhiều vật dụng cần thiết thì cũng ít ai có được.
Trước khi ra đi, những SQ nào có vợ thì vợ giúp chồng chuẩn bị đồ đạc. Riêng những SQ độc thân như tôi, Tài và vài người độc thân khác thì tự lo, cho nên vật dụng, tiền bạc, thực phẩm mang theo có phần hạn chế hơn. Căn bản mỗi người mang theo: hai, ba bộ quần áo, vài áo lót, quần đùi, đôi giày lính, đôi dép, một cái nón, mùng, võng ( nếu cẩn thận). Đồ dùng cho vệ sinh cá nhân: bàn chải đánh răng, kem đánh răng, cục xà phòng, đồ cạo râu, vài ba lưởi dao cạo râu, khăn choàn tắm, kỹ lưỡng hơn, một cây kéo hoặc con dao nhỏ, vài ba cây kim, chỉ để may vá quần áo. Vài cây thuốc lá, hoặc vài bánh thuốc rê và giấy quấn. Thuốc uống: thuốc sốt rét, thuốc nhức đầu cảm cúm, thuốc tiêu chảy, kiết lỵ. Đồ ăn: một hai lon Guigoz mắm ruốc xào thịt, hoặc thịt kho khô hay thịt chà bông. Một cà mên, hoặc chén dĩa, muỗng, một bi đong đựng nước. Tất cả các thứ đó được cho vào một túi xách hay ba lô để lên đường “thi hành nhiệm vụ của một công dân mới”. Tiền thì ít có người đem theo nhiều, ngoại trừ vài cá nhân giàu có, phần đông đem theo năm mười ngàn tiền Đức Trần mà thôi.
Tưởng cũng nên nhắc lại cuộc sống của những SQ/QLVNCH và gia đình còn ở lại VN sau ngày 30 tháng tư, hầu hết gia đình SQVNCH đều sống nhờ vào tiền lương hàng tháng. Sự sinh sống tạm đủ nếu người vợ biết đảm đang và giỏi quán xuyến, nếu có dư thì cũng không được bao nhiêu. Tiền bạc để dành được, nếu để trong nhà thì còn xài được, nếu gởi ngân hàng thì kể như mất hết. Vòng vàng nữ trang phải cất dấu và có thể sử dụng được. Trước mọi sinh hoạt xáo trộn, tiền lương hàng tháng nay không còn nữa, tiền tiết kiệm phải đem ra chi xài. Bấy giờ quan trọng hơn hết là miếng ăn hằng ngày, các chi phí về tinh thần và xa xỉ đều bị hạn chế hoặc đình hoãn. Các gia đình đông con phải lo chuẩn bị dự trữ gạo, thực phẩm, xăng dầu, để có thể xài được lâu vì giá cả còn rẻ, trong khi đó vật giá tăng vọt hằng ngày. Xăng dầu bị nhà nước CS quản lý, lúa gạo bị niêm phong kiểm soát. Sự đi lại vô cùng khó khăn trở ngại vì CS chỉ dành ưu tiên cho bọn chúng. Mua vé xe đò phải có giấy giới thiệu của các cơ quan Việt Cộng. Xăng dầu không đủ để chạy xe hầu phục vụ lợi ích của người dân, cho nên dân chúng nếu cần di chuyển đành phải mua vé chợ đen do các tên VC tham nhũng lợi dụng cất dấu vé xe bán lậu để trục lợi. Sự chuyên chở thực phẩm lúa gạo từ các tỉnh về Sài gòn bị kiểm soát và cấm đoán. Nếu ai muốn kiếm chút tiền lời thì đi buôn lậu gạo và thịt từ các tỉnh miền tây về SG. Nếu may mắn thoát được sự kiểm sóat của công an CS thì có được ít đồng lời, còn như bị bọn chúng bắt lại thì kể như vốn lẫn lời mất hết. Có nhiều phụ nữ trở nên “đàn bà chửa” vì gạo hay thịt được các bà ngụy trang dấu ở trước bụng và trở thành đàn bà chửa để qua mắt công an CS. Dù khó khăn, cực khổ, vất vả và nhiều rủi ro, vẫn có nhiều người đàn bà không nản lòng, cố gắng đi buôn bán để kiếm tiền về nuôi chồng con. Trong số những người đàn bà này cũng có các bà vợ của các chiến sĩ hay SQ của quân lực ta. Những người chồng bây giờ đang bị CS kiểm soát và khống chế không có cách gì kiếm ra tiền để nuôi sống gia đình. Còn những gia đình nào không có cách sinh nhai, phải sử dụng những gì mình đang có. Đầu tiên là tiền để dành được đem ra mua gạo thức ăn hàng ngày, khi hết tiền thì đem nữ trang, vàng vòng nhẫn cưới hột xoàn đi bán để có tiền tiêu xài. Vàng vòng rồi cũng hết, đành phải mang những vật dụng trong nhà đi bán. Bàn ghế, quạt máy, tủ lạnh, xe đạp, xe gắng máy, đồng hồ , radio v.v. và cuối cùng là quần áo. Nói tóm lại thứ gì có thể bán được không trước thì sau không cánh mà vẫn bay, đa số là bay vào tay các tên cán bộ CS mới chiếm miền Nam ! Khi trong nhà không còn gì bán được nữa thì bắt buộc phải dấn thân làm những nghề bất đắc dĩ như bán chợ trời. Hàng ngày sáng sớm, các bà các cô ra chợ Cũ, chợ cầu Ông Lãnh, Chợ Huỳnh thúc Kháng, chợ Gò Vấp v. v. mua đi bán lại những vật dụng, quần áo, đồng hồ radio, thuốc tây v.v. tất cả gì có thể bán kiếm được đồng lời về nuôi chồng nuôi con. Đôi khi có những người đàn bà, con gái không có cách gì kiếm ra tiền, đành phải kiếm tiền bằng những gì sẵn có trên thân thể của họ. Nhiều người đành phải bán thân nuôi miệng. Hầu như khắp các nẻo đường vắng vẻ của SG về đêm nổi lên những chợ người. Đâu đấy trên băng đá công viên, gốc cây vệ đường hay dưới ngọn đèn đường, thấp thoáng bóng dáng những người phụ nữ đang đứng chào mời, đón khách đi tìm của lạ. Số người đáng thương nầy mỗi ngày một gia tăng vì sự nghèo đói càng ngày càng trở nên trầm trọng.
