Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cuộc chiến chống CSBV từ 1967 – Tháng Tư 1975

TT Nguyen Van Thieu thap huong tuong niem truoc ngoi mo cua mot Tu si vo danh

Nhân sắp đến ngày cộng đồng người Việt ở Nam California tổ chức tưởng niệm đến Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhân ngày giỗ thứ 16, nhìn lại dòng lịch sử cận đại:

(Trích trong bài viết “TT Nguyễn Văn Thiệu và cuộc chiến chống CS quốc tế xâm lăng miền Nam VN”)

Mỗi lần nghĩ tới cảnh nhà tan người chết, nỗi đói nghèo của đồng bào, cảnh trẻ em phụ nữ VN vì muốn cải thiện cuộc sống nghèo cực trầm luân dưới mười hai tầng địa ngục của chế độ đương thời, mà nhắm mắt nghe lời theo đảng, để rồi bị bán ra nước ngoài làm điếm quốc tế. Và trên hết, vẫn là nỗi niềm đau xót tủi nhục trước cảnh Cộng Sản VN công khai bán đất dâng biển, làm đầy tớ cho ngoại bang như hôm nay, khiến cả nước đều khinh ghét bọn Việt gian, đội lớp trí thức và tôn giáo thời VNCH. Ðây mới chính là những vết dao trí mạng đâm bồi thêm sau lưng người Chiến Sĩ Quốc Gia, giữa lúc họ đang hứng chịu bom đạn nơi sa trường.

Trong hoàn cảnh hỗn mang đó, ông Nguyễn Văn Thiệu xuất hiện đúng lúc trên sân khấu chính trị miền Nam, qua tầm vóc dù nay có bị thiên hạ ganh tị, bới móc chửi rủa chê bai. Nhưng lúc đó, thật sự ông vẫn hơn nhiều người đương thời và quan trong hơn hết, là lập trường chống Cộng Sản rất kiên quyết, không bao giờ khoan nhượng. Những yếu tố trên rất phù hợp quan điểm và chính sách của Hoa Kỳ lúc đó, là muốn chiến thắng Cộng Sản đệ tam quốc tế, đang xâm lăng thôn tính VN. Do trên, ông đã được sự ủng hộ “nhiệt tình” ban đầu của Mỹ. Nhờ tận dụng tình hình, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ổn định được thời cuộc và giữ vững được Miền Nam, cho tới gần cuối Tháng Tư 1975.

Mới nay, cựu ngoại trưởng Mỹ là Kissinger, một nhân vật bị mang tiếng là đã toa rập với cố Tổng Thống Hoa Kỳ Nixon, dùng hiệp định ngưng bắn Paris năm 1975, để bán đứng Ðồng Minh của mình là nước Việt Nam Cộng Hòa, cho Cộng Sản đệ tam quốc tế. Ông đã viết trong tác phẩm “Diplomacy,” rằng Hoa Kỳ vì muốn cứu mình, nên bắt buộc đã phải phản bội miền Nam. Cũng vì vậy tới nay, nước Mỹ đã phải trả một giá thật đắt với nhân loại, qua cái gọi là “Hội Chứng Chiến Tranh Việt Nam” về tội bất nhân, bất nghĩa, bất tín và hành động kẻ cướp của bọn con buôn chính trị hoạt đầu.

Tóm lại, cũng nhờ học được bài học “Mỹ bán đứng đồng minh Việt Nam Cộng Hòa cho Việt Cộng,” mà Ðài Loan lẫn Ðại Hàn và nhiều nước đang làm bạn với Hoa Kỳ, đã nhanh chóng xét lại sự liên minh, hợp tác với kẻ bội tín, bất nghĩa. Hậu quả ngày nay, khiến không một ai muốn hợp tác thật sự với một quốc gia không có tình nghĩa, mà chỉ biết tính toán trong cuộc chơi, đem lợi lộc về phần mình. Trung Cộng, Ðài Loan, Bắc Hàn, A Phú Hãn, Iraq và mới đây là Iran… là những bằng chứng của sự bang giao quốc tế, đồng thời cũng là một bài học lịch sử dạy khôn người Mỹ, đừng tưởng ai cũng hiền như Nam Việt Nam, nên cứ tiếp tục thất hứa, bất nhân. Rốt cục gần như cô đơn tại Liên Hiệp Quốc ngày nay. Và trên hết, trong canh bài bịp chung chiếu với các nước trên, kể cả Việt Cộng, chừng nào người Mỹ mới lên mặt, còn nói chi tới chuyện gạt được bọn chúng?

