Giọt máu đào…

 

Trần Phú Trắc nói với tôi:

– “Anh thấy có mất mặt không? Cán bộ Thắng nó nói bây giờ các anh có người bà con nào thật xa theo “cách mạng” cũng cố khai vô lý lịch để mong được khoan hồng. Kỳ cục không?”

– “Còn “ông” thì sao?” Tôi hỏi kháy Trắc.

Trắc trả lời, giọng cương quyết:

– “Tui thì dứt khoát. Tui coi như không có hai thằng chú tui. Cả ba tui, thời theo “kháng chiến”, tui cũng bỏ luôn, không thèm khai.”

Không cần nghĩ tới hai ông chú, một ông là Giám Đốc Sở Công An, một ông là Giám Đốc Sở Thương Nghiệp tỉnh Thuận Hải, Trắc nói với tôi rằng anh ta khai cha chết sớm, còn không khai gì về hai ông chú cả.

Tôi nói:

– “Chức vụ như vậy là mạnh lắm, đứng ra bảo lãnh là ông về cái một.”

Trắc nói:

– “Tui cũng có tự ái chớ anh. Tui không cần đâu!”

Thế rồi vì lý lịch là cháu “anh Tám Thẹo” – tiếng chúng tôi hay gọi đùa “ông tông tông”, nên Trắc “được tha ra khỏi trại cải tạo” – câu trong lệnh tha thường ghi – sau tôi những năm năm.

Anh ngồi gỡ thêm 5 cuốn lịch nữa. Tội nghiệp! Mà cháu ông Thiệu, anh ta được cái gì chứ?! Ra trường khóa 21 Thủ Đức, Trắc đi Dù, về tiểu đoàn 5 với ông Trần Quốc Lịch, băng rừng, lội suối cũng như mọi người.

Một lần, Trắc nhớ hành quân ở giới tuyến, trong một đêm mưa phùn gió Bấc, ông Lịch sáng tác bài thơ, Trắc nhớ được mấy câu:

Bữa trước mưa đêm cũng chốn nầy

Bây giờ mưa gió lại về đây.

Ô hay mưa chẳng thương đời lính.

. . . . . . . .

“Chốn nầy” là Quảng Trị, quê hương thơ ấu của tôi!

Hành quân ở đó mà gặp mùa mưa phùn gió Bấc thì da diết khó quên.

Hồi còn ở trại Trảng Lớn, cùng chung L3-T3, Tôn Thất Chu đến thăm tôi.

Ông nầy cũng là hạng “học trò quái kiệt” của tôi đấy!

Hồi học với tôi, anh ta nghịch lắm, được cái là tuy học không chăm nhưng rất lễ phép. Đậu trung học, anh vào Quốc Học. Năm thi Tú Tài 1, anh “quay phim” bị giám khảo bắt được, đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật, cấm thi ba năm, không những vì tội quay phim mà còn bướng, cải lấy được với giám khảo.

Năm sau, anh ta thay giấy khai sinh, thêm dấu ư và dấu ngã, từ Chu ra Chữ, đi thi lại như thường. Những năm “đấu tranh” của cái gọi là “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc”, anh ta từ Quốc Học về trường cũ, phá cổng trường vào kêu gọi học sinh bãi khóa.

Ông cai trường giận anh ta lắm, cứ nói hoài câu: “Thằng Chu chớ không ai hết. Hắn phá cổng trường! Hắn phá cổng trường!”

Vì tham gia đấu tranh, anh bỏ học rồi nhập ngũ.

Bây giờ thì hai thầy trò gặp nhau trong “trại cải tạo”. Tác phong của Chu vẫn như cũ, vui đùa tự nhiên và vẫn nghịch, dù đang ở tù.

Anh ta nói:

– “Không biết chắc em có về trước thầy không?! Ba em bảo lãnh cho em rồi.”

Ba của Chu là ông Tôn Thất Khâm, thiếu tướng Việt Cộng. Ông ta ở ngoài Bắc về, hiện nghỉ hưu ở Huế. Chu cũng có một người chú nữa, Việt Cộng nằm vùng, bị Thanh Niên Cộng Hòa bắn chết ở Nam Hòa khoảng năm 1960.

Chu lại nói:

– “Ba em dặn em được về thì nhớ nghe lời ba dặn, đừng như Tôn Thất Đính.”