Các món hàng dễ bán và dễ kiếm tiền được đó là đồng hồ, radio, và xe đạp. Những món này đối với dân miền Nam thì quá tầm thường, đôi khi không còn được nhiều người sử dụng nữa, thế nhưng những đồ này là đồ “cao cấp” (danh từ CS dùng để chỉ đồ luxe) của XHCN. Thế hệ 3Đ là thế hệ tiên tiến của XHCN. Vậy thì thế hệ 3Đ là gì? Đó là thế hệ “ĐỒNG, ĐÀI, ĐẠP”. Nếu các cậu trai miền Bắc XHCN nào tay đeo đồng hồ, vai mang radio mở nhạc “đỏ” ồn ào (nhạc kích động lòng hiếu chiến của CS gọi là nhạc Đỏ, nhạc của chúng ta chúng gọi là nhạc Vàng) và đi trên chiếc xe đạp, đó là các cậu trai “thần tượng” của XHCN. Cậu trai mà các em thường ghé mắt đến vì các cậu này hội đủ điều kiện 3Đ, là biểu tượng cho sự phồn vinh, sự tiên tiến của XHCN. Vì thế các tên cán bộ, bộ đội khi được vào Nam phải thực hiện cho được ba điều trên. Riêng đồng hồ còn được bộ đội miền Bắc phân loại với những danh từ “đặc mùi XHCN”. Đồng hồ có cửa sổ hay không có cửa sổ, đồng hồ có người lái hay không người lái, đồng hồ có đèn hay không cò đèn. Một thí dụ: một đồng hồ có hai lỗ trên mặt, một chỉ ngày thứ, một chỉ tháng, đó là đồng hồ có hai cửa sổ! nếu chỉ có một lỗ trên mặt đó là đồng hồ một cửa sổ! Đồng hồ tự động đó là đồng hồ không người lái! Đồng hồ có dạ quang, ban đêm có thể thấy giờ được đó là đồng hồ có đèn! Thật là buồn cười khi nghe những danh từ mà bộ đội CS dùng để phân loại đồng hồ như thế ! Còn anh chàng nào được mang chiếc radio trên vai vừa đi vừa mở nhạc với âm thanh như một loa phóng thanh đó là một niềm hãnh diện to lớn trong đời sống “xã hội CS”. Tên bộ đội nào có được chiếc xe đạp tức là anh chàng “tư sản” trong thế giới “công nông”. Chiếc xe đạp như là một báo vật được các chàng trai CS ôm ấp tưng tiêu, cẩn thận chăm sóc như người tình yêu quí, chiếc xe đạp được “bảo vệ” cẩn thận đến ngày được về quê xứ Bắc để trình làng như là một chiến lợi phẩm “vĩ đại” đã chiếm được của “xã hội Tư Bản”.
Sự chậm tiến và chính sách ngu dân mà chế độ XHCN miền Bắc đã giáo dục và bịt mắt người dân, nhìn những tên bộ đội miền Bắc khi vào Nam cũng định được cuộc sống và trình độ của người dân miền Bắc XHCN như thế nào. Có lẽ xã hội miền Bắc thời đại 1975 chẳng hơn được xã hội năm 1954 bao nhiêu. CS đã kéo lùi dân tộc VN tại miền Bắc hơn hai chục năm tiến bộ. Những thái độ, sự chậm tiến, sự ngu muội của cán bộ CS đã thốt nên thành lời khi tiếp nhận thành phố Sài gòn. Trong những công thự cơ quan chánh quyền, sở, bộ của chúng ta, sự trang bị những phương tiện vật chất để giúp cho sự làm việc có hiệu quả hơn như các phòng ốc gắn quạt trần là chuyện thông thường đối với dân miền Nam, ngược lại là một cái gì xa lạ đối với cán bộ, bộ đội miền Bắc. Có người kể lại rằng CS khi mới vô SG, vào các công thự của ta, chúng vô tình mở chốt điện để quạt máy chạy, khi quạt quay, chúng giật mình và phát ra lời nguyền rủa chúng ta: “ Tụi Mỹ Ngụy nầy vô cùng thâm độc, thua chạy rồi mà vẫn còn gài lại máy chém để giết hại chúng ta !”. Tuy ngu dốt nhưng lúc nào chúng cũng khoác lác với giọng điệu phách lối của kẻ chiến thắng. Chuyện kể rằng: khi những tên bộ đội vào nhà dân ở SG, chúng bắt người dân phải nấu cơm cho chúng ăn, chúng coi như nhân dân phải có bổn phận nuôi ăn chúng. Chúng tự đại coi như chúng là ân nhân của dân, đã vào giải phóng dân Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ. Chúng tha hồ khua mai múa mỏ cho rằng miền Bắc XHCN là ưu việt, xã hội tốt đẹp tiên tiến hơn hẳn trong Nam vì miền Nam bao nhiêu năm qua bị đô hộ bởi đế quốc Mỹ. Người dân tuy không dám nói ra bằng miệng nhưng đã phản ứng một cách thâm thúy để lật tẩy bọn chúng bằng những mẩu chuyện độc đáo như sau:
Dân hỏi:
-Ngoài Bắc có xe Honda không?
Bộ đội trả lời:
-Xe Honda chạy đầy đường.
-Ngoài Bắc có tủ lạnh không?
-Có, tủ lạnh chạy đầy đường! (dân cười khúc khích!)
Ngoài Bắc có nhiều lúa gạo, thịt cá không?
-Thịt cá ăn không hết phải đem phơi khô.
-Vậy chớ miền Bắc có cà rem không?
-Có nhiều lắm, ăn không hết phải đem phơi khô! (thôi cố nín cười, không khéo chúng ghép tội phản động đưa đi tù cải tạo thì không có ngày ra).
Thế đấy, trước khi vào Nam, chúng đã được chính ủy nhồi sọ, chỉ đạo, ra lệnh cho thuộc hạ của chúng khi vào Nam tiếp xúc với dân Nam thì phải ca tụng miền Bắc XHCN cái gì cũng có, cũng dư thừa, cũng hiện đại hơn miền Nam vì thế các tên bộ đội ngu dốt cứ thế mà khoác lác mà khoe khoang, mà ca tụng thiên đường CS !
CS khi vào SG thấy cái gì cũng đẹp đẻ, nguy nga tráng lệ. Đối với chúng thành phố Sài Gòn là thiên đường hạ giới. Những cái mà chúng chưa từng thấy từng biết dưới xã hội do Bác lãnh đạo nấy chục năm nay, đưa chúng đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Câu chuyện khôi hài của môt anh bạn tù kể lại để châm biếm sự chậm tiến của con người sống trong xã hội XHCN. Chuyện kể rằng: có một tên bộ đội lọt giữa trung tâm SG sầm uất, gã bộ đội trong bộ quân phục nhầu nát, có lẽ nhiều ngày chưa được giặt, chân mang đôi dép râu nhãn hiệu Trung Cộng, đầu đội cái nón cối cũng nhãn hiệu Trung Cộng, gã đang đi trên đường Nguyễn Hụê, đi gần tới tòa nhà cao trên mười tầng, sang trọng ở phía bên trái nếu ta đi về hướng sông SG, ở giữa đoạn đường N.H, vì hiếu kỳ muốn đếm xem tòa nhà được bao nhiêu tầng mà cao thế! gã ta đứng lại và bắt đầu đếm từ dưới lên trên 1..2..3..4….7..8…Vì càng đếm lên cao, gã ta phải ngước mắt lên trời để đếm đầu phải ngã về phía sau lưng, khi đếm đến tầng thứ 7..8. thì cái vành nón cối chạm vào cổ làm cái nón cối sắp sửa bị rớt xuống đất, gã vội vã hai tay chụp lại cái nón để khỏi bị rơi, khi nón đã nằm yên trên đầu thì mắt đã quên không còn biết mình đã đến tới đâu rồi! Tên bộ đội bắt đầu đếm lại từ đầu: 1..2..3..4….7..8.., nón cối lại sắp sửa rơi, gã phải chụp lại như lần trước ! và như thế không bao giờ tên bộ đội biết tòa nhà cao bao nhiêu tầng !!! (Các bạn thử tưởng tượng hình ảnh gã bộ đội này với các hành động, có lẽ các bạn không nhịn cười được).
