Chút tình sông nước

https://i2.wp.com/www.nuiansongtra.com/photos/photos/8/6678.jpgHUY HIEU GIANG DOAN 22 XUNG PHONG .Phu hieu GD27XP. TVQ CollectionHuy hieu giang doan 57 tuan tham .JPGGiang doan 91 truc loi, LLDNTUHuy hieu giang doan 42 ngan chan

Thân tặng các bạn NM2 đã một thời phục vụ tại các giang đoàn vùng Đặc Khu Rừng Sát: 27XP (TT Hồng, LT Khiết, TV Tồn); 22XP (PC Hùng); 57TT (KN Thành, NL Thọ, TH Tài); 91Trục Lôi (HV Dự), …. Riêng tặng NKH Mỹ (42NC, LLĐN 99), chuyến công tác cuối cùng tại Tân An. 

PV Tố – M6514

Một số chi tiết về ngày tháng có thể thiếu chính xác.

Sông Nước Miền Nam và Quê Tôi

Tôi được sinh ra và lớn lên tại làng Tân Chánh, Cần Đước một vùng quê miền Nam nằm sát bên bờ dòng sông Vàm Cỏ. Đây là một vùng quê với ruộng đồng sông nước mênh mông, một năm với hai mùa mưa nắng. Mùa nắng hay mùa khô, thường vắng những trận mưa, bắt đầu với cái thời tiết mát mẻ khoảng trước Tết cho đến cái khô nóng của tháng sáu tháng bảy. Trong mùa khô, gió từ biển thổi qua trên mặt đất, cây cỏ và các dòng sông; những cơn gió tạo cơ hội cho nước mặn từ biển tràn vào. Mùa mưa hàng năm theo ngay sau đó. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng bảy âm lịch. Những ngày không mưa thì vẫn là cái nóng bức nhưng nếu đã mưa thì lại mát mẻ, ngọt ngào mang đầy sự sống đến từng mảnh vườn thửa ruộng. Trong những tháng nầy nước sông chậm rải chuyển từ mặn thành ngọt hơn; và là dấu hiệu của mùa trồng lúa bận rộn thật sự bắt đầu.

Quê tôi ở miền Nam được coi là vùng đất rất mộc mạc, hơi khô khan, có nhiều phần không thể so với miền Tây trù phú, nhiều mộng mơ bên bờ hai sông Tiền, sông Hậu.

Dù vậy, tôi lúc nào cũng yêu thương quê mình vô cùng. Tại vùng quê đó, tôi đã trải qua đủ đầy hương vị của những tháng năm tuổi thơ, ngay từ cái thời chưa tới 10 tuổi.  Đó là những năm 1956, 1957, 1958, …. Từ nơi đó, lúc nào tôi cũng gần gũi với thiên nhiên, mà điển hình là với ruộng đồng, các dòng sông cùng nhiều ngọn rạch. Các sông rạch mà ngay từ cái thuở thơ ngây đó, tôi và rất nhiều bạn bè cùng lứa như từ lúc nào đã hòa nhập vào chúng một cách tự nhiên. Chẳng hạn như bất chợt trong một tháng năm nào đó bọn tôi bổng biết ra rằng mình đã tự nhiên biết bơi lội, lặn hụp trong lúc lớn lên; chưa nghe có đứa nào phải cần chuồn chuồn cắn rún mới biết bơi; mặc dù còn quá xa để đúng phương pháp. Mỗi ngày đi học chúng tôi đều phải bước qua 2 cây cầu lớn và vài cây cầu nhỏ trên đoạn đường đất khoảng 4 cây số. Đoạn đường nầy mùa mưa thì trơn trợt như có thoa mở, đi lại vất vả khỏi nói. Nhưng mùa nắng thì rất tốt hơn. Khoảng giửa đường, đầu cầu Ông Du trước khi về đến nhà là nơi cho một đám nhóc tụi tôi tụ tập bày trò. Nơi đó chúng tôi đã bơi lội, đánh đáo bắn bi, sau khi lội bộ hơn 2 cây số, sau giờ tan trường. Nhiều khi còn mê chơi cho đến khi có người lớn xách roi đi tìm mới chịu tan hàng. Không biết từ lúc nào các dòng sông nầy như đã trở thành máu huyết của từng đứa. Trong những tháng năm đó tuổi thơ của tụi tôi chỉ là hình ảnh của những lần bắt cua, bắt còng, câu cá; là những lúc đánh đáo bắn bi. Tuổi thơ của tụi tôi còn là việc chèo ghe, bơi xuồng và leo cây, hái trái. Tôi sẽ không bao giờ quên được những mảnh ruộng, nhánh sông, khóm cây mà tôi đã đi qua trong các dịp rong chơi trong những năm tháng êm đềm.

