Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington

Nguyễn Chánh Dật  

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/79/Arlington_House.jpg/1280px-Arlington_House.jpg

Nghĩa trang quốc gia Arlington có một lịch sử lâu dài, gắn liền với thời kỳ nội chiến. Chính tại ngôi nhà “Arlington house” một nơi mà suốt đời Tướng Lee không bao giờ quên được, đó là vào đêm 17-4-1861, ông đã có một quyết định lịch sử, khi từ giã quân đội Liên Bang, nơi ông đã có hơn 30 năm quân ngũ để về Richmond, phục vụ cho miền Nam và được chính phủ miền Nam bổ nhậm chức vụ Tư Lệnh Quân đội miền Nam. Vùng đất mà ngày nay nghĩa trang tọa lạc, có một sự liên hệ mật thiết giữa ba dòng họ lâu đời CUSTIS – WASHINGTON và LEE.

Martha Dandridge sinh ngày 2-6-1731 tại Chestnus Grove ở New Kent County, Virginia, bà là con gái đầu lòng của ông John Dandridge và bà Francis Jones. John là một di dân từ Anh qua định cư tại York County. Năm 1750 Martha thành ôn với Đại Tá Daniel Parke Custis, vừa là một nhà trồng tỉa có nhiều đất đai. Hai vợ chồng cư ngụ tại lâu đài White house gần Tumunky River. Hai ông bà sinh được 4 con: Daniel sinh năm 1751, Frances sinh năm 1753, John (Jacky) sinh năm 1755 và Martha (Patsy) sinh năm 1756. Cuộc hôn nhân của hai ông bà chỉ kéo dài 7 năm, vào ngày 26-7-1757 Đại Tá Daniel chết, để lại cho bà 4 con còn nhỏ và một gia tài kếch sù, đó là hàng ngàn mẫu đất tại Virginia và nhiều tiền bạc, thuộc địa, giá trị tương đương với nhiều triệu Mỹ kim.

Ngày 6-1-1759, Martha tái hôn với Đại Tá George Washington, lúc đó Washington là Tư lệnh First Virginia Regiment trong cuộc chiến với Pháp và thổ dân da đỏ. Sau khi thành hôn, George Washington, Martha cùng hai con nhỏ của chồng trước là Jacky và Patsy di chuyển về sống tại Mount Vernon.

Ngày 19-6-1773, cô con gái Patsy từ trần tại Mount Vernon, năm sau con trai lớn của Martha thành hôn với Ellanor Calvert và có 5 con.

Ngày 5-11-1781, John Parke Custis từ trần vì bịnh thưong hàn và hai ông bà nhận lãnh nuôi nấng, dạy dỗ hai người cháu nội là Ellanor Pake Custis (Nelly) và George Washington Pake Custis (Tub) cho đến năm 1799 thì Washington lúc này là Tổng Thống, mất ngày 14-12-1799 và ba năm sau Martha cũng qua đời.

Ngay sau khi bà nội từ trần, George Washington Parke Custis thừa hưởng 1100 mẫu đất dọc theo Potomac River và ông đã nhờ kiến trúc sư George Hadfield (người vẽ kiểu kiến trúc điện Capitol) vẽ kiểu xây cất ngôi nhà Arlington để cư ngụ, nhưng phần chính yếu là để lưu giữ, trưng bày những bảo vật, tài liệu lịch sử quý giá của ông nội nuôi là Tổng Thống Washington để lại. Khi ngôi nhà Arlington được hoàn tất thì George Washington Custis thành hôn với Mary Lee Randolph Fitzhugh, một cô gái mới 16 tuổi, trầm tĩnh, ngoan đạo, con của một chủ đồn điền tại Chatham, cạnh sông Rappahannock gần Fredericksburg, Virginia. Cuộc hôn nhân này mang lại cho đôi vợ chồng 4 người con, nhưng đã có ba người chết yểu, một cô gái độc nhất còn sống sót là Mary Anna Randolph, sinh năm 1808 và cô gái này đã trở thành vợ của Tướng Robert E. Lee sau này. Khi George Washington Parke Custis chết vào năm 1857, ông đã để lại chúc thư là ngôi nhà cũng như toàn bộ đất đai dành cho người con gái độc nhất là bà Lee, sau này bà Lee chết, quyền thừa kế sẽ về người con trai trưởng của bà và Tướng Lee, đó là George Washington Custis Lee. Chúc thư có nói rõ Tướng Lee không được làm chủ một tài sản dù lớn dù nhỏ do ông để lại, tướng Lee lãnh phần trách nhiệm như một người quản lý toàn bộ tài sản.