Các câu chuyện trên, có lẽ người kể có thể “thêm mắm dậm muối” cho sự việc trở nên khôi hài, nhưng tôi nghĩ rằng những sự kiện ấy đã xãy ra dưới hình thức nầy hay hình thức khác và tôi tin rằng đó là những câu chuyện có thực khi CS mới chiếm SG. Tôi xin kể một câu chuyện có thật một trăm phần trăm vì câu chuyện này xãy ra trong thân nhân của tôi. Chắc hẳn các bạn đã biết đại tá cơ khí Nguyễn hữu T. nguyên là chỉ huy phó HQ Công Xưởng (Ông là anh em chú bác ruột với mẹ tôi) có một người anh rể nuôi mà chúng tôi gọi là dượng Ba Bê. Dượng Ba Bê này đi theo Việt Minh và tập kết năm 1954 bỏ lại vợ và hai đứa con gái. Khi CS đã chiếm miền Nam, dượng Ba Bê được hồi kết. Là một cán bộ CS từ khi ra Bắc đã chuyển ngành sang phục vụ ở các cơ quan hành chánh không còn ở trong quân đội nửa, ( đa số các người thuộc thành phần chỉ huy, lãnh đạo tập kết khi ra Bắc đều chuyển sang dân sự, CS nói rằng không muốn những người trong Nam ở trong quân đội nửa vì có thể mất mát, tử vong vì H.C. Minh muốn rằng khi “giải phóng” được miền Nam các người này được toàn vẹn trở về với vợ con. CS nói cái gì nghe cũng tốt đẹp cả, nhưng theo tôi, cần phải suy nghĩ kỹ lại những gì CS nói. Kinh nghiệm bản thân và lịch sử đã chứng minh là CS nói một câu gì thì đừng bao giờ tin đó là CS nói thực. Theo suy nghĩ của tôi: sở dĩ những người này khi tập kết ra Bắc đều ra dân sự với hai lý do:
1- Những người Việt Minh này thường không phải là thành phần “bần cố nông”, vì đa số họ xuất thân từ giai cấp điền chủ hay thành phần khá giả có theo Tây Học, hai thành phần này không thể sử dụng để xây dựng XHCN vì CS không tin tưởng.
2- Không muốn cho những người này còn ở trong quân đội, họ có thể cấu kết làm loạn. Có người đã bị thanh trừng khi ra Bắc trong số đó có nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 307 “có lẽ tù nhân cải tạo nào cũng biết vì hàng đêm CS bắt tù nhân phải ca bài hát Tiểu Đoàn 307”. Có dịp tôi sẽ kể các bạn nghe về việc thanh trừng này”).
Khi trở vô Nam dượng Ba Bê về Vĩnh Long để tìm lại vợ con, gia đình. Sau khi tìm được nhà cũ hồi trước khi đi tập kết thì nhà này không còn chủ cũ nữa, người hàng xóm chỉ lại một nhà khác ở cách đó không xa lắm. Khi cán bộ CS Bê tìm đến địa chỉ thì thấy một căn biệt thự kính cổng cao tường. Vì là cán bộ miền Bắc chưa từng bao giờ vào căn nhà nào sang trọng như thế nên dượng Ba Bê lưỡng lự không dám bấm chuông, còn đang lắp ló ngoài cổng rào thì người nhà thấy và chạy ra hỏi tìm ai. Cán bộ CS nói tìm nhà ông Sáu H. (cha của đ/tá T.) thì cô gái mở cửa hơi giực mình vì nghi ngờ người cán bộ CS này là cha mình. Dượng Ba xưng danh tánh thì quả đúng sự thật người nầy là người cha đã bỏ đi “theo Bác” mấy chục năm nay. Cán bộ được mời vào nhà với bao nhiêu ngỡ ngàng,bước đi không vững, vì ngạc nhiên trước sự thay đổi quá lớn so với óc tưởng tượng của mình, trong khi tay đang ôm gói quà mang từ miền Bắc XHCN về định biếu cho vợ con và cha già. Nhưng, cha già thì không còn nữa vì ông đã qua đời hơn chục năm nay, chỉ còn lại vợ, bà vẫn một lòng “chung thủy” chờ chồng nuôi hai đứa con từ khi mới biết đi chập chững nay đã lớn khôn. Vào nhà gặp lại vợ cũ vẫn một dạ trung thành, khi nhớ lại thân phận thì tự thấy xấu hổ vì biết rằng mình không có được chữ nghĩa đó là dám bỏ con dại đi theo CS, và cũng không còn chữ tình vì đã có vợ khác ngoài ấy rồi.
Gia đình tụ họp đầy đủ hàn huyên, trao đổi tin tức thân nhân ai còn ai mất. Dượng Ba Bê biết được là cha đã mất, còn anh em thì sao? Cán bộ CS quay sang hỏi vợ:
– Còn thằng Ti. và thằng Th. đâu rồi? (Th. là em của đ/tá Ti., ông là thiếu tá tiểu khu Vĩnh Long)
Dì Ba Bê trả lời:
-Đã đi ngoại quốc rồi.
Cán bộ CS thở dài và phát biểu quan niệm sống:
-Đất nước hòa bình rồi mà đi theo Mỹ làm chi vậy!
Than ôi!, cũng vì ý nghĩ này mà bao nhiêu người đã vào trại tù cải tạo của CS, thật đáng tiếc cho sự thật thà của những người ít biết về CS. Nhưng cũng đừng nên khơi lại sự sai lầm này, ngay như cán bộ CS hồi kết này sống dưới chế độ CS mấy chục năm cũng chẳng biết nhiều gì về CS.
Chưa nói đến quà tặng mang từ miền Bắc về. Các đứa con hỏi :
-Ba mang gói đồ gì vậy để con đem cất cho ba.
– Đây là chục chén đồ gốm mua ở hợp tác xã đem về cho má con, và trà “cao cấp”, mua ở cửa hàng về cho ông Ngoại.
– Đứa con nhìn chục chén đá và gói trà và thật tình “tâm sự” với cha:
-Chén này bây giờ nhà mình không còn xài nữa đâu ba, nhà có đầy một tủ chén, dĩa kiểu, chén đá bây giờ ít người xài lắm, còn trong này trà tàu thơm ngon lắm, mà nhà mình không có ai uống trà nữa vì ngoại đã mất rồi.
Cán bộ CS này định mang quà về tặng gia đình, nhưng khi bước vào căn biệt thự thì không còn dám đem quà ra tặng bởi vì hởi ơi! đồ của XHCN có lẽ là không thích hợp với căn biệt thự này! Sau một thời gian sinh sống ổn định thì dượng Ba Bê thật tình thố lộ: hồi còn ở ngoài Bắc nhà nước nói là trong Nam đế quốc Mỹ đô hộ, dân tình đói khổ không có cơm ăn đến nổi chén cũng không có mà dùng phải dùng mũn dừa để ăn cơm (gáo của trái dừa khô cưa ra làm đôi, dùng nửa mũn dừa ấy để đựng cơm ăn). Cho nên dượng Ba Bê mua chén về làm quà cho gia đình chắc là gia đình quí lắm !!!
Thế đấy, là một cán bộ CS người có được ăn học trước khi gia nhập Việt Minh, trình độ cũng có, mà khi tập kết ra Bắc và sống dưới chế độ CS mấy chục năm đã trở thành người đuôi, điếc, bởi vì đã bị CS bịt mắt nhồi sọ để “sản xuất” ra những công cụ, chỉ biết phục vụ tham vọng của bọn người vô thần, độc ác, họ chỉ biết nghe và làm những gì Đảng chỉ đạo, con người trở nên thụ động và ngu muội không còn biết suy nghĩ phân biệt được những điều đúng, sai, chân, giả. Chính vì sự kiện này nên tôi tin là những chuyện “truyền khẩu” trong dân gian là có sự thật.