Quê tôi được kể là nghèo nhưng chưa bao giờ đói. Giống như phần lớn nhiều gia đình khác, mọi sinh hoạt đời sống của từng gia đình được hình thành một cách tự nhiên cho thích nghi với cái thiên nhiên hai mùa mưa nắng. Phần lớn mọi gia đình thường theo nghề chính lâu đời là làm ruộng nhưng cũng cố gắng sắp xếp để cho người đàn ông chủ gia đình có thêm nghề nữa xa nhà như lên Saigon chạy xích lô hoặc làm phu khuân vác tại các bến sông Bình Đông, Chợ Lớn. Gia đình tôi cũng vậy, nhưng ba tôi chọn nghề đi ghe buôn như một số họ hàng thân thích. Phần đám nhóc nhỏ tụi tôi cũng không có ngoại lệ. Theo tháng năm, tụi tôi càng lúc càng phải giúp đở gia đình nhiều hơn. Ngoài chuyện tới trường chăm chỉ học hành, khi cần thiết đều phải phụ giúp gia đình. Như trường hợp tôi, bắt đầu mùa mưa thì lo phụ giúp má tôi trong công việc ruộng nương. Những việc như cuốc đất, gieo mạ, lo xong mùa cấy, đến cắt cỏ. Khi mùa mưa đã đến hoàn toàn, sau màn cắt cỏ, sẽ qua gia đoạn bón phân; rồi lúa bắt đầu trổ đòng đòng, việc trồng lúa coi như xong. Chỉ chờ lúa chín là bắt đầu mùa gặt vào cuối năm. Nói chung, đối với người lớn mùa mưa là cơ hội của ấm no nhưng tụi nhỏ tôi lại là hình ảnh tiêu biểu của nhiều điều cơ cực. Do vậy tụi tôi thích mùa hè nhiều hơn. Vừa không phải đi học, lại nhàn rổi và có nhiều dịp vui chơi. Khi bắt đầu lớn hơn một chút, điều mà tôi thích nhất là trong 3 tháng hè mỗi năm tôi theo ba tôi đi ghe, có dịp dong ruổi qua nhiều vùng sông nước.

Tôi thường theo ba tôi trong hai, ba tháng hè đi ghe buôn trên các sông rạch miền Nam. Tùy theo diễn biến trong nhu cầu mua bán, sự sắp xếp mỗi năm có thể khác nhau.

Nếu là cần mua bán đồ gốm lu khạp thì lộ trình sẽ là từ quê nhà tới Lái Thiêu Bình Dương qua ngã sông Sài gòn. Bận trở lại sẽ theo sông Cầu Rạch Ông, sông Cần Giuộc, Kinh Nước Mặn, sông Vàm Cỏ, Kinh Chợ Gạo, ra vàm Kỳ Hôn. Từ vàm Kỳ Hôn nếu hướng về thượng nguồn Tiền Giang sẽ qua tỉnh lỵ Mỹ Tho, đi ngang Bình Đức, Kinh Xáng, lên Gạch Gầm, tới chợ Lách đến tận Sa Đéc, Hồng Ngự, Tân Châu. Hoặc theo hạ nguồn ra hướng biển, sẽ xuống Giao Hòa; băng ngang qua sông Ba Lai để đến tỉnh lỵ Bến Tre qua sông Hàm Luông. Trên sông Hàm Luông, nếu ra gần cửa thì tới Ba Tri hoặc đi vào trong thì cuối cùng cũng lại đến chợ Lách.

Nếu cần cát gạch cho xây cất thì phải đến sông Đồng Nai qua Cát Lái, tới Biên Hòa chở về dạo bán cũng tại Miền Tây. Cũng có nhiều khi phải tới Long Điền, Bà Rịa chuyên chở muối về cho các hảng làm nước mắm cũng lại quanh quẩn Mỹ Tho, Bến Tre, hoặc Châu Đốc.

Do vậy không biết từ lúc nào sau năm 10 tuổi tôi đã thành thuộc nằm lòng các vùng  Bình Dương, Biên Hòa, Bà Rịa, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc, Cao Lảnh, Tân Châu, Hồng Ngự.

Thật ra với tôi, cuộc sống sông hồ có quá nhiều điều hấp dẫn. Nó có một chút gì mong manh, bấp bênh, lè phè; nhưng lại mang nhiều nét tùy hứng, không có nhiều gò bó.

Chiếc ghe của gia đình tôi dĩ nhiên chỉ là một loại ghe bầu Cần Đước. Ba tôi đã dành dụm một thời gian dài, phải trải qua mấy năm được mùa mới có đủ vốn mua được chiếc ghe để thêm kế sinh nhai. Lúc đầu là chiếc ghe tương đối nhỏ. Nó có cái mủi đỏ nhọn cong; có cặp mắt với 2 màu trắng đen to, thật linh động mà mấy anh em tôi thường được ba tôi cho sơn phết lại trước các dịp cúng kiến dưới ghe. Ghe loại nhỏ nầy có 3 chèo; một chèo lái đàng sau bên trái, 2 chèo khác ở hai bên đàng mủi. Lúc bắt đầu vào nghề thì tôi thủ một trong hai vị trí chèo trước nầy. Ông anh tôi hoặc một người làm công giử vị trí còn lại. Như tất cả các ghe bầu Cần Đước, loại ghe chỉ chèo tay nầy có cái bánh lái không to, không cao; và hai loại tay lái, một ngắn một dài. Khi vận chuyển, ba tôi thường chèo phía sau đồng thời trách nhiệm luôn tay lái; bằng cách kẹp cái tay lái ngắn dưới háng khoảng giửa 2 chân lấy thế để đẩy tay lái qua phải, qua trái. Nguyên tắc dễ dàng, là đẩy tay lái qua phải thì mủi ghe sẽ hướng qua bên trái; và ngược lại. Những năm trước 1960, khi phương tiện máy móc còn chưa được biết tới, hầu hết các ghe đều phải xử dụng thêm buồm. Ghe bầu Cần Đước dùng buồm chỉ một cánh. Cột buồm, cách làm buồm; cách kéo buồm, điều khiển buồm đều theo phương pháp đơn giản từ thời ông bà truyền lại. Khi chạy buồm người cầm lái có thể dùng tay lái dài, ngồi trên một cái ghế hoặc đứng ngay trên mui ghe để được thoải mái hơn. Sau mấy năm theo ba tôi, dần dà tôi cũng quen thuộc, am hiểu thật nhiều về loại ghe bầu Cần Đước. Dĩ nhiên khi tập tành mọi chuyện phải đi từ dễ đến khó.  Tôi bắt đầu từ mái chèo, tập lái, rồi qua tới xài buồm. Buồm mang đến nhiều thích thú.  Nhưng đáng tiếc nó là loại giản dị chỉ có một buồm.