Cũng trong tác phẩm dẫn chứng, Kissinger đã đề cập tới sự sai lầm trầm trọng của Hoa Kỳ, khi tìm đủ mọi cách được vào tham chiến tại Nam Việt Nam nhưng chỉ chiến đấu bằng lý thuyết tại bàn giấy, mà chẳng bao giờ thèm để ý tới thực tế chiến trường. Do đó, quân đội Hoa Kỳ phải đánh giặc, theo chủ đích có sẵn trong đơn đặt hàng, của bọn siêu quyền lực lái súng, phần lớn là Mỹ da trắng gốc Do Thái, thời nào cũng nắm vận mệnh của Hiệp Chủng Quốc bằng thế lực kim tiền.

Tất cả hậu quả bi thảm kéo dài tới ngày nay, đều do những chiến thuật, chiến lược, quốc sách đầu voi đuôi chuột, của J.Kennedy, của Johnson, của Mc. Namara,… chỉ nhằm phơi bày lớp hào nhoáng bên ngoài, cộng thêm thái độ độc tôn của kẻ giàu, có học, luôn muốn người khác phải nhắm mắt làm theo ý mình, nếu cải hay phản đối lại, sẽ bị trù dập, ám sát hay dùng những câu chuyện bịa sử, để mà bôi bác hãm hại. Tất cả bí mật hậu trường Dinh Ðộc Lập, mới đây đã được TS Nguyễn Tiến Hưng, phần nào hé lộ, qua hai tác phẩm “Bí mật Dinh Ðộc Lập và Khi Ðồng Minh tháo chạy.” Tuy không phơi bầy hết cái thân phận nhược tiểu Việt Nam, nhưng ít ra cũng xác nhận hiện tượng “Ðưa quân vào, rút lính ra, dựng lãnh đạo, giết tổng thống,…” của người Mỹ, đã và đang làm, không riêng gì tại Nam Việt Nam, trước đó, mà hầu như khắp mọi nơi trên thế giới, mà mới nhất là câu chuyện sử, có liên quan tới các nhân vật Bin Laden, Taliban và Sadam Hussein.

Ðây cũng là căn bệnh trầm kha của xã hội Mỹ, quen sống chủ quan trong cảnh thừa mứa tự do và vật chất, đến lúc sự lạc quan sụp đổ, thì đã vội chán nản tuyệt vọng, mau chóng buông xuôi tất cả, để tháo chạy giữ mạng. Tệ nhất là vì muốn rửa mặt với kẻ khác, Hoa Kỳ đã trơ trẽn dựng thêm lý do “MIỀN NAM KHÔNG ÐÁNG ÐƯỢC CỨU VỚT,” nên phải bỏ.

Nhưng, dù có biện bạch thế nào chăng nữa, thì người ta cũng không thể nhắc tới vấn đề nhân đạo, trong một cuộc chiến tiêu hao lâu dài, với một kẻ thù dã man cuồng sát như Cộng Sản Bắc Việt, coi sinh mạng con người (trừ thân nhân mình), rẽ hơn con sâu cái kiến. Bởi vậy từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Ðộ,… tới các chóp bu đang lãnh đạo Ðảng tại Bắc Bộ Phủ ngày nay, đều giống nhau, chỉ biết lấy thân xác của đồng bào vô tội, làm phương tiện đạt cứu cánh sau cùng, nên bất chấp thủ đoạn, nhân tình, nói chi tới lòng ái quốc và tình thương dân.

Bao nhiêu tội ác của đảng Cộng Sản suốt bảy mươi bảy năm qua, chỉ riêng bắt trẻ vị thành niên cầm súng, dùng chế độ hộ khẩu công an khu vực, để kềm kẹp khủng bố đồng bào miền Bắc, phục vụ hy sinh cho đảng, suốt cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1960-1975). Do coi mạng người rẽ hơn cây kim sợi tóc, nên lúc nào Việt Cộng cũng bắt chước theo binh pháp thí quân của Nga-Tàu, Clausewits, lấy thịt đè người mỗi khi xáp trận. Lại còn bắt cán binh xiềng chung với tăng, pháo hay cho bộ đội uống thuốc kích thích trước giờ ra quân. Chiến đấu với một kẻ thù lì lợm, bất nhân, mất nhân tính như Việt Cộng, thử hỏi làm sao Hoa Kỳ, Ðồng Minh và VNCH không thua trận? Cho nên dù có tranh luận như thế nào chăng nữa hay đổ tội cho ai, thì cuối cùng cũng phải đi tới kết luận như Bộ Trưởng Tư Pháp Mỹ Robert Kennedy lúc sinh thời từng nói: “Lỗi lầm tại VN nhiều tới nổi, bất cứ ai có liên hệ, cũng đều ít nhiều phạm phải.”