Chúng ta cũng thừa hiểu rằng: từ lý thuyết, CS đã đào tạo những con người sắt máu, những người hầu như không còn tình cảm và nhân đạo nữa.
CS đã nói “phương tiện biện minh cho cứu cánh”. CS có thể làm bất cứ chuyện gì để đạt được mục đích, nếu cần phải sử dụng mọi phương tiện cho dù phương tiện đó có vô nhân đạo đi chăng nữa. Chúng có thể tiêu diệt một tập thể đối lập (điển hình là việc tiêu diệt “giai cấp địa chủ, cường hào ác bá” trong chính sách cải cách ruộng đất năm 1959 do Trường Chinh chủ động, đã giết chết biết bao nhiêu người tại miền Bắc (tôi sẽ kể lại cho các bạn biết cuộc đàm thoại của tôi với một bà lão là chứng nhân của cuộc đấu tố đã xãy ra trong thời kỳ ấy tại miền Bắc). Cuộc tàn sát, quân nhân, cán bộ , công chức và thân nhân gia đình người Việt Quốc Gia tại Huế vào tết Mậu Thân 1968) hay hy sinh cả một thế hệ. Chúng đã từng tuyên bố rằng “Trồng người một trăm năm”, có nghĩa là: những ai đối lập với chúng, chúng sẵn sàng tiêu diệt, dù có trải qua giai đoạn một trăm năm để thực hiện mục tiêu của chúng. Vì thế khi chiếm được miền Nam, chúng làm bất cứ chuyện gì để áp đặt chế độ CS tại miền Nam như chúng đã từng làm mấy chục năm nay tại miền Bắc. CS đã dùng súng đạn, bạo lực để đe dọa nhân dân miền Nam. Chúng sẵn sàng đàn áp bất cứ ai có tư tưởng hoặc hành động chống đối chúng. Ngay như MTGPMN là công cụ, tay sai của chúng cũng đành nuốt hận, câm nín, nay ăn năn thì cũng đã muộn rồi. Thế mới thấy mớ trí thức đui và điếc của đám người miền Nam “ăn cơm Quốc Gia thờ ma CS”( Đui là không thấy gì đã xảy ra của thế giới CS kể từ năm 1907 tại Nga Sô dưới chế độ Lenin và Stalin, cách mạng Đỏ của Mao Trạch Đông tại Trung Cộng, tại Cuba hay tại các nước Đông Âu. Điếc là không nghe những gì của chính những người cùng chủng tộc mình kể lại khi họ phải rời bỏ ruộng vườn, quê hương, mồ mả tổ tiên, nơi chôn nhau cắt rún, khi phải chạy lánh nạn CS, từ Bắc vô Nam năm 1954). Bọn tay sai này đã trả cái giá rất đắt khi tiếp tay với bọn CS nằm vùng dâng hiến miền Nam cho CS để rồi ôm hận suốt đời, cho đến khi xuống mồ vẫn còn nghe âm vang những lời nguyền rủa của hàng chục triệu người dân miền Nam.
Dưới chế độ công an trị của CS, người dân miền Nam không biết làm gì hơn là câm nín chịu đựng vì hệ thống tình báo dầy đặc, sẵn sàng tố cáo phát giác bất cứ hành động nào của người dân trong từng khu phố, từng hang cùng ngõ hẻm. Các trại tù trá hình ngụy trang dưới danh từ hoa mỹ “trại cải tạo” mọc lên đầy dẫy, nơi ấy con người bị đọa đày còn hơn súc vật với mục đích khủng bố người dân để chúng dễ bề thống trị. Trại cải tạo là một cơn ác mộng của người dân miền Nam.
Một câu chuyện khôi hài để kể lại sự khủng hoảng của người dân khi nghĩ đến “Trại Cải Tạo”:
Sáng ngày kia người bộ hành trông thấy một con voi nằm giữa đường. Anh voi này mọi ngày ở trong sở thú, suốt ngày anh biểu diễn chút trò để làm vui cho khách thăm quan hầu kiếm tiền cho “nhà nước”. Ngựơc lại nhà nước chỉ cho anh ta ăn một ít cỏ khô héo, anh thấy nhà nước đối xử với anh quá bóc lột, bất công. Anh kiếm không ít tiền cho nhà nước mà chưa bao giờ anh được cho một khúc mía ngon ngọt như trước kia khi còn chính phủ VNCH hàng ngày đã cho anh ăn. Để phản đối sự đối xử tệ bạc này, hôm nay anh ta quyết định đình công. Anh phá chuồng đi ra khỏi sở thú, đến giữa đại lộ Thống Nhứt, anh nằm vạ làm cản trở lưu thông, xe cộ kẹt cứng không còn di chuyển được nữa. Không ai có thể khuyên bảo anh trở về sở thú được kể cả người chăn và cho anh ăn hàng ngày. Cho đến một lúc kia có tên công an quản giáo trại cải tạo Chí Hòa đi ngang tên quản giáo này kề miệng vào tai con voi thì thầm nho nhỏ một hai câu gì ngắn gọn. Sau đấy người ta thấy con voi tự nhiên lật đật đứng dậy đi một mạch về chuồng trong sở thú. Mọi người ngạc nhiên không biết tên quản giáo này nói gì với con voi mà nó dâng lời tức khắc. Đám đông xúm lại hỏi tên quản giáo đã nói gì với con voi mà nó đi ngay vậy? Tên quản giáo trả lời: tôi đâu có nói gì đâu ngoài câu “ Nếu mầy còn đình công không chịu trở về sở thú thì tao cho mầy đi cải tạo đó!”. Con voi nghe đến hai chữ “cải tạo” là nó mất hồn và tức thời đứng lên trở về sở thú. Thế đó con voi to lớn, mạnh khỏe như thế mà khi nghe đến cải tạo đã thất kinh hồn vía rồi nói chi đến đám dân đói ăn yếu đuối từ khi CS chiếm miền Nam.
Dưới sự kềm kẹp bởi công an, trại cải tạo, sự kiểm soát khống chế bao tử (chế độ phân phối lương thực thực phẩm theo tiêu chuẩn nhà nước qui định cho từng người, từng gia đình, phải có tờ khai gia đình chính thức (CS gọi là hộ khẩu) mới được mua) CS đã kiểm soát được an ninh mà chúng mong muốn. Rất ít những cuộc nổi dậy của người dân ngoại trừ một số chiến sĩ bất khuất, anh hùng của ta còn lẫn trốn trong các khu rừng, thỉnh thoảng chận đường xe của bọn cán bộ, bộ đội để ám sát hoặc lẻn vào các kho đạn đặt chất nổ phá hoại. Còn dân chúng thì không thấy có được các phản ứng tích cực như đình công hoặc biểu tình phản đối. Nói như vậy không có nghĩa là người dân ngoan ngoãn nghe theo lời bọn CS. Người dân miền Nam phản ứng một cách sâu sắc ý nhị và khôi hài. Lòng người oán hận câm hờn bọn tay sai MTGPMN và bọn VC nằm vùng, mọi người đều muốn phơi bày, bộc phát những tâm tư, những lời nguyền rủa đám tay sai này, dù biết rằng đám người này nay không còn giá trị gì dưới mắt CS, cũng như không có chút quyền hành gì đối với đám đầu xỏ Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng. Chúng đã bị cho ra rìa và đang khóc hận mà không biết phải làm gì đây?