Từ những năm sau 1960, ghe tàu có phần tân tiến hơn. Cũng như phần lớn nhiều gia đình, ba tôi giờ có thể đổi thành chiếc ghe khác lớn hơn. Đồng thời cũng tậu thêm một chiếc ghe máy nhỏ thường được gọi là ghe ủi để thay thế cánh buồm và các mái chèo với sức người. Dân quê không biết từ đâu cũng nghĩ và tạo được loại ghe ủi như vậy. Gọi là máy ủi nhưng thật ra nó đang làm công việc như của một cái tugboat loại nhỏ, cũng kéo cũng đẩy tùy lúc, đơn giản nhưng không kém phần tiện lợi. Loại ghe lớn hơn nầy có bánh lái cao to, tay lái dài.

(Xem hình với chiếc ghe bầu Cần Đước đang chở đầy hàng có bánh lái cao to, tay lái dài. Cái máy ủi phía sau, có mui nhỏ chổ phòng lái trang bị vô lăng và chổ ngồi cho người lái)

Đó là một chút để có khái niệm về loại ghe bầu Cần Đước.

Ở giai đoạn sơ khai máy móc chưa được phổ biến, để đi từ Cầu Rạch Ông, Sài gòn đến Mỹ Tho (hoặc ngược lại từ Mỹ Tho về Sài gòn), người ta còn nghĩ ra cách tập họp thành một đội ngũ gồm đủ loại ghe lớn nhỏ, rồi dùng 1 chiếc tàu kéo chừng vài trăm mã lực. Hãy hình dung một hoạt cảnh vui vẻ trong đó một chiếc tàu dòng kéo một đoàn ghe từ 7, 8 chục nhiều khi đến cả trăm chiếc lớn nhỏ.  Đoàn tàu ghe nầy di chuyển chậm chạp theo chiều nước ròng (nước xuống) từ Cầu Rạch Ông, qua Cần Giuộc; dừng lại tại một đầu của Kinh Nước Mặn chờ nước lớn (nước lên) mới tà tà đi theo sông Vàm Cỏ, qua Kinh Chợ Gạo, Bình Phục Nhứt, tới vàm Kỳ Hôn. Rồi cuối cùng giải tán tại Mỹ Tho ngang cù lao Rồng. Kiểu cách nầy tuy chậm chạp nhưng nói lên cái phong thái vô cùng lè phè, nhàn nhã của đời sống sông rạch miền Nam. Tùy theo điều kiện của dòng nước trên lộ trình, nhiều khi phải mất cả vài ngày mới đi được từ Sài gòn tới Mỹ Tho. Điều tốt là bà con trên mấy cái ghe không phải làm gì. Có thể tụ lại thành nhóm chè chén, hát hò, đánh cờ tướng, ca vọng cổ …

Kế tiếp, những năm khi việc dùng máy móc được bắt đầu phổ biến thì những người quen biết cũng có thể tụ tập lại 2, 3 chiếc ghe rồi dùng một máy ủi. Chỉ cần một người thay phiên lái. Cũng là để có dịp gặp gở vui chơi thoải mái. (Xem hình bên)

Theo tôi, dù là di chuyển ở miền Nam bằng loại ghe nào, phương cách nào, cảnh vật ghi nhận được ở hai bên bờ đều là điều khó mà kiếm được ở bất cứ nơi đâu. Hai bên bờ các dòng sông thường có rất nhiều loại cây mọc lên do thiên nhiên; nhiều nhất là dừa nước, cây đước, cây bần. …. Những đám cây nầy lúc nào cũng mang đến cái vẻ xanh tươi mát mẻ của đất trời.

Ban đêm nếu bất chợt muốn dừng lại tại một khúc sông nào đó, các ghe thường thả neo gần một bên bờ hay giản dị hơn là cứ buộc vào một nhánh bần nhánh mắm đang đưa ra sông.  Trong những đêm như vậy mọi người sẽ có dịp để biết cái gì là lập lòe đom đóm. Hồi nhỏ tôi đã từng có lần tò mò rón rén tới đứng sát cạnh các nhánh mắm nhánh bần để được tận mắt nhìn từng con, từng nhóm đom đóm. Lúc đó tôi khám phá ra rằng bọn chúng lập lòe, chớp tắt nhưng theo một nhịp độ hẳn hoi. Tôi cũng tìm ra là thỉnh thoảng nếu có một con có lẽ là trật nhịp, chính nó sẽ phải bay đi nơi khác. Bây giờ khi nhớ tới điều đó tôi lại không biết có đúng hay không.

Còn ban ngày trong cái không gian êm ả thì tôi lại hay chú tâm tới tiếng kêu của con bìm bịp. Bìm bịp là một loại chim ngày xưa tôi từng nghe đề cập tới nhưng chưa bao giờ có dịp nhìn tận mắt. Nhưng tiếng kêu của nó là báo hiệu nước lớn (nước lên). Thông thường tiếng kêu thường bắt đầu âm thanh khô khốc rất nhanh như: cộc, cộc, cộc , …; rồi liền tiếp theo: bịp, .., bịp, .., bịp, …Thời xưa khi đang canh nước lớn nước ròng (lên xuống), tiếng báo hiệu của nó được coi là khá chính xác và đáng tin cậy. Như đang nằm ngủ trưa chờ nước lớn bỗng nghe tiếng của chim bìm bịp là phải giật mình bật dậy; dù có mệt te tua cũng phải chuẩn bị lên đường cho kịp con nước. Hãy nghe câu than thở:

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

Hai câu ca dao nói lên sự uể oải, lười biếng, … nhưng vẫn có một chút gì đó vợ đang âu yếm an ủi chồng.