Nói về chiến tranh Việt Nam hay đúng hơn là cuộc chiến Ðông Dương lần 2, các nhà sử học trong và ngoài nước hay lấy trận Ấp Bắc (Ðịnh Tường) năm 1963, cuộc triệt thoái của Quân Ðoàn II tại Cao nguyên Trung phần và QÐ.I ở Huế-Ðà Nẵng, vào những ngày đầu Tháng Tư 1975, như là những sự kiện lịch sử quan trọng nhất, để mà phê bình chỉ trích các cấp lãnh đạo đầu não của VNCH tại Dinh Ðộc Lập, cũng như ở các Quân Khu. Theo họ, chính những trung tâm quyền lực này, đã lợi dụng chức vụ và kỷ luật quân đội, để ngăn cản làm rối loạn, cùng sự tiêu hao việc thống nhất hệ thống chỉ huy tại chiến trường. Ngoài ra không có kế hoạch thích ứng, để kịp thời giải quyết những khó khăn nguy ngập. Tệ hơn hết là tình trạng chia rẽ, bè phái, bất hợp tác trong nội bộ, khiến không mấy ai thực lòng nghĩ tới đại sự của Quốc Gia Dân Tộc.

Cũng may QLVNCH còn có rất nhiều sĩ quan các cấp, tài giỏi đạo đức, có tình yêu nước nồng nàn nhưng trên hết là những người lính chiến can trường, khắp mọi quân binh chủng, kể cả những chiến sĩ Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát Dã Chiến và Người Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn áo đen, ngày đêm bám trụ khắp mọi nẻo đường đất nước, với những vũ khí thô sơ nhưng đã dám đối mặt với kẻ thù bằng một trái tim yêu quê hương rực lửa.

Chính nhờ họ, chứ không phải hàng thủ lãnh chính trị, trí thức khoa bảng chốn thị thành, mà miền Nam mới tồn tại được trong suốt hai mươi năm khói lửa. Cũng nhờ họ thây phơi máu đổ, làm vỉ sắt lót đường mòn, mà nhiều kẻ không ra gì, mới có cơ hội thăng tiến, mang “hàm” tá-tướng, trở thành ông này bà no, trí thức, văn nhân nghệ sĩ,… nay đang khoe mặt với đời ô trọc, biển dâu, tôn ti đảo lộn, nhiều lúc được chạm mặt, không biết đâu mà mò, vì không biết ai là ông hay thằng, bà hoặc mụ, vì ai cũng có hồi ký riêng, để tự khoe mình tài giỏi và đầy chức phận. Sau rốt cũng nhờ có QLVNCH, mà phút cuối, người Mỹ mới chạy được. Theo như nhận xét của Sir R. Thompson, một nhà quân sử nổi tiếng, đã nhiều lần không tiếc lời ca tụng, sự thiện chiến và lòng can đảm nhưng lại vô cùng bất hạnh của Người Lính Trận Miền Nam.

Từ Tháng Hai 1965, vì tình hình chính trị hỗn loạn tại miền Nam do Cộng Sản nằm vùng gây ra, nên Tổng Thống Mỹ L. Johnson đã ra lệnh oanh tạc Bắc Việt. Ðồng lúc gởi quân vào giúp VNCH. Nhiều đồng minh của Mỹ lúc đó như Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn, Ðài Loan, Thái Lan và Phi Luật Tân,… cũng tham dự cuộc chiến. Mặc dù ngày nay, ai cũng biết rõ là lúc ấy, Hồ Chí Minh cũng được cả khối Cộng Sản đệ tam quốc tế và các đảng bộ Cộng Sản Tây phương, quân viện giúp đỡ, kể cả hằng trăm ngàn quân Trung Cộng, Bắc Hàn,… đổ bộ vào Miền Bắc. Nhưng nhờ giỏi che đậy, tuyên truyền và được một vài “trí thức” khoa bảng miền Nam toa rập, cho nên đã bưng bít được, suốt cuộc chiến và tới ngày nay khi bộ mặt thật của Việt Cộng đã phơi bày. Thế nhưng Cộng Sản và đám lục bình, phản tặc, vẫn không ngớt rêu rao, tuyên truyền rằng VNCH, rước voi dầy mã tổ, bán nước, giết hại đồng bào.

Sau ngày 1 Tháng Năm 1975, những huyền thoại dỏm của Việt Cộng lần lượt tan biến và trở thành những câu chuyện khôi hài cười ra nước mắt, xác nhận hai phía, ai là kẻ bán nước, ai là người vì dân. Tất cả đã bị lịch sử lột trần ra ánh sáng. Theo tài liệu của C.JIan, trong “China and VN war 1945-1975” và gần đầy là “Ðêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên, ta mới biết vào ngày 16 Tháng Năm 1965, chính Hồ Chí Minh lúc đó là chủ tịch nước VNDCCH (Bắc Việt), đã công khai yêu cầu các nước XHCN Liên Xô, Trung Cộng, Ðông Ðức, Ðông Âu, Bắc Hàn, Cu Ba,… viện trợ và gửi quân tiếp viện miền Bắc. Sốt sắng hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ, là Mao trạch Ðông đã đưa ngay Hồng quân vào đất Bắc. Tính tới cuối năm 1968, Trung Cộng quân viện cho Hà Nội 7 Sư đoàn Công binh và 16 sư đoàn pháo binh phòng không đủ loại, trong đó có nhiều súng cao xạ phòng không kiểu mới nhất do Liên Xô vừa chế tạo.