Tôi hỏi:

– “Đính nào, mà sao?”

Té ra Chu có một người anh tên là Tôn Thất Đính, đại úy, trước 1972, phục vụ ở tiểu khu Quảng Trị. “Mùa Hè Đỏ Lửa”, Đính bị Việt Cộng bắt, đưa ra Bắc.

Thiếu tướng Việt Cộng Tôn Thất Khâm nghe tin con bị bắt, bảo lãnh cho con về Hà Nội chơi, thăm cho biết “Thủ Đô Cách Mạng Việt Nam” văn minh tiến bộ như thế nào!!!

Ông ta cho con biết rằng Hiệp Định Paris 73 ký rồi, sắp trao trả tù binh, và yêu cầu con ở lại miền Bắc với cha, đừng về miền Nam nữa.

Đính nhứt định về, nói là về với mẹ ở trong Nam.

Ông Khâm chiều ý con nhưng dặn, nếu có về thì đừng đi “lính ngụy” nữa. Đính hứa.

Về tới miền Nam, khi còn ở Trại An Dưỡng, anh xin trở lại Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, “quên” lời hứa với cha.

Ông Khâm rất giận con việc nầy, nên lần nầy không bảo lãnh cho Đính nữa. Chỉ bảo lãnh cho Chu và ông anh cả, Trung tá Tôn Thất Thuyên.

Chu có một người chị nữa, cũng là học trò của tôi, nổi danh ở Huế một thời vì đẹp, sexy và có mái tóc vàng như “Mùa Hè Rực Rỡ”, như đào ciné.

Người ta đồn sau nầy vì cô ta mà một ông thầy chùa cởi áo tu. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” mà.

Hỏi Chu, Chu nói:

– “Tụi nó nói tầm bậy. Chồng chị ấy học sư phạm ra!”

Chu đưa cho tôi xem bản sao tờ bảo lãnh của cha, lời lẽ khá cảm động: “Tôi vì công tác cách mạng nên không có cơ hội chăm sóc con cái để đến nỗi gia đình ly tán như thế nầy. Tôi cũng thương các con tôi, vì Bác Hồ có nói tình yêu gia đình cũng thiêng liêng như tình yêu tổ quốc…”

Tôi nói:

– “Thư viết hay đó! Không biết mấy ông Việt Cộng đọc có thương tình mà cho ông về sớm không!? Thôi cứ “an tâm học tập cải tạo” đi.”

Chu nói:

– “Ba em nói nếu em “học tập” ở Huế thì nay em đã được về rồi.”

Tôi cười, nói đùa:

– “Tha ông về sớm để ông theo ông Đính chớ gì?”

Chu chỉ cười.

Đơn bảo lãnh của ông Khâm cũng được “cách mạng” xét tới, sau khi Chu ở “tù cải tạo” hơn ba năm, đủ để đi HO.

Chu đi tìm Hồ Đức Trai, cũng là học trò cũ của tôi. Cả hai đến thăm thầy.

Chu nói đùa:

– “Tù trò đi thăm tù thầy nên không có quà, chỉ có hai tay không?”

Tôi cười:

– “Khi tui bắt đầu đi dạy, có bà thím nói “Bộ hết nghề rồi hay răng mà đi dạy. Nghề nớ bạc bẻo lắm.”

Tui cười, chấp nhận chuyện bạc bẻo đó.

Nay ở trong tù mà mấy ông tới thăm tui là quí rồi. Ông Trai đi lính khi mô?”

– “Em học Võ Bị, mãn khóa về học thêm ở Phú Thọ, đậu kỹ sư, nhưng bằng của em thì do đại tướng Cao Văn Viên ký. Chưa kịp ký thì ông dọt mất, thành ra em mất cái bằng kỹ sư.”

Tôi nói:

– “Bỏ đi! Không chắc “cách mạng” cần tới bằng cấp của người miền nam. Hồng hơn chuyên mà.”

Ở trại nầy, tôi cũng có nhân vật khác, cũng khá buồn cười là anh Đặng Mậu Hùng. Anh thuộc loại sinh viên xuất sắc của viện Đại Học Huế hồi đầu thập niên 1960. Cùng với Huỳnh Hữu Tuệ – em họ tôi, người tôi từng làm precepteur khi tôi học ở Quốc Học, – (1) được học bỗng du học Canada.