Nếu đã nói về con bìm bịp, không thể không nhắc tới lục bình.  Trên sông rạch miền Nam, lục bình có mặt tại thật nhiều nơi.  Tuy nhiên tôi không quan tâm mấy đến loại lục bình trong các hồ ao, trong các nơi nước đọng dơ bẩn thành phố. Tôi chỉ muốn nói đến loại lục bình hững hờ, theo nước ròng trôi ra, nước lớn trôi vô trên các mặt sông.  Lục bình là biểu tượng cho những gì lè phè và lập đi lập lại.

Nhớ hoài lúc nhỏ bọn anh em tôi thường hay bị mắng, tụi mày “ăn như xáng xúc, làm như lục bình trôi”.

Ban đêm nếu bất chợt muốn dừng lại tại một khúc sông nào đó, các ghe thường thả neo gần một bên bờ hay giản dị hơn là cứ buộc vào một nhánh bần nhánh mắm đang đưa ra sông.  Trong những đêm như vậy mọi người sẽ có dịp để biết cái gì là lập lòe đom đóm. Hồi nhỏ tôi đã từng có lần tò mò rón rén tới đứng sát cạnh các nhánh mắm nhánh bần để được tận mắt nhìn từng con, từng nhóm đom đóm. Lúc đó tôi khám phá ra rằng bọn chúng lập lòe, chớp tắt nhưng theo một nhịp độ hẳn hoi. Tôi cũng tìm ra là thỉnh thoảng nếu có một con có lẽ là trật nhịp, chính nó sẽ phải bay đi nơi khác. Bây giờ khi nhớ tới điều đó tôi lại không biết có đúng hay không.

Còn ban ngày trong cái không gian êm ả thì tôi lại hay chú tâm tới tiếng kêu của con bìm bịp. Bìm bịp là một loại chim ngày xưa tôi từng nghe đề cập tới nhưng chưa bao giờ có dịp nhìn tận mắt. Nhưng tiếng kêu của nó là báo hiệu nước lớn (nước lên). Thông thường tiếng kêu thường bắt đầu âm thanh khô khốc rất nhanh như: cộc, cộc, cộc , …; rồi liền tiếp theo: bịp, .., bịp, .., bịp, …Thời xưa khi đang canh nước lớn nước ròng (lên xuống), tiếng báo hiệu của nó được coi là khá chính xác và đáng tin cậy. Như đang nằm ngủ trưa chờ nước lớn bỗng nghe tiếng của chim bìm bịp là phải giật mình bật dậy; dù có mệt te tua cũng phải chuẩn bị lên đường cho kịp con nước. Hãy nghe câu than thở:

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

Hai câu ca dao nói lên sự uể oải, lười biếng, … nhưng vẫn có một chút gì đó vợ đang âu yếm an ủi chồng.

Nếu đã nói về con bìm bịp, không thể không nhắc tới lục bình.  Trên sông rạch miền Nam, lục bình có mặt tại thật nhiều nơi.  Tuy nhiên tôi không quan tâm mấy đến loại lục bình trong các hồ ao, trong các nơi nước đọng dơ bẩn thành phố. Tôi chỉ muốn nói đến loại lục bình hững hờ, theo nước ròng trôi ra, nước lớn trôi vô trên các mặt sông.  Lục bình là biểu tượng cho những gì lè phè và lập đi lập lại.

Nhớ hoài lúc nhỏ bọn anh em tôi thường hay bị mắng, tụi mày “ăn như xáng xúc, làm như lục bình trôi”.

Nhiệm vụ của giang đoàn xung phong là tuần tiểu và yểm trợ các đơn vị bộ binh 2 bên bờ Lòng Tàu và Soài Rạp. Công việc thường ngày là rải quân đóng chốt dọc 2 bên sông Lòng Tàu và Soài Rạp; phần lớn chính là bên sông Lòng Tàu. Tiểu Đoàn ĐPQ 359 Đặc Khu Rừng Sát của Thiếu Tá Kham có 4 đại đội ĐPQ 1, 2, 3, 4 địa bàn hoạt động từ Phước Khánh (phía bên kia của căn cứ hải quân Nhà Bè) đến Cần Giờ bằng Lòng Tàu; bên sông Soài Rạp thì rất ít có vụ đổ quân đóng chốt; chỉ thỉnh thoảng đi theo hộ tống tàu bè từ Nhà Bè về Bến Lức, Tân An, hoặc Kinh Chợ Gạo. Loại công tác hộ tống thường được chấm dứt và bàn giao tại đồn Rạch Cát. Tuy nhiên, cũng có đôi khi tôi theo đoàn hộ tống đến tận Bến Lức.

Nói cho cùng thì sau mấy năm phục vụ với cái môi trường mẫu mực hơn ở hạm đội, tôi lại thấy mình rất dễ thích nghi hơn với đời sống giang đỉnh. Cuộc sống giang đỉnh khá nhàn rổi và ít bị câu thúc. Một lần nhận lệnh công tác xuống vùng thì ít nhất là từ 1 tuần cho tới cả tháng. Trong thời gian công tác, khi cần các giang đỉnh có thể thay phiên về căn cứ để lo vấn đề tiếp liệu hoặc lương bổng. SQTT theo nguyên tắc lúc nào cũng phải hiện diện tại vùng. Dĩ nhiên nếu muốn dù về Saigon chơi nửa hoặc cả ngày thì vẫn có thể sắp xếp đi theo các giang đỉnh nầy.