Phản ứng của người dân qua câu chuyện sau đây:
Một buổi sáng như mọi buổi sáng, trong khu hẻm bình dân, Bác Hai ngày nào cũng ra ngồi ở quán cà phê nghèo trong xóm. Như thông lệ nơi đây là điểm tập họp của các chú các bác có tuổi láng giềng, vừa ngồi uống cà phê vừa trao đổi tin tức hàng ngày xảy ra trong thành phố. Vừa uống được nửa ly cà phê, thình lình như vừa nhớ ra chuyện gì, Bác Hai quay qua nói với chú Năm:
-Chú Năm à, hôm qua tôi ra chợ Sài Gòn, tôi thấy Văn Vĩ chạy Xe Honda!
Chú Năm ngạc nhiên, lật đật hỏi lại bác Hai:
-Anh Hai nói sao, Văn Vĩ đui mà sao lái xe Honda được?
Bác Hai điềm tĩnh trả lời:
-Chú Năm không biết sao, Văn Vĩ sáng mắt rồi!
Câu chuyện Văn Vĩ này thật là hàm súc và sâu sắc, nó ám chỉ bọn tai sai MTGPMN nay đã bị thất sủng rồi có hối hận thì đã quá trể không còn lấy lại được miền Nam như chúng hy vọng trong ảo tưởng. Chúng mơ mộng một thế giới công bằng theo kiểu bánh vẽ XHCN, nay đã sờ mó được thế giới mới thì hỡi ôi! nó còn tệ hại gắp trăm lần xã hội mà đã nuôi chúng thành người. Người mù nay đã sáng mắt ,nhưng nay chúng trở nên người tù bởi các “đồng chí” của chúng, cùng chung số phận của hơn sáu chục triệu người dân cả hai miền Nam Bắc.
Thực tình mà nói, tội lỗi của CS đã xô đẩy dân tộc ta vào vòng binh đao chiến tranh huynh đệ tương tàn được chủ động bởi một nhóm người chóp bu nằm trong Ủy Ban Trung Ương Đảng, thập niên bảy mươi thì Hồ Chí Minh đã qua đời (theo tôi nghĩ: Hồ Chí Minh chết năm 1969 vì quá thất chí và suy sụp tinh thần nên lâm bịnh mà chết. Có hai lý do:
1- Bị đàn em lừa dối và thao túng không còn ngoan ngoãn, vâng lời như xưa nữa, đàn em báo cáo láo là dân miền Nam rất chán ghét chế độ, nếu tổng tấn công thì sẽ chiếm được miền Nam vì có dân nổi dậy. Với yếu tố bất ngờ, chúng có tham vọng trở thành vua Quang Trung thứ hai và yếu tố xảo trá lừa gạt chánh phủ và quân đội ta vì chúng đã thỏa thuận với quân ta là ngưng bắn trong ba ngày đầu năm âm lịch để dân ăn Tết. Phối hợp các yếu tố đó, CS chắc chắn trăm phần trăm là sẽ chiếm được miền Nam. Vì thế Hồ Chí Minh ra quyết định sai lầm tổng tấn công Tết Mậu Thân.
2- Thất bại trong cuộc tổng tấn công đã làm thiệt hại mấy trăm ngàn quân, đã phá hủy biết bao nhiêu công trình xây dựng lực lượng, tốn hao rất nhiều năm để đào tạo binh sĩ. Sau Tết Mậu Thân lực lượng quân MTGPMN hầu như tan rả. Như thế mộng xâm lược miền Nam của H.C.Minh kể như tan biến. Chính vì hai lý do nầy mà H.C Minh đau buồn rồi ngã bịnh mà chết.)
Còn lại sau khi đã chiếm miền Nam là ba tên đầu xỏ: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng nắm trọn quyền hành và tha hồ thao túng trên chính trường. Chính ba tên này đã gây những đổ vỡ cho dân tộc ta. Vì thế dân miền Nam không muốn sự hiện diện của họ trên đất nước VN nữa.
Câu chuyện sau đây nói lên sự trông chờ trong lòng người dân, đó cũng là những lời “trù ẻo” của dân đã dành cho họ. Chuyện kể rằng:
Một ngày đẹp trời, đồng chí tổng bí thư Đảng CS Lê Duẩn hứng chí rủ hai đồng chí chủ tịch quốc hội Trường Chinh và đồng chí thủ tướng Phạm văn Đồng đi kinh lý trong Nam để xem dân tình trong ấy sống ra sao sau ngày cướp miền Nam,có được sung sướng không? Ba đồng chí hí hửng lên chiếc phi cơ mới lấy được của Mỹ Ngụy vì phi cơ của Mỹ “luxe” hơn ( Đồ của tư bản bao giờ cũng tốt hơn đồ của XHCN, đó là lời tâm sự của đồng chí Tổng Bí Thư với hai đàn em!). Phi cơ đang bay trên cao độ bình thường, thình lình đồng chí Lê Duẩn ra lệnh cho viên phi công bay thật thấp để thấy đám nông dân đang cấy lúa trên cánh đồng nắng chang chang. Sau khi phi cơ hạ thấp xuống có thể nhìn đám dân cày, đồng chí Lê Duẩn ra lệnh cho viên phi công lượn mấy vòng và hắn mở giọng “đạo đức”: “Thấy dân nghèo lòng tôi tội nghiệp dân quá” và quay qua hỏi Phạm Văn Đồng:
-Theo đồng chí, đồng chí làm thế nào cho số nông dân nầy sung sướng?
Đồng suy nghĩ chóc lát rồi trả lời:
-Tôi ném xuống tờ giấy một trăm đồng thì sẽ có một người sung sướng.
Duẩn quay qua hỏi Trường Chinh cũng câu hỏi ấy.
Chinh không cần suy nghĩ lâu liền trả lời:
-Tôi đổi tờ giấy một trăm đồng thành mười tờ giấy mười đồng và ném xuống thì sẽ có mười người sung sướng.
Đến phiên Lê Duẩn phát biểu ý kiến:
-Theo tôi thì tôi đổi tờ giấy một trăm đồng thành một trăm tờ giấy một đồng và ném xuống thì sẽ có một trăm người sung sướng.
Sau khi nói xong Lê Duẩn xoa tay ra chiều đắc ý lắm và quay sang hỏi viên phi công:
-Theo đồng chí thì đồng chí làm thế nào cho đám nông dân kia sung sướng?
Viên phi công bình tĩnh và chậm rải trả lời:
– Thưa đồng chí Tổng Bí Thư, theo tôi thì tôi chỉ cần nhảy ra khỏi máy bay này thì không những đám người nông dân dưới kia sung sướng mà còn hơn sáu chục triệu người của hai miền Nam Bắc đều được sung sướng!
Viên phi công đáng được tuyên dương công trạng. Đúng sự thật, nếu không có ba tên CS này thì nước ta không đến nỗi tàn tệ như ngày hôm nay.