Tuệ lên máy bay đi Canada dễ dàng, vì bố anh ta thuộc nhóm các ông Võ Như Nguyện, Đinh Sơn Thung, Đỗ Mậu, theo cụ Ngô khi cụ còn “lê gót nơi quê người” – câu cũ trong bài hát “suy tôn Ngô tổng thống” của Nguyễn Hiền- lại còn được chọn làm trưởng nhóm du học sinh nầy.

Hùng bị kẹt lại, bộ Nội Vụ không cho đi vì có bố tập kết ngoài Bắc. Hùng tiếp tục học ở Đại Học Huế, đậu cử nhân khoa học, bị động viên, ra trường được chọn làm giáo sư ngành văn hóa tại trường Võ Bị Quốc Gia. Khi trường Võ Bị muốn kiện toàn đội ngũ giáo sư cho chính của trường, Hùng lại được du học Mỹ, không bị trở ngại như lần trước. Đậu kỹ sư hóa học ở Mỹ rồi về nước, Hùng tiếp tục dạy ở Võ Bị cho đến 30 tháng Tư thì đi ở tù. (2)

Hùng là em vợ Lê Trọng Thọ, hai anh em cùng trình diện và “học tập” cùng chung trại Trảng Lớn với tôi.

Một lần chúng tôi nói chuyện chơi với nhau, Hùng nói đùa:

– “Ông già không bảo lãnh cho tui về là tui từ ông luôn.”

Tôi cười, nói:

– “Chuyện từ nhau là chuyện vô duyên. Cha mẹ có từ con thì con vẫn là con cha mẹ. Nó không thể chui đất mà lên được, dù là cán bộ Cộng Sản. Ai cũng phải có cha mẹ. Con từ cha mẹ thì cha mẹ vẫn là cha mẹ mình. Còn nếu như từ để khỏi nuôi cha mẹ là tội bất hiếu.”

Hùng thành thật nói:

– “Nóng về thì nói bậy nhưng tôi chắc ông không đủ sức để lo cho tôi về.”

Quả thật, ông cụ có bảo lãnh cho Hùng nhưng Hùng không về sớm được. Có người quen ở Huế nói với tôi rằng ngày xưa ông từng làm Công An Liên Bang, nhưng rất thường giúp đỡ những người hoạt động cách mạng, bất kể đảng phái Quốc gia hay Cộng sản.

Sau cách mạng tháng tám, ông làm việc cho Việt Minh, rồi đi tập kết, không dám trốn Việt Minh về với vợ con vì sợ Tây trả thù. Khổ nỗi, vì lý lịch từng làm Công An Liên Bang nên Cộng sản chẳng tin dùng gì ông, ông chỉ là nhân viên thường. Họ chỉ cần ông lúc ban đầu, khi mới cướp chính quyền mà thôi.

Một hôm tôi đi múc nước dưới đường mương để tưới rau. Đang lum khum với cái gầu thì có người đứng trên bờ mương gọi: “Anh Hải.”

Tôi bước lên khỏi mương, hỏi:

– “Xin lỗi, trông quen quen mà không biết ai?”

Anh ấy cười, nói:

– “Anh nhớ Hoàng Ngân Hà và chị Ái Loan không?”

Tôi hốt hoảng:

– “Thôi chết rồi! Thọ phải không? Thọ em chị Loan phải không? Tui xa quê sớm quá, đám nho nhỏ sau nầy, nhớ tên mà không nhớ mặt. “Ông” bị “tội” chi mà vô đây?”

– “Em trung úy. Đang học đại học nửa chừng thì em đi Thủ Đức.”

Về trại Suối Máu, tôi lại gặp một người học trò cũ khác, anh Trần Hữu Xiêm. Ông nầy cũng “buồn cười” không khác gì ông Chu.

Năm đệ tam, Xiêm học với tôi. Anh thuộc loại học trò xuất sắc, giống như trường hợp Võ Thế Hiệp vậy. Giáo sư Nguyễn Ngọc Minh dạy kèm cho cả hai anh Toán và Lý Hóa, các môn khác, tôi chỉ sách cho họ tự học thêm. Cuối năm đệ tam, cả hai thi tú tài 1 và trúng tuyển.

Người Xiêm to cao, trắng trẻo, thi vào không quân và tốt nghiệp, làm “giặc lái” máy bay L. 19 ở Nha Trang.