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2017/07/6cc4e-25c4259025e125ba25b7c2bkhu2br25e125bb25abng2bs25c325a1t.jpg?w=485&h=626

(Một số ghi chú trong sơ đồ chỉ liên quan đến các tiểu đoạn sau)

Sau khi xuống vùng không lâu, tôi chợt khám phá ra mình không xa lạ bao nhiêu đối với nhiều nơi của Đặc Khu Rừng Sát. Thì ra nhiều năm về trước tôi đã từng theo ba tôi qua lại một số nơi của vùng nầy. Những địa danh như Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp (An Thịt), sông Vàm Sát, từng khúc sông, hàng đáy, những đám đước, … với tôi thật ra vô cùng quen thuộc.

Từ Nhà Bè theo sông Soài Rạp sẽ gặp quận lỵ Quảng Xuyên bên trái.  Ra thêm một đoạn nữa, sông Soài Rạp sẽ là ranh giới của ĐKRS và tỉnh Long An. Bắt đầu từ đó bên phải sông là tỉnh Long An. Công tác giử an ninh cho lộ trình nầy tương đối nhẹ nhàng.

Theo sông Lòng Tàu, từ ngã ba Nhà Bè ra tới Ngã Ba Đồng Tranh thì bên trái sông thuộc tỉnh Biên Hòa. Từ Ngã Ba Đồng Tranh, nếu tiếp tục theo sông Lòng Tàu ra biển thì lộ trình sẽ xuyên qua giửa ĐKRS. Nếu rẽ qua sông Đồng Tranh thì sông Đồng Tranh trở thành ranh giới của 2 tỉnh Biên Hòa, Phước Tuy với ĐKRS. VC đặt áp lực trên phần lảnh thổ nầy nhiều hơn. Nơi giáp ranh của ĐKRS và 2 tỉnh Biên Hòa, Phước Tuy là địa bàn hoạt động của Đoàn 10 Đặc Công VC. Một khi tìm được sơ hở trong vấn đề phòng thủ, Đoàn 10 có thể với tay tới kho đạn Thành Tuy Hạ, CC/Cát Lái, hoặc các tàu thuyền đi lại trên sông Lòng Tàu.

Ngoài thời gian rải quân đóng chốt buổi sáng và bốc quân buổi chiều, phần lớn thời gian là thảnh thơi, tổ chức lai rai trên các giang đỉnh không phải là không có thể. Cá, tôm, bia, nước đá nhiều khi được biếu tặng từ các ghé đánh cá. Sò, ốc len, cua lột, chim chép, rượu đế, … có thể tìm mua từ các ghe địa phương hoặc trong các vựa tại địa phương như Tam Thôn Hiệp hoặc Tân Thạnh. Thỉnh thoảng lính ĐPQ săn được heo rừng, kỳ đà trong khi vào bìa rừng đóng chốt cũng có thể đem biếu tặng. Nhiều khi còn được sự mời mọc của các sĩ quan ĐĐT của TĐ/359ĐPQ.

Cứ vài ba tháng ĐKRS lại tổ chức hành quân. Tham dự dĩ nhiên gồm có TĐ359/ĐPQ của TT Kham, GĐ22XP, 27XP, 57TT, toán Hải Kích của Cảnh Nhái (K20). Thông thường trước giờ xuất quân các LCM6 đã bốc quân tại các ĐĐ1, 2, 3, 4 /TĐ359.  CHT hoặc CHP thường có mặt trên chiếc 6007 của Hồng. Sau khi Hồng rời đi, chức vụ thuyền trưởng được giao cho người khác. Tôi thì trách nhiệm chiếc 6514 cho gần tới ngày cuối. Nhiều khi tôi được tăng phái thêm 1 sĩ quan đàn em như Nghiệp hoặc Ngà (cùng K24). Những dịp có đàn em K24 như vậy tôi thích chui vào thủ khẩu 40 ly Bofors, để đàn em nghe máy và nhận lệnh từ bộ chỉ huy hành quân. Muốn ngồi bên trong khẩu 40 ly,tôi đùa với đám nhân viên là vì ấm hơn đở lạnh cẳng. Tùy theo sắp xếp, chiếc 6514, RPC, FOM, cũng có thể mang theo một tiểu đội trinh sát ĐPQ. Theo đội hình thì toán Hải Kích của Cảnh Nhái sẽ vào trước trấn ở một phía nào đó. Chiếc 6514 của tôi sẽ vào tham gia dọn bãi bằng khẩu 40 ly, súng cối 81, hoặc MK19. Mọi chuyện đều êm đẹp là lúc các LCM6 sẽ bắt đầu ủi bãi đổ quân.

Tôi vẫn còn nhớ rất nhiều điều.

Trong các vũ khí trên chiếc 6514, tôi thích nhất là tự mình dùng khẩu 40 ly. Nó rất nhanh khi xử dụng liên thanh.  Nhưng tôi lại thích nhịp từng phát hơn. Bắn từng phát chính xác, dễ điều chỉnh theo mục tiêu trên bờ, dễ tiếp đạn và nhất là đở bị kẹt đạn. Khi trực xạ dọn bãi bằng khẩu 40 ly tôi có thể thấy cây rừng bị cắt đứt, ngã rạp trên mặt đất, một cách rất hữu hiệu. Tôi không thích ụ súng cối 81 ở hầm chính giửa tàu; có một lần TS/TP Hòa bỏ trái đạn vô nòng, nó tọt xuống rồi im re; báo hại Hòa phải gở rời cái ống phóng, khéo léo nghiêng trút trái đạn ra, cầm lấy, rồi thả nhẹ xuống sông. Tôi cũng không thích đụng tới khẩu MK19 ở trên sàn chính của tàu, đầy bất trắc. Một lần tôi thấy cũng TS Hòa hướng cây MK19 lên bờ để khai hỏa dọn bãi. Sau khi nhấn một cái, liền có hàng loạt bum bùm bum phía trong bìa rừng. Rồi tự nhiên lại có một đầu đạn nổi hứng không chịu bay ra xa hướng vô mục tiêu, mà lại hạ cánh xuống sàn tàu sát gần chân của xạ thủ. Tôi cũng ớn cái hầm đầu đạn 81 ở giửa tàu. Các giang đỉnh GĐ XP không có giàn chống B40. Thử nghĩ nếu một trái B40 dính vào hầm đạn 81 thì lên bàn thờ sớm.