Quân Tàu Ðỏ thay thế Bộ đội Bắc Việt vào Nam xâm lăng, giúp Hà Nội phòng thủ khắp nơi, từ biên giới Việt-Hoa-Lào vào tận vĩ tuyến 20 ở Thanh Hóa. Tháng Ba 1969, do sự bất hòa giữa hai đảng anh em vì tranh giành ảnh hưởng tại Lào và Kampuchia, nên Mao đã rút hết Hồng quân về nước. Ngoài ra trong suốt cuộc chiến, đất Bắc còn có nhiều cố vấn Liên Xô, Ðông Ðức, Tiệp Khắc,… còn Bắc Hàn và Cu Ba, thì gửi tới giúp nhiều đơn vị tác chiến. Ngày nay tại Hà Nội, vẫn còn nhiều mồ mả các cán binh ngoại quốc, đã chết trong chiến tranh VN. Có điều nhờ Hồ và đảng che đậy quá kỹ, qua mặt của Mỹ (?) nên mặt thật của cái gọi là “đánh Mỹ cứu nước” gần mấy chục năm sau, mới được phơi bày ra ánh sáng.

Ngày 4 Tháng Chín 1967, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử tổng thống, nhờ đó những xáo trộn chính trị tại miền Nam mới dần hồi chấm dứt. Ðây cũng là thời gian thành công của Chiến Dịch Phượng Hoàng, nhằm loại trừ các thanh phần CSVN đang nằm vùng khắp nơi. Song song, chính quyền đã thành lập các cơ cấu hạ tầng và hệ thống thẩm định đồng bào nông thôn, đang sống tại các xã ấp xôi dậu. Nhờ các chiến dịch trên, đã giúp vãn hồi an ninh khắp lãnh thổ, được Tướng Westmoreland, tổng tư lệnh quân đội đồng minh và Hoa Kỳ tại VN nhận xét “Năm 1967, QLVNCH đã tiến bộ vượt bực. Nhờ vậy đã bảo vệ được lãnh thổ trong hoàn cảnh đất nước đang bị nguy ngập, khó khăn, sau mấy năm biến loạn chính trị, với thù trong giặc ngoài.”

Theo tài liệu của Bộ TTM/ QLVNCH, thì miền Nam trước khi xảy ra cuộc chiến Tết Mậu Thân (1968), ngoại trừ lực lượng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Lực Lượng Ðặc Biệt, được Mỹ trang bị một số vũ khí tự động, trong đó có tiểu liên AR-15. Còn các đơn vị khác, kể cả binh chủng Biệt Ðộng Quân, Bộ binh,… vẫn còn sử dụng số vũ khí lỗi thời của Pháp để lại. Riêng viện trợ Mỹ, hầu hết cũng đều là các quân cụ thặng dư, có từ thời đệ I, II Thế Chiến như Garant M1, Carbine M1-M2, Trung liên BAR,… Nếu không có cuộc chiến tranh Việt Nam, thì những thou này cũng phải đem phế thải mà thôi. Ðây là hàng bán, tính bằng tiền mặt, rồi trừ vào ngân khoản viện trợ, lại được miễn thuế khi nhập vào nước ta.

Trong khi đó, CSBV được toàn khối Cộng Sản đệ tam quốc tế, viện trợ tối đa, từ tiền bạc, tình báo, tinh thần, cho tới quân trang dụng rất đầy đủ, nhiều nhất của Liên Xô, Trung Cộng, Ðông Ðức và các nước Ðông Âu… Tóm lại toàn là vũ khí hiện đại, đã được bộ đội Bắc Việt, đem sử dụng trên khắp chiến trường Miền Nam như các loại tiểu liên AK-47 (LX), AK-56 (TC), AK-MPiKM (Ðông Ðức), AKM-63 (Hung), AKVZ-58 (Tiệp), Súng chống chiến xa RPG-2B hay B40 của LX, B-56 (Tiệp), B-27 (TC), RPG-7 (B41 của LX), B-69 (TC) và các loại chiến xa T-54, Thủy xa PT-76 cùng các loại đại bác tầm xa 122-130 ly do Liên Xô chế tạo.

Nhưng dù đạt được nhiều ưu thế về vũ khí, Việt Cộng vẫn bị thất bại quân sự, gần như trên khắp mọi chiến trường, cả một lực lượng võ trang của cái gọi là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” bị tiêu diệt hầu hết và còn hại thêm một số đơn vị chính quy Bắc Việt nên Hà Nội đã phải thay đổi chiến thuật, chiến lược. Về chính trị, Bắc Việt tận lực sử dụng bọn Việt gian nằm vùng, đang trà trộn trong hàng ngũ khoa bảng trí thức giáo vận, sinh viên, văn nghệ sĩ,… sống ký sinh khắp miền Nam, để đánh phá không ngừng nghĩ chính quyền, qua chiêu bài đòi hỏi tự do, dân chủ, trên báo chí, sách vở, trong các cuộc biểu tình, xuống đường, nhiều lúc thật phi lý, trong một đất nước đang bị kẻ thù xâm lăng tàn phá.