Ra trường, anh về phục vụ ở vùng I. Một lần lái L.19 hộ tống cho đoàn xe của một người bạn trên quốc lộ 1, anh suýt chết khi qua đèo Hải Vân. Máy bay bị gió thổi sà ngang đầu mấy chiếc xe đang đậu trên đỉnh chờ đổi giờ đèo, ai cũng khiếp đảm. Anh cũng hú hồn thoát chết.

Được nửa năm, An Ninh Quân Đội “điều chuẩn an ninh”, phát hiện bố anh là “Ủy viên trung ương đảng” ở ngoài Bắc nên anh bị “cấm bay”, được giao công tác trên mặt đất.

Anh của Xiêm là Trần Hữu Tín cũng bị vạ lây. Tín đang làm ở phòng 2 bộ Tổng Tham Mưu, bị thuyên chuyển về Khối Chiến tranh Chính trị Tiểu khu Gia Định.

Bây giờ cả hai anh em cùng đi “tù cải tạo” với nhau.

Sau vụ “cấm bay” được nửa năm, cấp chỉ huy xét lại nên Xiêm được bay như cũ.

Xiêm kể:

– “Ngày 2 tháng Tư (1972), em bay quan sát từ Đà Nẵng ra Bến Hải. Ngang cầu Đông Hà em thấy 7 chiếc xe tăng đang từ hướng Bắc chạy vào, hai chiếc đầu gần tới cầu Đông Hà rồi.

Em rà thấp xuống coi thử xe tăng ai mà hơi lạ lạ. Nhìn kỹ, té ra xe tăng Việt Cộng, chúng từ ngoài kia, theo quốc lộ mà vào. Em gọi về trung tâm hành quân ở Đà Nẵng, xin máy bay oanh tạc.

Đà Nẵng biểu chờ, phải trình trung tướng đã. Mẹ nó lên. Xe tăng Việt Cộng sắp tới cầu Đông Hà rồi mà còn biểu chờ. Xe tăng nó qua cầu được là coi như xong.

Nghe em chưởi thề trong máy, một anh chàng A-37, chẳng biết tên họ là chi, cùng tần số, bảo em:

– “Đ. mẹ, đếch có chờ. Ông chỉ điểm đi, tôi chơi liền”.

“Thế là em rà xuống thấp, bắn trái khói. Anh chàng kia cùng người bạn, hai chiếc A-37 nhào xuống chơi trò “cua rang muối”.

Năm chiếc cháy ngay trên đường, hai chiếc hoảng hồn lao xuống ruộng, em chi điểm tiếp cho hai anh chàng kia rang cháy luôn. Còn thêm khoảng cở mười chiếc ngoài kia đâm đầu chạy vào, như tụi liều mạng vậy. Bọn em cũng hết bom, nhưng dưới đất thì kêu réo om sòm vì xe tăng Việt Cộng tới.

May khi đó, Thiết Đoàn 21 Chiến Xa của Trung tá Nguyễn Hữu Lý kịp phá sập cầu Đông Hà.”

Tôi hỏi:

– “Trong bản tự khai, ông có khai vụ nầy ra không?”

– “Có chớ, sao không?” Xiêm trả lời tự nhiên. “Biểu thành thật khai báo là em khai hết. Sợ gì? Mà hình như ba em ông “đấu tranh” dữ lắm. Em gái em ở Huế gởi thư cho biết nhiều lần ba em ngồi uống trà suốt đêm không ngủ. Bảo lãnh cho một thằng con rang hết cả chục con cua của “cách mạng” chắc khó lòng cho ông dữ!” Nói xong, Xiêm cười hề hề!

Sau đó ít lâu, có đợt đày tù cải tạo ra Bắc. Cả hai anh em của Xiêm đều có mặt trong đợt nầy.

Khi ở trại Z-30A, một hôm, Nguyễn Minh Chiếu, thiếu úy, nhân viên cũ của tôi, nay tù chung cùng một trại, hỏi: “Anh có biết thằng cha Tấn không?”

Tôi nói: “Có nghe người ta nói sơ, buồn cười lắm phải không?”