CS rất thông thạo về khoa học tâm lý. Chúng nghiên cứu rất tỉ mỉ, chúng hành động rất có hệ thống và hiệu quả. Các bạn thừa hiểu rằng: nếu hằng ngày chúng ta thường đối diện với một hình ảnh hoặc nghe lập đi lập lại mãi một vấn đề, một đề tài, thì những điều đó xâm nhập tự nhiên vào đầu óc mình hồi nào mà mình không hay biết. Mới đầu những điều mình nghe hay thấy không đúng với nhân sinh quan của mình thì lập tức bị trực giác phản đối và loại trừ. Nhưng theo thời gian vẫn bị những thứ đó cứ tấn công mãi thì phản ứng loại trừ ấy bị suy giảm và bị tiêu diệt. Sự yếu kém về phản kháng cộng với sự đồng lõa của đám đông nên mình vô tình bị đồng hóa vời họ. Chính vì yếu tố này mà sau khi CS đã chiếm miền Nam, chúng bắt loa khắp cả các khu phố, mọi phường khóm lớn nhỏ. Hàng ngày chúng tỉ tê những lời tuyên truyền chiến thắng, ca tụng chủ nghĩa CS, phỉ báng “đế quốc Mỹ’ và chánh phủ, quân lực VNCH. Dù không muốn nghe cũng không được vì chúng ta không thể bịt tai ta lại. Khắp cả các nẻo đường, từ ngã ba, tư trong thành phố, đến các cao ốc nơi trung tâm hay khu chợ bình dân trong hẻm vắng đều treo các biểu ngữ, cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm màu máu. Nội dung các biểu ngữ mục đích ca tụng chế độ hay lãnh tụ, thí dụ như: “Không có gì quí hơn độc lập tự do”, hoặc “Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”. Dù chướng tai gai mắt nhưng người dân không làm gì hơn được với các loa phóng thanh và các biểu ngữ trên. Duy chỉ có cách phản đối khôn ngoan thì CS không thể bắt tội được.
Trong xóm tôi, là xóm lao động chợ Bàn Cờ, chung cư Nguyễn Thiện Thuật, có bác Tư đã già rồi, hàng ngày bác kiếm sống bằng nghề đạp xe xích lô. Tuy nghèo nàn nhưng trước kia bác vẫn sống vui vẽ ung dung thoải mái với bà con trong chòm xóm. Nhưng từ khi CS vào thì cuộc sống của bác bị xáo trộn. Xáo trộn không phải do không kiếm ra tiền, vì nghề đạp xe xích lô của bác không bị ảnh hưởng bao nhiêu. Bây giờ người dân đã nghèo và phương tiện di chuyển nay lại hạn chế , chỉ có xe xích lô là phương tiện rẻ tiền mà hầu như mọi người cần di chuyển phải sử dụng. Xáo trộn là vì hàng ngày bác phải trực diện với đám người bất nhân xảo trá. Lúc nào cũng sống trong hồi hợp dưới đám công an luôn rình mò, dòm ngó, xoi mói, canh chừng từng hành động, di chuyển của mọi người và bác rất buồn và bất mãn CS đã tạo nên một xã hội mới không còn nhân bản và tự do nữa. Dù rằng CS truyên truyền tự cho chúng là đại diện cho giai cấp của dân nghèo, giai cấp của công nông, nhưng bác đã nhận ra sự lừa đảo, sự dối trá xảo ngữ của chúng.
Để nói lên sự câm hận ấy, hàng ngày trước khi lên chiếc xe xích lô đi kiếm sống, ra khỏi nhà mỗi ngày như mọi ngày bác Tư đều hô to câu “Bác Hồ Vĩ Đại, Bác Hồ Vĩ Đại”, rồi ung dung đạp chiếc xích lô ra khỏi xóm. Mới đầu mọi người nghĩ rằng bác tư xích lô là giai cấp nghèo kém trong xã hội cũ, nên khi CS vào bác ta mừng vì được “giải phóng” như lời tuyên truyền của CS, nên bây giờ bác mang ơn Đảng và nhứt là “Bác Hồ”, thành thử mỗi ngày trước khi đi làm việc bác Tư đều mở miệng tung hô lời suy tôn Hồ Chủ Tịch.
Nhưng ngày nào người ta cứ nghe điệp khúc suy tôn như thế, cho nên có người lấy làm lạ và suy nghĩ kỹ lại: tại sao bác Tư này “yêu Bác Hồ” đến thế? Hay là bác bị bịnh thần kinh? Cuối cùng người ta mới khám phá ra sự thật. Vì quá uất ức bác Tư không biết làm gì hơn là chửi H.C. Minh cho bớt cơn tức giận mà công an không thể nào bắt bác được. Các bạn cũng đã biết: tiếng nói miền Nam có cách “nói lái” có nghĩa là cái âm điệu phải nói ngược lại mới ra nghĩa chính của chữ muốn nói. Như thế các bạn biết bác Tư xích lô đã nói gì. Chữ “Vĩ Đại” nếu nói lái là “Dại ĐĨ”. Thế ra từ lâu nay bác Tư xích lô đã chửi H.C.Minh là dại đĩ mà người ta cứ tưởng là bác Tư quá thích thú sống dưới chế độ mới XHCN. Thế đó dân mình rất thâm thúy, chữ Việt mình rất phong phú. CS hay chơi chữ, nhưng lần này chúng bị dân miền Nam chơi chữ lại với chúng.
Chuyện xãy ra lan truyền cả xóm biết, cả Sài Gòn biết và cuối cùng cả nước biết. Dĩ nhiên CS đã nghe biết nhưng chúng không làm gì được Bác Tư xích lô vì bác đã già rồi (cùi không sợ lở) và không lẽ vì lời “suy tôn Bác Hồ” mà bắt Bác Tư đi cải tạo. Sau chuyện xãy ra như thế thì các biểu ngữ “Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta” đã được CS tháo gỡ xuống hết ở tất cả mọi nơi trên đất nước.
Trên đây là những câu chuyện trong nhiều câu chuyện vui, chuyện châm biếm, chuyện hài hước, được lưu truyền trong dân gian từ khi CS chiếm miền Nam. Những câu chuyện chứa đầy ý nghĩa vừa sâu sắc vừa hàm súc để nói lên những bất mãn, những chống đối bằng tư tưởng vì dù CS có khống chế con người về thể xác nhưng chúng không thể khống chế tư tưởng con người được.
Tôi xin trở lại chuyện các SQ ta sau khi vào trại cải tạo.
Sau mười ngày, hầu hết các thực phẩm và thuốc hút mang theo hầu như cạn hết. Đồ dùng lúc đó chưa phải là vấn đề đáng bận tâm nhưng thuốc lá lại được coi như nhu cầu cần thiết cho đa số tù nhân. Khi đi trình diện, mỗi người mang theo được một vài cây thuốc lá hoặc vài ba bánh thuốc rê mà thôi; thuốc lá thơm như thuốc Capstan, thuốc lá ngoại quốc như Marlboro, Pall Mall, thuốc Ba Số 5 v.v. là những món hàng mà người dân bình thường không thể với tới được, vì giá những thứ đó rất mắc. Hãng thuốc lá Basto gần bến xe đi lục tỉnh và hãng thuốc lá MIC ở gần cầu Ông Lãnh đều bị CS chiếm giữ và quốc hữu hóa; các hãng thuốc lá hầu như không còn sản xuất từ khi CS chiếm SG, nên thị trường thuốc lá trở nên khan hiếm và đắc đỏ. Cơn nghiện thuốc lá là một vấn đề đối với những ai từng có thói quen hút thuốc lại không còn thuốc để hút. Thuốc lá dĩ nhiên là một nhu cầu cần thiết đối với tù nhân đã nghiện lâu rồi,thế nhưng cũng còn có vài người trước đây chưa từng biết hút thuốc, lúc bấy giờ cũng tập tành hút thuốc chơi cho đỡ buồn; thế rồi lâu dần họ trở thành người hút-xách chính cống. Hậu quả là: họ bị vướng vào nỗi khó khăn mới; anh bạn tù thân thiết của tôi và Tài tên Châu là một trường hợp điển hình; có lẽ những người như anh Châu vướng vào thói quen hút thuốc như vậy vì họ buồn nhớ gia đình, cũng có thể vì tình cảm thân mật giữa anh em bạn tù với nhau. Theo thời gian, thói quen ấy đã trở thành bệnh nghiện thuốc lá đến nỗi phải cưu mang ra tận miền Bắc.