Về quân sự, thay đổi từ du kích chiến của Mao, sang địa chiến, tấn công biển người của Liên Xô. Dùng xác người làm phương tiện, mở các cuộc tấn công biển người vào đồn bót, căn cứ, thôn làng và đô thị Miền Nam, chỉ nhằm mục đích gây tiếng vang khắp thế giới, để che giấu việc xâm lăng VNCH. Tại Âu Châu, Úc, Canada và Hoa Kỳ, qua thế lực Cộng Sản đệ tam quốc tế và các đảng bộ Cộng Sản bản địa, dùng tiền bạc và tuyên truyền, cho cán bộ trà trộn vào các phong trào phản chiến thân Cộng tại địa phương. Mục đích làm mất uy tín của miền Nam trên diễn đàn quốc tế, nhất là tại nước Mỹ, đang có nhiều thanh niên gia nhập vào quân đội, sang chiến đấu tại VN. Ðể lừa bịp mọi người, Việt Cộng dùng thủ thuật đánh lạc hướng dư luận thế giới, về ý nghĩa của cuộc chiến đấu chống xâm lăng của Người Việt Quốc Gia. Nhờ vậy Bắc Việt đã đạt chiến thắng cuối cùng, không phải trên chiến trường, mà ở New York, Hoa Thịnh Ðốn, Paris, Luân Ðôn,…

Ngày 30 Tháng Giêng 1968, nhằm mồng Một Tết Nguyên Ðán năm Mậu Thân, giữa lúc đồng bào đang nô nức đón Xuân, trong thời gian hưu chiến. Nhưng Việt Cộng đã bội ước, lợi dụng QLVNCH không đề phòng và phần lớn về nhà ăn Tết. Nên bất thần xua 283,000 cán binh bộ đội miền Bắc, toàn bộ Việt Cộng trong Nam gây nên một cuộc chiến long trời lở đất, tại thủ đô Sài Gòn, 5 thành phố, 36 thị xã, 64 quận lỵ và 50 xã ấp. Cuộc tàn sát đẫm máu trên của Cộng quân, đã làm cho hơn 40,000 đồng bào vô tội chết thảm. Ngoài ra còn có hằng ngàn nhà cửa, trường học, cơ sở tôn giáo, bệnh viện và nhiều di tích lịch sử lâu đời của dân tộc, bị bom đạn tàn phá tiêu hủy tận tuyệt.

Nhưng man rợ và thê thảm nhất, vẫn là cố đô Huế. Tại đây Cộng Sản Bắc Việt và địa phương như Nguyễn Khoa Ðiềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân, Nguyễn Ðóa, Hoàng Lanh, Hoàng Kim Loan,… trước khi tháo chạy vào rừng ngày 26 Tháng Hai 1968, đã sát hại hơn 4,000 thường dân vô tội. Trong số này có các vị giáo sư Tây Ðức, đang giảng dạy tại Ðại Học Y Khoa Huế như vợ chồng Bác Sĩ Hort Gunther Krainich, Bác Sĩ Raimund Discher và Alois Alterkoter. Thi thể các nạn nhân bị vùi dập trong các nấm mồ tập thể trong nội thành và ngoại ô Huế. Xác các nạn nhân sau đó, được chính quyền VNCH cải táng, tại nghĩa trang Ba Tầng ở Hương Trà (Thừa Thiên). Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, để phi tang tất cả những tội lỗi thiên cổ, bọn ác tặc nắm quyền lúc đó tại Huế như Ðiềm, Tường, Phan, Xuân,… đã gây thêm tội ác một lần nữa, khi đem xe ủi đất tới san bằng toàn bộ nghĩa trang trên. Nhưng cho dù xác thân họ nay đã biến thành cát bụi, vẫn còn bia miệng và sử liệu nhắc nhớ ngàn đời.

Tóm lại trong cuộc chiến Tết Mậu Thân (1968), Cộng Sản Bắc Việt hoàn toàn thất bại về quân sự nhưng lại được hệ thống báo chí truyền thông truyền hình của Tây phương và Hoa Kỳ, đổi trắng thay đen, thổi phồng sự thật, bẻ cong ngòi bút, khiến cho QLVNCH, Ðồng Minh và Mỹ lại bị chiến bại. Hậu quả làm cho nước Mỹ bi quan về cuộc chiến đang theo đuổi, gây nên sự chia rẽ khắp nước, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ Cộng Sản quốc tế, nằm trong các phong trào “phản chiến,” đòi hỏi Mỹ rút quân, làm cho tổng thống Mỹ thời đó là L.Johnson không ra tái cử.