– “Mắc cười lắm. Ba anh ta tập kết ngoài Bắc, y ở lại trong Nam cùng với mẹ. Mẹ nuôi cho ăn học, khi “đứt phim”, anh ta đang học đại học khoa học. Cha anh ta từ Bắc vào “công tác” ở Saigon và thăm gia đình. Việc học hành lúc đó “cà lơ phất phơ”, tới trường thì chỉ có hát hò, học tập chính trị, chán quá, anh ta bỏ đi chơi, suốt ngày ngồi quán caphê, nghe lén nhạc vàng.”

– “Ông bố không biết?” Tôi hỏi.

– “Biết chớ. Cho nên ông biểu thằng con ra thăm Hà Nội một chuyến cho biết, thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, văn minh, tiến bộ…”

– “Cha con đi với nhau?” Tôi hỏi.

Không trả lời tôi, Chiếu kể tiếp:

– “Cha dẫn con đi quanh Hà Nội, chỉ cho con thấy những ưu việt của xã hội Việt Cộng như cột ăngten đài phát thanh Hà Nội, cửa hàng mậu dịch vân vân…”

– “Mấy cái đó, có chi đặc biệt mà khoe!” Tôi góp ý.

– “Về tới miền Nam, thằng con than thở với mẹ, xin mẹ cho đi vượt biên.”

– “Trước đó chưa có ý định vượt biên?” Tôi hỏi.

– “Đâu có! Ban đầu tưởng Việt Cộng ngon. Ai ngờ ra tới thủ đô Hà Nội, sợ quá, về tới nhà xin mẹ vượt biên.” Chiểu kể.

– “Bà ấy cho con đi? Hai chục năm, cha con mới gặp nhau mà!”

Tôi than.

– “Ban đầu thì chưa. Bỗng một hôm, cha con đụng độ dữ dội, nên bà phải cho thằng con trai vượt biên.”

– “Đụng độ vì gì?”

– “Anh ta có thằng bạn đến chơi. Thằng bạn kể chuyện nước Mỹ văn minh tiến bộ, sản xuất theo giây chuyền. Đặt lên đầu giây chuyền một con heo sống, cuối giây chuyền là những hộp thịt, vô thùng đàng hoàng, chỉ cần cho lên xe phân phối mà thôi.

Nghe chuyện, thằng con góp ý:

– “Xã hội chủ nghĩa văn minh hơn mày. Nếu đầu giây chuyền để những hộp thịt heo, cuối giây chuyền sẽ có con heo sống.”

“Tình cờ ông bố ngồi nghe chuyện. Biết thằng con kể chuyện xỏ lá, bèn nổi giận mắng con. Thằng con cãi lại, chê thủ đô xã hội chủ mà cha dẫn đi xem chẳng ra con mẹ gì cả. Thế là ông ta tuyên bố từ con. Bà mẹ thấy cha con căng quá, bèn cho con vượt biên.”

– “Vượt biên bị bắt?” Tôi hỏi.

– “Ở trại nầy, hễ ai tích cực lao động, giác ngộ học tập, anh ta cho là ngu, không thèm chơi.”

hoànglonghải

(1) Huỳnh Hữu Tuệ, du học Canada năm 1961, đậu kỹ sư rồi tiến sĩ toán, dạy đại học ở Québec, Michigan, Mascơva và Hà Nội (sau 1975), đảng viên đảng Cộng Sản Canada, chủ tịch cái gọi là “Việt Kiều Yêu Nước” Canada. Thân phụ là ông Huỳnh Hữu Hiến, một thành viên của “đảng cụ Ngô” như các ông Võ Như Nguyện, Ngô Ganh, Ngô Đình Thảng, Phùng Ngọc Trưng, v.v… Anh Đặng Mậu Hùng, vì thân phụ là Đặng Mậu Tư, đi tập kết, nên việc du học của Hùng bị trở ngại. Hai người nầy là bạn học, cùng quê ở Huế và cùng là sinh viên giỏi của viện đại học Huế. Hùng có thân phụ đi tập kết nhưng lại thuộc thành phần chống Cộng, hoàn toàn trái ngược với Tuệ.

(2) Hùng cưới vợ Quảng Trị, cô Mai (em) của nhà sách Sáng Tạo. Hùng kể lại cho tôi nghe khi còn đi học, mỗi tuần, Hùng chạy xe gắn máy từ Huế ra thăm “bồ” ở Quảng Trị, cách Huế 60Km. Về sau, Hùng cưới cô nầy làm vợ.

https://vantuyen.net/2015/01/27/hoanglonghai-vet-nam-bai-3-giot-mau-dao/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s