Tiền bạc người tù đem theo vẫn còn nguyên vì không có ai được phép buôn bán gì hết! CS luôn luôn phong tỏa khu vực giam giữ tù nhân giống như khu quân sự; bộ đội kiểm soát canh chừng không cho dân chúng bén mảng tới vòng đai trại giam. Chính vì vậy trại giam hầu như bị cô lập với thế giới bên ngoài. Suốt thời gian ở Suối Máu, chúng tôi không hề thấy một bóng người thường dân lai vãng.
Tù nhân, ngoài hai bửa cơm với khẩu phần “chết đói”, họ chưa hề được bọn cai tù CS cho ăn thêm bất cứ món ăn đệm nào khác. Những người có mang theo bánh kẹo, đường sữa thì trong vòng vài tháng ăn nhín cũng đã hết rồi. Vì thế cơn đói và nỗi thèm khát chất ngọt lẫn chất béo bắt đầu hoành hành bao tử. Đấy là tình trạng chật vật của tù nhân chỉ mới vào nhà tù có vài ba tháng thôi; các bạn hãy tưởng tượng cơn đói ấy vày vò thể xác người tù đến mức khủng khiếp như thế nào khi thời gian tù đày kéo dài đến năm bảy năm, có người trên mười năm dài đằng đẵng, thử hỏi người tù CS quá lâu như vậy, họ đã đau khổ biết chừng nào vì phải chịu đựng cơn đói triền miên.
Đôi khi nghĩ lại mà buồn mà tủi cho thân phận một cựu sĩ quan, chỉ vì không chịu đựng nổi cái đói hành hạ, đành phải đi “xin ăn”. Vào mấy tháng đầu sau khi nhập trại, khi CS còn thả lỏng, tù nhân có thể tự do đi lại quanh khu vực từ trại này qua trại khác; vì quá đói Tài, anh Châu và tôi canh giờ phát cơm, lúc các nhà bếp vừa nấu chín cơm và đang phân chia cơm cho từng nhà, cùng đến cạnh các nhà bếp, lảng vảng trước cửa nhà bếp, chực chờ để này nỉ, xin xỏ một miếng cơm cháy. (Cơm được nấu bằng chảo đụng, mỗi chảo nấu được nửa bao gạo khoảng năm chục kí lô nên lúc nào cũng có cơm cháy). Gặp người hảo tâm thì họ cho còn không thì đi đến nhà bếp khác nhưng phải bước nhanh chân, vì có khá nhiều người tù cũng đi xin cơm cháy giống như mình; phải canh sao cho đúng lúc, khi cơm vừa chín và đang ra cơm; nếu đến trễ thì cơm cháy đã chia hết rồi lấy đâu mà xin! Mới đầu, cơm cháy là quyền lợi của tổ nấu cơm, nhưng sau đấy họ phải chia đều cho mỗi nhà, nên tình trạng xin cơm cháy trở nên khó khăn hơn. Hôm nào “trúng mánh” gặp ai có lòng thương người thì họ cho được một miếng cơm cháy lớn bằng ba ngón tay. Miếng cơm cháy “hậu hĩ” đó khi được chia làm ba phần cho 3 đứa trong bọn chúng tôi thì mỗi người chỉ được một mảnh nhỏ tạm trám vào một phần chỗ trống trong bao tử, đành tự an ủi nhau rằng: “có còn hơn không”. Hôm nào may mắn hơn, qua nhiều nhà bếp được vài ba miếng cơm cháy thì hôm ấy cơn đói bớt hoành hành trong khoảng thời gian chờ đợi giờ cơm trưa! Thế đấy các bạn à! Trước đây có bao giờ mình nghĩ là có ngày mình đi xin cơm cháy như vậy đâu các bạn ơi! Vì ai mà chúng tôi phải lâm vào cảnh tồi tàn như thế này! Bây giờ sống ở nước người mỗi khi ăn đồ ăn dư thừa phải đổ bỏ, tôi đều nhớ đến những mảnh cơm cháy đi “ăn xin” năm nào khi ở trong trại tù!
Chẳng bao lâu sau đó, việc tự do đi lại bi hạn chế; các khu trại bị cô lập bởi hàng rào kẻm gai, người tù không còn được tự do di chuyển từ khu này qua khu khác như truớc đấy; vì thế sự tiếp xúc với bạn bè người thân ở khác khu không còn dễ dàng như trước nữa. Ai có người thân, bạn bè cần trao đổi tâm sự tình cảm riêng tư buộc phải hẹn giờ gặp gỡ ở hai bên hàng rào. Tuy nhiên, tình trạng này cũng không kéo dài được lâu vì sau đó, bọn cai tù CS lại ra lệnh cấm đoán. Dĩ nhiên “hoạt động” xin cơm cháy cũng bị đình chỉ. Lúc bấy giờ, bọn tù chúng tôi có đói thì chỉ còn biết “lấy nước lạnh uống vào trám cho đầy bao tử” mà thôi!
Kỷ luật trại tù càng ngày càng chặt chẽ; bọn cai tù CS tăng cường biện pháp canh phòng. Thời gian cứ trôi qua mà chúng chẳng màng để ý tới những nỗi băn khoăn, thắc mắc của tù nhân về việc học tập hay ngày được thả về. Chúng không hề biết xúc động trước cảnh chồng xa vợ, cha xa con. Chúng coi việc giam giữ SQ/QLVNCH là một cách trừng phạt những người có tội với đất nước VN; đó chính là điều gây cho chúng tôi có cảm tưởng CS là hạng người vô tri vô giác. Thời gian sau ngày quả lựu đạn nổ làm nhiều người chết và bị thương, trong đó có Tài mà tôi đã kể qua, thì biện pháp kềm kẹp, kiểm soát càng thắt chặt hơn. Thế rồi CS bắt đầu khủng bố tinh thần tù nhân. Mặc dù chúng biết chắc chắn là việc ném quả lựu đạn là do bọn chúng làm, nhưng chúng vẫn cứ đổ tội cho tù cải tạo là thủ phạm. Chúng bảo là có thành phần chống đối phản động gây ra để vu khống đường lối “nhân đạo”, để phá hoại “cách mạng”. CS thật là gian xảo, bất nhân!