Tháng Mười Một 1968, R. Nixon đảng Cộng Hòa, đắc cử tổng thống và trước thành quả ổn định của VNCH, năm 1969, Mỹ tuyên bố sẽ rút quân và bắt đầu kế hoạch bằng VN hóa chiến tranh, qua chương trình hiện đại hóa QLVNCH. Từ các năm 1970-1971, Nam VN đã mở nhiều cuộc hành quân ngoại biên Toàn Thắng tại Kampuchia và Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, đã phá hủy hầu hết các mật khu và căn cứ của Bộ đội miền Bắc, đã thiết lập trên đường mòn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ các chiến thắng bằng máu xương cằn cỗi của QLVNCH , đạt được tại các chiến trường lửa máu nguy hiểm nhất trên thế giới lúc đó. Nhờ vậy năm 1972, Nixon tái tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ 2, giữa lúc Liên Xô và Hoa Kỳ, đang thương thảo về Hiệp ước giới hạn vũ khí chiến lược (SALT), cùng việc tài giảm binh bị. Ðồng lúc, Nixon và Kissinger đã nối kết được sự giao hảo với Trung Cộng, sau mấy mươi năm gián đoạn vì Ðài Loan. Do đó tổng thống Mỹ được Mao đón tiếp rất nồng hậu tại Bắc Kinh.

Do sự đổi chác của các đàn anh với nhau, nên Bắc Việt đã bị Liên Xô lẫn Trung Cộng áp lực nặng nề. Ðể gây lại tiếng vang với chủ, gần như bị đánh mất, sau những thất bại quân sự liên tiếp. Ðó là lý do, Bắc Việt đã liều lĩnh điên cuồng, mở các cuộc tổng tấn công vào mùa Hè máu lửa 1972 tại Quảng Trị, Kon Tum, Bình Ðịnh và An Lộc. Kết quả đã khiến cho hơn 100,000 cán binh bỏ mạng tại các chiến trường. Riêng Hoa Kỳ vì nhu cầu chính trị, có lợi cho mình, nhất là đang lúc Nixon cần tái đắc cử, nên đã phản ứng mạnh nhất, bằng cuộc giội bom vô tiền khoáng hậu trên đất Bắc. Ðồng thời còn dùng cả thủy lôi, để phong tỏa hải cảng Hải phòng, khiến cho CSBV chịu nghiêm chỉnh hơn, dù chỉ là đóng kịch, khi cùng Mỹ, lại ngồi vào bàn hội nghị tại Ba-Lê.

Rốt cục, bản hiệp ước ngưng bắn, cũng được Mỹ và Bắc Việt đồng thuận dàn dựng vào ngày 27 Tháng Giêng 1973, sau những màn kịch cỡm, để che đậy sự bán đứng Nam Việt Nam cho kẻ thù. mở đường cho sự sụp đổ của VNCH, vào trưa ngày 30 Tháng Tư 1975. Viết về sự bi thảm trên, S. R. Thompson nhận xét rằng, “Khi ký hiệp định Ba Lê năm 1973, Nixon và Kissinger, đã bỏ lỡ cuộc chiến thắng gần kề của QLVNCH, bằng sự tự ý ngưng oanh tác miền Bắc, cũng như ngăn cản miền Nam tái chiếm lại các vùng đất đã bị Việt Cộng cưỡng chiếm trong trận mùa Hè 1972.”

Ðây mới là yếu tố then chốt, để Việt Cộng biết cây bài tẩy của Mỹ (hay cố tình cho biết?), nên khinh thường bắt bí đủ điều. Ngay cả con cáo già Kissinger cũng “bị” Lê Ðức Thọ, đùa cợt chơi chữ, lừa vào bẫy rập, như người lớn dùng kẹo ngọt dụ dỗ trẻ nít thơ ngây, để rồi hành động không bao giờ biết suy nghĩ. Còn Tổng Thống Nixon thì thú nhận rằng, “Vì áp lực của quốc hội Mỹ,” lúc đó đa số là đảng Dân Chủ với thành phần phản chiến. Cuối cùng để giữ chức quyền, nên đương sự đã muối mặt lấy viện trợ đô-la quân viện, để làm một điều kiện sống chết, bắt Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải cho ký vào bản hiệp ước, một cách bất công vô nhân đạo.

Nhưng ý nghĩa hơn hết, vẫn là lời kết luận của Ðô Ðốc US. G. Sharp, nguyên tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương “Hiệp Ðịnh Ba Lê mà Hoa Kỳ đã ký kết với CSBV, không phải là công thức hòa bình, vì kẻ xâm lược là Việt Cộng vẫn ở lại Miền Nam Việt Nam, để tiếp tục gây chiến tranh, một cách công khai, mà không còn sợ Mỹ can thiệp như trước. Tệ hại hơn hết là Ðiều Tư của bản hiệp ước, bắt xóa bỏ chế độ hiện hữu hợp pháp của VNCH, lập một chính quyền mới, trong đó có ba thành phần Quốc Gia, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Lực Lượng Thứ Ba Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc.”