tien-phong-dinh-giang-doan-xung-phong

Tôi còn nhớ mấy lần không êm đẹp khi đổ quân. Một lần vào ban ngày, buổi sáng, tại Tắc Ông Kèo, gần Ngã Ba Đồng Tranh. Chỉ là vào lúc dọn bãi, VC lại phản pháo ngay bằng B40 xen lẩn thượng liên. Chiếc 6514 của tôi đang ở ngay vị trí đầu và đang khai hỏa.  Lúc đó TS/VC Bé đang ở tay lái, tôi đang ngồi trên ghế bên phải của TS/VC Bé, sát bên tôi là khẩu đại liên 30. Khó mà tưởng tượng, khó mà tin là từ chổ ngồi đó tôi lại có thể nhìn thấy bóng đen, mặc dù rất mờ, của mấy trái B40 bay sát hông tàu. Lúc đầu tôi không nghĩ cái bóng là của B40. Một vài trái B40 sau khi chạm nước còn nhảy lên như cá giởn mặt sông. Không có trái B40 nào trúng chiếc 6514 của tôi. Nhưng lại có trái trúng ngay hầm máy, phía dưới ghế ngồi lái của chiếc FOM đang chạy sát bên hông chiếc 6514. Lần đó Th/U Nguyên (K24) của 22XP bị thương, phỏng nặng, nhưng không chết. Sau đó Nguyên được đưa lên chiếc monitor của tôi, và PBR của 57TT chuyển lên bờ, sau cùng được trực thăng đưa đi.

Một lần hành quân khác, theo kế hoạch đội hình bắt đầu từ xã Tam Thôn Hiệp theo một nhánh sông nhỏ, dự định xuất kỳ bất ý xông ra, tiến thẳng qua bờ bên kia của sông Đồng Tranh. Theo lệnh hành quân, việc làm ăn bắt đầu lúc 4, 5 giờ sáng sớm. Nhưng có lẽ vì ghi nhận sai giờ giấc thủy triều một chút,nên mặc dù một số LCM6 đã hoàn thành nhiệm vụ, vài chiếc khác hơi chậm chạp chưa ra khỏi đầu ngọn sông nhỏ. Ai cũng biết thủy triều vùng nầy lên xuống rất nhanh. Cựa quậy một chút thì trời cũng đã sáng, các con cá chưa kịp đổ quân nầy bắt đầu nằm phơi bụng luôn trên bãi sình. Báo hại toán ĐPQ phải rời giang đỉnh, bò lên bìa rừng làm công tác phòng thủ. Hôm đó chắc VC ăn chay, chỉ tặng vài quả súng cối vô mấy chiếc đang mắc cạn rồi thôi, không gây thiệt hại gì đáng kể.

Một lần khác trên sông Thị Vải, phía tỉnh Phước Tuy. Lúc chuẩn bị đổ quân là khoảng 2 hoặc 3 giờ sáng. Dọn bãi xong, chiếc 6514 của tôi đang nằm yểm trợ giửa dòng, mấy LCM6 bắt đầu ủi vào. Tức khắc ngay lúc ấy, B40 đồng loạt rộ lên sát gần bãi ủi. Từ giửa sông tôi bổng như thấy đầy trời pháo bông. Quá may.  Nếu có trái B40 nào bắn xuyên được qua cửa đổ bộ của các LCM6 đang chở đầy quân thì cả đám lảnh đủ. Tuy nhiên vẫn không phải hoàn toàn may mắn, một trái đã đi dọc theo sát hông một chiếc LCM6 mang theo xuống sông một HSQ/GĐ22XP. Anh HSQ đã mất đi và vì quá sâu trong vùng hoạt động của Đoàn 10 VC, sau đó không kiếm được xác.

Rất có thể, Hùng Sùi (K21) cũng có mặt trong các cuộc hành quân nầy.

Còn có một chuyện nữa, không dính gì tới vấn đề hành quân, đánh đấm. Nhưng lại có chi tiết liên quan nhiều đến chuyện của vợ chồng tôi và đồng thời có thể có ảnh hưởng đến sự nghiệp của CHT Hiền. Lúc đó và vào giửa tháng 7 năm 1974. Hôm đó tôi rời vùng sau mấy tuần công tác.  Hôm đó trở về đơn vị trong tư thế sẵn sàng để nhận lảnh một nhiệm vụ khác ngàn lần trọng đại hơn. Tôi về đi phép lấy vợ.  Giấy nghỉ phép 3 tuần đã được sếp lớn phê chuẩn từ trước. Một vài sĩ quan giang đỉnh cũng bày đặt theo về, lấy lý do là để đưa tiển.  Tất cả cùng quá giang về trên một chiếc LCM6. Về đến bến. Tại phía thượng dòng của cầu tàu, chiếc LCM6 đưa đít cặp và buộc vào đầu ngoài nhất của cái ponton.  Sau khi tôi ghé vào doanh trại làm một số thủ tục cần thiết, cả đám giang đỉnh gồm sĩ quan và đoàn viên kéo ra một cái quán ngay gần trước cổng vào giang đoàn, bắt đầu lai rai. Phải uống tới bến vì đa số trong đám chiều nay đã phải quay lại vùng. Và nhất là chút nữa đây tôi lại bắt đầu có được 3 tuần phép quan trọng nhất trong đời.  Không biết bao lâu sau, một thủy thủ trong căn cứ hớt hơ hớt hãi chạy ra cho biết:

“Mấy ông thầy ơi, chiếc LCM6 của mấy ông dùng về căn cứ đang sắp bị chìm …. ”

Trung van dinh LCM-6 thuoc LDTG.jpg

Cứ như vậy cả đám phải tan hàng cùng chạy ùa vào cầu tàu. Khi vào đến đó tôi thấy CHT Hiền ngồi trên chiếc RPC7001 đang ở ngay phía trước ngã ba. Ngay trước mũi chiếc PRC không xa là chiếc LCM6, lúc đó chỉ còn thấy một chút chổ ngồi lái phía sau và một phần của cánh cửa đổ bộ phía trước. CHT có lẽ đang điều động mấy thằng em thủy thủ để cột một cái phao đánh dấu vị trí của chiếc tàu sắp chìm.  Có như vậy thì việc trục vớt sẽ dễ dàng hơn sau nầy. Nhưng có thể việc xảy ra nhanh quá, cuối cùng việc nầy không thành và chiếc LCM6 từ từ biến mất dưới làn nước đục ngầu ngay mặt sông phía trước căn cứ Hải Quân Nhà Bè. Không biết ai đó trong đám sĩ quan giang đỉnh, Liêm (K20) hay Nghiệp, Ngà (K24) cũng có lẽ thấy không êm, quay qua tôi:

– Đã như thế nầy, đã cầm phép trong tay, hãy mau mau dông đi. Chuyện gì hãy tính sau.

Cứ thế mà tôi dọt tuốt.

Chiều ngày hôm sau, lúc tôi còn ở nhà Sài gòn, Nghiệp ghé qua rên rỉ:

– Ngày hôm qua, lúc tụi nó cặp cầu có lẽ tại cột dây ẩu quá. Mũi thượng dòng, đưa đít vô cầu, có lẽ cột dây căng không đều. Nước ròng hôm qua chảy xuống mạnh quá, tàu nghiêng một bên rồi bị kẹt, vô nước nhiều. Rốt cuộc đứt dây trôi đi. Quá xui là ngày hôm qua CHT không kịp đánh dấu thành ra giờ nầy không biết nó đang yên nghỉ ở chổ nào, mặc dù chắc cũng gần đâu đó. Thằng thuyền trưởng chắc sẽ lảnh củ. Sáng nay trong buổi họp, CHT cho biết sẽ đình chỉ hết mọi công tác và phép tắc cho tới tìm được chiếc tàu. Chuyện nầy lớn nha, nếu phải báo cáo tổn thất, ông chắc bị phiền không ít.  Đàn anh có phép lại là phép cưới vợ, thôi cứ an tâm vui vẻ.  Chuyện nầy có tụi tui lo.

Ngày đám cưới của tôi, một ngày tháng bảy. Tổ chức tại Cần Đước. Cả đám sĩ quan giang đỉnh không ai có mặt. Chỉ có Tr/U Chung (K4, OCS), lúc đó là sĩ quan trên căn cứ, đại diện GĐ đến dự. Cùng đi với Chung là cô em gái của Chung. Chung cho biết:

– Mầy số tốt, không có mặt tại giang đoàn lúc nầy. Vẫn chưa tìm ra chiếc LCM6, CHT đang nổi khùng. Các sĩ quan giang đỉnh không ai đến dự đám cưới được. Tất cả bị quây như dế, đang được chia thành phân đoàn;  mỗi sĩ quan được lệnh phải ngồi trên một giang đỉnh trực máy 24/24, ngày đêm thay phiên rà tới rà lui ngay tại ngã ba sông Nhà Bè. Ngoài ra, CHT còn nhờ sự trợ giúp từ bạn bè CHT các giang đoàn như, Trục Lôi, Trục Vớt, đặc biệt là người nhái Trục Vớt.

Đám cưới xong, hai vợ chồng tôi rong chơi Đà Lạt rồi về. Thoát cái, hôm sau đã là ngày trở về đơn vị. Chiều hôm đó nghe lời nhắn, Nghiệp và Ngà (cùng K24) ghé qua nhà cập nhật tin tức. Nhìn Nghiệp, Ngà mà tôi thấy tức cười. Cả hai lúc nầy cả người đều hốc hác, đen thui.  Tôi đã đoán ra nhưng vẫn làm bộ dò hỏi, châm chọc. Hai người cho biết: “… tình hình vẫn như củ. CHT quây tụi nầy te tua còn hơn bị brimade, không thở nổi. Rồi có lẽ do bực bội quá, hai thằng đàn em cằn nhằn: thật là cá lớn nuốt cá bé. (CHT Hiền – K12, Song Ngư 1, cá lớn; Nghiệp & Ngà – K24, Song Ngư 2, cá bé). Ngày mai vô, đàn anh cũng nên chuẩn bị tâm tư…”.

Ngày trở về trình diện đơn vị.  Gặp tôi, sau màn tay bắt mặt mừng chiếu lệ, CHP Hà cho biết:

“Sướng nha, mấy tuần nay anh hưởng trăng mật huy hoàng, sung sướng quá, làm sao biết đám tụi nầy ở đây nhọc nhằn đến như thế nào. Cho anh hưởng thêm hết ngày hôm nay. Bắt đầu ngày mai anh cũng tham gia công việc tìm kiếm như tụi tôi, …”

Rồi CHP đi đâu đó, một lúc sau quay lại:

– Mấy ngày trước CHT mới mời được một thầy (sư) tới để cúng tế cầu may. Hôm nay thầy tới. Việc cúng tế sẽ diễn ra trên chiếc 6514 của anh. Anh cũng nên có mặt.