Vào một buổi sáng như mọi ngày, (lúc bấy giờ chúng tôi chưa được học tập hay lao động gì hết, CS cho tù nhân muốn làm gì làm trong khu vực cô lập) mọi người vẫn hoạt động bình thường trong tình trạng chờ đợi; Dư âm vụ nổ lựu đạn vẫn còn đang văng vẳng trong tâm trí của tù nhân, người chết đã nằm yên dưới nấm mồ, kẻ bị thương người còn nằm bệnh xá, cũng có người đã được về “láng”, và vết thương của Tài bớt đau nhức và đã được “xuất viện”, thình lình mọi người nghe tiếng đánh kẻng liên hồi và tiếng còi thổi chói tai, đồng thời tiếng bước chân chạy dồn dập từ bộ chỉ huy tiểu đoàn hướng về khu trại tù. Thật đông cán bộ, bộ đội CS tay cầm súng trong thế tác chiến, mặt đằng đằng sát khí, vừa chạy vừa la hét nhằm mục đích cướp tinh thần của tù nhân. Khi đến khu trại thì chúng lớn tiếng ra lịnh:
-Tất cả các anh vào láng, giữ trật tự, im lặng, ai ngồi vào chỗ của người nấy.
Mọi người nhốn nháo hốt hoảng đi vào nhà. Ai cũng ngồi dựa vào vách chỗ nằm của mình, lòng hoang mang bất ổn. Đám cán bộ, bộ đội thật đông túa ra toàn khu. Đầu mỗi nhà có hai tên bộ đội và cuối nhà cũng có hai tên bộ đội tay cầm súng AK47 cùng chĩa họng súng vào bên trong nhà. Bước vào trong là một tên sĩ quan cán bộ CS cùng với hai tên bộ đội với súng AK. Sau khi la hét và mọi người tù đã ngồi vào vị trí của mình rồi, tên cán bộ lập lại một lần nữa mệnh lệnh: – Các anh giữ im lặng, không ai được nói chuyện với ai cả.

https://ongvove.files.wordpress.com/2013/07/caitao1978.jpg?w=648
Tên cán bộ bắt đầu đọc tên, kiểm soát quân số để chắc chắn là không còn thiếu vắng một người nào. Khi đã biết quân số đầy đủ rồi thì hắn lầm lì đi từ đầu nhà với sự bảo vệ của hai tên bộ đội cầm súng AK. Tên cán bộ phát cho mỗi người một tờ giấy, cây viết và ra lệnh viết tên họ cấp bậc cũ, đơn vị. Sau khi mọi người tù đã viết xong thì hắn tiếp tục ra lệnh:
– Các anh phải thật thà khai báo ba điều sau đây:
1- Anh đang làm gì khi lựu đạn nổ?
2- Thường ngày anh ngủ ở đâu, hai người bạn anh tên là gì?
3- Anh có biết hay nghi ngờ ai ném lựu đạn không?
Sau khi ra ba câu hỏi, tên cán bộ cho tù nhân mười lăm phút để viết, trước sự kiểm soát với vẻ mặt “hắc ám” vừa đi qua đi lại từ đầu nhà đến cuối nhà dưới sự bảo vệ của hai tên bộ đội, mỗi tên một bên chỉa họng súng vào tù nhân.
Mười lăm phút đồng hồ trôi qua, tên cán bộ đi từ đầu đến cuối nhà thâu các tờ giấy lại một cách có thứ tự. Sau khi kiểm soát lại đầy đủ số người và số tờ giấy, tên cán bộ và bộ đội bước ra khỏi nhà.
Khoảng nửa giờ đổng hồ tất cả đã làm xong, toàn thể cán bộ, bộ đội CS ra khỏi hết các nhà, chúng thổi mấy hồi còi và tuần tự rút lui khỏi khu trại tù.
Sau khi chúng đã đi hết rồi, những người tù vẫn còn bàng hoàng ngồi yên lặng tại chỗ của mình, không ai muốn nói chuyện với ai cả vì cơn hốt hoảng vẫn còn vấn vương trong tâm trí mỗi người. Đấy là một đòn rất thâm độc của CS. Như tôi đã viết, CS rất thông thạo về khoa học tâm lý, chúng biết chắc chắn là tù nhân không bao giờ ném lựu đạn để giết người đồng cảnh ngộ của mình, nhưng chúng vẫn đổ tội cho tù nhân. Các bạn nhìn vào ba câu hỏi của chúng đưa ra thì thấy ngay thủ đoạn thâm độc của chúng.
Với câu 1, chúng làm như thật là tù nhân ném lựu đạn. Đây là một câu hỏi điều tra hoạt động của mọi người lúc lựu đạn nổ.
Với câu 2, chúng muốn thăm dò, xem coi người tù có khai gian không? Chúng so sánh lời khai của mỗi người với lời khai của hai người bên cạnh, nếu anh khai gian thì ắt sẽ lòi ra ngay.
Với câu 3, CS muốn tạo sự nghi ngờ và chia rẽ trong khối tù nhân. Câu nầy thật thâm độc khiến mọi người tự phân vân suy nghĩ: không biết có thằng nào xấu mồm xấu miệng khai gian cho mình hay không? không biết có thằng antenne nào ghét tố cáo láo cho mình hay không? Chúng có tin là mình khai thật hay không?
Chưa hết đòn khủng bố tinh thần đâu các bạn à. Chúng giở tiếp đòn thứ hai: Những người bị thương như Tài lần lượt bị gọi lên thẩm vấn. Chỉ tội nghiệp cho những người này thôi, họ vừa đau đớn vì mảnh lựu đạn mà bây giờ họ còn bị CS quất cho một ngọn roi cân não nữa thì thử hỏi tinh thần các bạn ấy lúc đó ra sao? Nếu muốn biết bạn hỏi Tài thì sẽ hiểu tâm trạng của một kẻ bị điều tra, bị nghi ngờ chủ mưu ném lựu đạn ‘‘phá hoại cách mạng’’. Chưa hết đâu bạn à! CS tuần tự gọi những bạn tù có máu mặt trước kia tức là các SQ từng phục vụ trong các đơn vị thiện chiến hoặc tình báo, chiến tranh chính trị. Những người này được CS “chiếu cố” thẩm vấn “tận tình” hơn. Chúng rất thâm độc, chúng tạo cảm giác sợ hãi cho tất cả tù nhân; lúc nào họ cũng thấp thỏm không biết bọn chúng có gọi mình lên hay không? Họ băn khoăn không biết có ai tố cáo mình hay không? Người tù thắc mắc: những người bị chúng gọi lên đã khai báo gì, có phải trong số người được gọi lên có người là antenne của chúng không và họ có khai rằng họ nghi ngờ mình không? Mọi người đều phân vân: trong số người bị gọi lên đó có ai bị mua chuộc, chịu làm thằng antenne mới cho chúng không? Bao nhiêu câu hỏi “sợ hãi” như thế cứ lởn vởn trong đầu óc của mọi tù nhân. Tù nhân bấy giờ trông có vẻ trầm tĩnh hơn, ít nói hơn; họ tự hạn chế tiếp xúc, nói cười bàn tán với nhau. Mọi người tuy không nói ra nhưng ai cũng đề phòng hoặc nghi kỵ người này người kia làm cho cuộc sống trong tù ngột ngạt hơn, khó thở hơn. Bấy giờ chỉ còn các bạn bè hiểu nhau hoặc thật sự thân thiết như tôi với Tài mới thật tình tâm sự một cách kín đáo để không ai biết được những gì hai đứa nói cho nhau nghe. Đó bạn có thấy thủ đoạn thâm độc của CS chưa? Chúng vừa khủng bố tinh thần vừa tạo mối nghi kỵ lẫn nhau giữa các tù nhân nhằm gây mầm chia rẽ trong nội bộ tù nhân đấy!
Thế rối thời gian cũng qua đi…
nguyễn văn chín

http://www.denhihocap.com/thovan20/nvchin.html

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s