Theo nhận xét của hầu hết các sử gia trong và ngoài nước, thì Ðiều Tư trong bản hiệp ước, mới chính là giọt nước mắt nhược tiểu Việt Nam. Khôi hài hơn, bản hiệp ước chính chưa được các phe tham chiến liên hệ đồng ý ký kết tại Ba Lê, thì người Mỹ đã trao cho CSBV bản dự thảo, để Hà Nội ban lệnh trước, cho các cán binh bộ đội Việt Cộng học tập, chuẩn bị tấn công miền Nam, qua chiến dịch giành dân lấn đất. Tàn nhẫn hơn hết lúc đó, QLVNCH đang trong tư thế của kẻ chiến thắng, thì bị Mỹ dùng quân viện cột chân bó tay, vũ khí hư thì không có thay thế (theo lời hứa của “ông đồng minh”), đạn dược không đầy đủ phải hạn chế. Trong khi kẻ thù thì thừa mứa khí tài: xe tăng, đạn nhỏ, đại bác, hỏa tiễn,… vung vãi như mưa vào cả dân chúng vô tội thì thử hỏi bất cứ nước nào trên thế giới có thể đương cự và đương cự được bao lâu? VNCH đang thắng thế trở thành kẻ thua bại, vì các điều kiện áp đặt, chỉ nhằm có lợi cho người Mỹ, được rút quân về nước an toàn. Cớ như thế Nixon mới hy vong tái đắc cử và Kissinger được tiếp tục nắm quyền, trực tiếp lo cho nước mẹ của mình là Do Thái.

Sau đó, qua Hiệp Ðịnh Ba Lê, biết chắc Hoa Kỳ đã tháo chạy và sẽ không bao giờ còn can thiệp vào chiến tranh VN, nên Bắc Việt công khai đổ quân ào ạt vào Nam qua đường mòn HCM. Hòa bình đâu chẳng thấy mà cuộc xâm lược của giặc Cộng càng lúc càng ác liệt, diễn ra tại Cửa Việt (Quảng Trị), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Hồng Ngự (Kiến Phong), Trung Nghĩa (Kon Tum), Tống Lê Chân (Bình Long),… ở đâu chiến cuộc cũng bạo tàn đẫm máu.

Tại Hoa Kỳ, như để sớm dứt điểm VNCH, Quốc Hội Mỹ mà đa số là bọn phản chiến thuộc đảng Dân Chủ, thân Cộng Sản, lại liên tiếp ban hành hai đạo luật, nhằm trói tay, ngăn cản chính phủ Mỹ, không được sử dụng ngân khoản, để hoạt động quân sự tại Ðông Dương (Tháng Tám 1973) và đạo luật War Power Art (Tháng Mười 1973), bắt buộc tổng thống Hoa Kỳ, nếu muốn tham chiến ở nước ngoài, phải có sự phê chuẩn của Quốc Hội. Cũng nhờ hai đạo luật mới vừa được ban hành, nên Cộng Sản Miền Bắc, công khai đưa quân xâm lăng Miền Nam, xé bỏ hiệp định Ba Lê vừa ký kết chưa ráo mực. Vậy mà bọn đầu gấu tại Na Uy, Thụy Ðiển, vẫn trơ trẽn, cho cặp Kissinger-Lê Ðức Thọ, giải Nobel hòa bình, thì thử hỏi trên đời, còn có câu chuyện nào trào phúng, lợm giọng hơn!

Lợi dụng VNCH đang cùng khốn trong binh lửa, Trung Cộng qua sự đồng ý của Mỹ và sự đồng thuận của Bắc Việt, bất thần xua tàu thuyền, phi cơ, tấn công cưỡng chiếm, quần đảo Hoàng Sa của VN trong biển Ðông, vào những ngày đầu năm 1974.

Theo tài liệu của Ðại Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng QLVNCH, thì Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vô cùng nan giải trong giai đoạn này, vì nếu cứ kiên quyết giữ vững lập trường chống Cộng, thì Mỹ sẽ cắt đứt quân viện tức khắc, khiến cho miền Nam sẽ không còn phương tiện tiếp tục cuộc chiến đấu với kẻ thù, trong hoàn cảnh dâu sôi lửa bỏng. Ngược lại nếu theo Mỹ, rút bỏ đất đai cho Việt Cộng, thì cũng coi như sắp đầu hàng giặc. Ðây cũng chính là nguyên nhân gần như sự bắt buộc Tổng Thống Thiệu và các tướng lãnh nắm vận mệnh quốc gia lúc đó như Khiêm, Viên, Quan,… đã quyết định rút quân bỏ Cao Nguyên Trung Phần và cả Quân Khu 1, để gom lực lượng còn lại, bảo vệ các tỉnh duyên hải, từ Bình Ðịnh trở vào, trong những ngày đầu Tháng Tư 1975.