Sau đó chiếc 6514 rời bến chạy ra giửa dòng tại ngã ba “Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”.  Có nhà sư lo phần cúng tế trên đó, trước một bàn thờ Phật, đầy đủ nhang khói hoa quả. Cũng có CHP Hà thay CHT ra giửa sông, cùng tôi và tất cả nhân viên khác. Chiếc 6514 chạy lòng vòng. Bắt đầu là nhà sư với tiếng kinh, tiếng mỏ; thỉnh thoảng lại đốt giấy tiền, vàng bạc thả xuống sông. Rồi CHP bước vào đốt nhang cúng vái. Phần tôi, tôi chỉ đứng nhìn từ xa xa. Tôi thật tâm thấy không hào hứng nhiều với mấy chuyện nầy. Vả lại tôi đang nghĩ đến việc sẽ bắt đầu nhọc nhằn kể từ ngày hôm sau; và nhất là vẫn còn thấy tiếc nuối mấy tuần phép ngắn ngủi vừa qua.

Sau khi chấm dứt phần của ông, CHP thình lình quay sang tôi, nói:

– Anh là thuyền trưởng chiếc nầy. Trong đơn vị tụi nó đồn anh mát tay lắm. Cũng ra đây cúng vái một chút đi.

Trước mặt nhân viên, mặc dù không mấy tin những việc như thế nầy, tôi cũng thấy không thể từ chối. Tôi đành bước lên đốt nhang và cúi đầu khấn vái theo bài bản. Vậy mà chuyện lạ đã xảy ra. Trong khi tôi còn đang đứng đó trước bàn cúng, từ trong cái máy truyền tin đã có tiếng reo: “Dính rồi, … dính rồi, …”. Ngay lúc đó tôi ngở ngàng, còn không biết chuyện gì xảy ra thì CHP lắc đầu giải thích:

– Là có chiếc nào đó quanh đây, tụi nó rà dính vật gì đó, … Nhưng mấy tuần nay vẫn cứ rà dính hoài. Ngày nào cũng vậy, không dính cái nầy thì cũng là cái khác.  Đủ thứ trên đời đang nằm chờ dính dưới đáy sông. Phải chờ người nhái xuống dưới mới biết được.

Vậy mà lần nầy dính thiệt. Một lúc không lâu sau người nhái xác nhận sự thật, một giang đỉnh đàng kia đã tìm được chiếc LCM6 chìm.  Chiếc 6514 quay về bến. CHP kéo cả nhóm giang đỉnh xuống Câu Lạc Bộ giang đoàn kêu cả đống bia để ăn mừng. Lúc đó CHP nói với tôi:

–  Anh mát tay thiệt, chỉ cần cúng vái một chút xíu mà linh ứng liền. Hôm nay CHT không có mặt trong đơn vị nhưng tôi đã tường trình mọi việc. CHT đã đồng ý thưởng cho anh thêm 3 ngày phép đặc biệt.

Thế là tôi lại phơi phới ra về. Ngày hôm sau đã không phải bị phơi nắng phơi khô theo giang đỉnh rà kiếm nữa mà lại còn được thêm 3 ngày phép.  Ai lại không thống khoái !!!

Sau nầy tôi mới nghe được nhiều chi tiết hơn. Việc dò tìm khó như vậy là do chiếc LCM6 sau khi chìm xuống tới đáy sông lại nằm vào một vị thế gần như lật úp đưa cái lườn lên, chỉ còn lộ ra một phần rất nhỏ của cây cột căng vải che nắng mưa ở phòng lái. Ngày hôm đó cái móc của dụng cụ rà may mà lại cắn ngay vô cây cột. Nếu không thì không biết còn gian nan đến bao giờ.

Những chuyện như vậy đã làm cho đám nhân viên trên 6514 và cả đám giang đỉnh càng cho rằng tôi thuộc dạng mát tay. Phần tôi, tôi không tin vào việc mình có mát tay hay không.  Trong đời, tất cả chỉ là sự tình cờ.

Trong thời gian phục vụ tại ĐKRS, ngoài Khiết, Hồng, và Tồn cùng đơn vị, tôi đã gặp nhiều K21 khác: PC Hùng Sùi (22XP); KN Thành, NL Thọ, TH Tài (57TT); HV Dự (91TL).

Có những sĩ quan giang đỉnh 27XP khác mà lúc nào tôi cũng thấy rất gần gủi như Liêm (K20), Công & Minh (K22), Nghiệp & Ngà (K24). Gần gủi đủ để cùng nhau chia xẻ thật nhiều vui buồn, những lúc trong vùng công tác hay những khi lai rai nơi này chổ nọ.

Mặc dù là thuyền trưởng bất đắc dĩ của chiếc 6514, tôi cũng có một ít thuộc cấp rất dễ thương, thật gần gủi, gồm có: ThS/VC Tín, TrS1/VC Bé, TrS/TP Hòa, TrS1/CK Quốc, HS/VC Phúc, HS1/TP Nghiệp, HS/TV Châu.

Từ từ rồi tôi cảm thấy mình hoàn toàn thích nghi với cuộc sống giang đỉnh. Phần lớn thời gian của tôi là ở ngoài vùng. Hết lệnh công tác nầy, lại tới lệnh công tác khác. Những ngày về căn cứ, gần phân nửa thời gian trong giờ làm việc là la cà ở các cà phê, quán nhậu quanh Nhà Bè. Hết giờ làm việc thì dọt về Sài gòn, tụi tôi đám cưới mới vừa hơn nửa năm.

Rồi thời gian tiếp tục lặng lẽ trôi,..và tôi đã qua hết năm thứ hai tại GĐ27XP.  Bấy giờ đã là cuối tháng 3, 1975.

PV Tố – M6514

http://taiton2049.blogspot.com.au/search/label/Ch%C3%BAt%20T%C3%ACnh%20S%C3%B4ng%20N%C6%B0%E1%BB%9Bc

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s