Tháng Năm 1974, Thượng Viện Mỹ lại biểu quyết không tăng quân viện cho VNCH, đồng thời cũng thất hứa trong việc “Một Ðổi Một” các quân dụng như đã ký kết. Sự kiện trên, làm cho hầu hết các đơn vị của VNCH đang chiến đấu ngoài mặt trận, không đủ hỏa lực để chống cự với giặc. Ðồng thời cũng làm cho phi cơ, quân xa, đại bác của VNCH nhiều thứ phải nằm ụ, bất khiển dụng, vì hư hỏng, thiếu cơ phận thay thế, sửa chữa. Nhưng dù gặp phải trăm điều khó khăn chồng chất, kể cả sự đói rách thê thảm của binh sĩ và gia đình, do ảnh hửng của xã hội leo thang lúc đó. Nhưng tinh thần của QLVNCH vẫn cao, người lính luôn can trường chiến đấu, cho tới giờ thứ 25, bị Dương Văn Minh, dùng quyển tổng tư lệnh quân đội (bất hợp hiến), bắt buông súng rã ngũ.

Ngày 9 Tháng Tám 1974, Nixon từ chức tổng thống vì vụ vụ Watergate. Lại thêm một thời cơ vàng ròng, để Bắc Việt quyết tâm cưỡng chiếm VNCH, mà mở đầu là trận Thường Ðức (Quảng Nam), kế tiếp tới Phước Long, vào ngày 6 Tháng Giêng 1975. Cũng từ đó tại Mỹ, từ Tổng Thống Ford mới nhậm chức thay thế Nixon, tới Quốc Hội, Bộ Quốc Phòng,… chẳng ai còn đề tập tới tình hình VN. Tàn nhẫn hơn, qua bọn dân cử đảng Dân Chủ phản chiến thân Cộng lúc đó, còn tận tuyệt cắn xén gần hết số ngân khoản quân viện cho VNCH, từ 1 tỷ 126 triệu, chỉ còn 700 triệu, trong số này có cả tiền trả lương cho người Mỹ đang phục vụ tại miền Nam VN. Trước sự kiện bi thảm trên, S. Thompson đã ngao ngán viết, “Trong suốt cuộc chiến tranh tại VN, người lính VNCH đã đóng góp phần mình, bằng phong độ phi thường, một điều mà ai nghĩ tới, là họ khó có thể làm, trước sự đá cá lăn dưa của Hoa Kỳ.”

Tháng Ba 1975, Ban Mê Thuột thất thủ. Ðể có lực lượng phản công tái chiếm phần đất còn lại, trong điều kiện vô cùng khó khăn thiếu thốn, Tổng Thống Thiệu đã phải ra lệnh rút bỏ cao nguyên và QÐ1. Nhưng cả hai cuộc triệt thoái đều thất bại hoàn toàn, làm tan rã gần nửa lực lượng quân sự tinh nhuệ nhất của miền Nam và mất một phần lớn lãnh thổ của đất nước.

Ngày 19 Tháng Tư 1975, Bình Thuận-Phan Thiết, một tiền đồn chống Cộng hữu hiệu nhất tại QÐII cũng bị thất thủ trước biển người và núi tăng pháo của CSBV, sau khi Phan Rang mất vào ngày 16 Tháng Tư 1975.

Nhưng tại Xuân Lộc-Long Khánh, từ ngày 8 Tháng Tư tới 15 Tháng Tư 1975, QLVNCH ở đây gồm SÐ 18 BB, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Ðoàn 82 BÐQ (Liên Ðoàn 24) + ÐPQ & NQ, Cảnh Sát Dã Chiến, Xây Dựng Nông Thôn của miền đất đỏ, đã dạy cho quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng, một bài học để đời trong dòng sử Việt, với hơn 20,000 cán binh bỏ mạng tại chỗ, trả thù cho đồng bào miền Nam, bị VC trực xạ, tàn sát tại Ấp Tân Lập, cũng như trên khắp các nẻo đường lánh nạn.

Ngày 21 Tháng Tư 1975, TT Thiệu bị bó buộc từ chức, Phó TT Trần Văn Hương lên thay thế nhưng chỉ được vài ngày, bị “Lưỡng Viện Quốc Hội” bỏ phiếu (?) quyết định TT Trần Văn Hương phải giao quyền “Tổng Thống” cho ông Dương Văn Minh (theo đòi hỏi của Việt Cộng) từ 28 Tháng Tư 1975, để từ đó ông Dương Văn Minh ra lệnh QLVNCH đầu hàng giặc Cộng vào trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.

https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/ccb-tong-thong-nguyen-van-thieu-va-cuoc-chien-chong-csbv-tu-1967-thang-tu-1975/

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s