Tiếp theo các tiểu bang khác, tiểu bang Virginia cũng tách rời chính phủ liên bang, để đứng vào hàng ngũ của các tiểu bang miền Nam, khi Virginia đã quyết định như vậy, quân đội Liên Bang dưới quyền chỉ huy của Tướng Irvin Mc Dowell vượt qua sông Potomac, chiếm đóng các vùng đất trọng yếu dọc theo sông Potomac, lẽ dĩ nhiên vùng đất của Arlington House cũng bị chiếm đóng và sau đó nhièâu cơ sở quân sự được thành hình, gồm Fort Whipple (ngày nay là Fort Myer) và Fort Mc Pherson.

Vào thời kỳ chiến tranh, luật yêu cầu những người chủ đất ở những vùng do quân đội Liên Bang chiếm đóng, phải đích thân đến khai và đóng thuế tại sở thuế. Bà Lee và các con lúc này đã rời khỏi Arlington House, di chuyển về thủ đô Richmond cùng với tướng Lee, không thể tuân theo luật này, bà cảm thấy tài sản của mình sẽ gặp khó khăn và điều bà nghĩ đã đúng như vậy. Vào tháng 1-1864 Chính phủ Liên Bang đã tịch thu toàn bộ đất đai này, để sử dụng vào những mục đích lợi ích chung. Tháng 5-1864, Bộ trưởng Chiến Tranh Edwin Stanton chỉ thị: một nghĩa trang quốc gia sẽ được thành lập tại Arlington và người lãnh trách hiệm thi hành là Tướng Montgomery C. Meigs, khi ông đang chỉ huy một đại đơn vị tại khu vực này. Tại nơi đây, Tướng Meigs đã cho xây cất một căn hầm 20 feet rộng, 10 feet sâu, để chứa 1,800 bộ hài cốt tử trận tại Bull Run và được xem như nghĩa trang quân đội đầu tiên ở vùng này.

Sau khi Tướng Lee từ trần vào năm 1870, theo di chúc của ông ngoại để lại, George Washington Custis Lee, con trưởng của Tướng Lee, đã đệ đơn kiện tại toà án Alexandria County, Virginia để lấy lại quyền thừa kế. Tháng 12-1882, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ với một quyết định 5/4 hoàn trả toàn bộ tài sản do chính phủ tịch thu trước đây, cho người thừa kế hợp pháp là Custis Lee. Ngày 3-3-1883, Quốc hội đồng ý mua lại tài sản này với giá 150,000 Mỹ Kim, với lý do vào thời gian đó, đã có hàng trăm ngôi mộ được chôn tại vùng đất này.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/8f/Millennium_Project_-_Arlington_National_Cemetery.jpg

Nếu có dịp viếng thăm Washington DC, dầu vào mùa xuân nắng ấm hay mùa hè oi bức, mùa thu se lạnh hay là mùa đông tuyết rơi, du khách ngoại quốc cũng như các tiểu bang khác đã dành nhiều thì giờ để viếng Toà Bạch Ốc, Capitol Building, Viện Bảo tàng Smithsonian, Washington Monunent, Jefferson Memorial, Lincoln Memorial và còn nhiều địa điểm lịch sử khác nữa. Nếu còn nhiều thì giờ, du khách có thể lái xe hoặc dùng xe điện ngầm tuyến Orange Line hay Blue Line, đến thăm nghĩa trang Quốc Gia Arlington nằm phía hữu ngạn của sông Potomac.

Với một vùng đất rộng 612 mẫu, một quá khứ lịch sử lâu dài nằm bên bờ sông Potomac thơ mộng, hiền hòa – Đây là nơi yên nghỉ của những người con thân yêu, đã có công với Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ – Không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quân sự hay dân sự, tướng tá hay binh nhì, họ đều được mai táng một cách vinh dự, đầy đủ lễ nghi quân cách và truyền thống lâu đời của nghĩa trang: “Khi bước vào nghĩa trang, mọi đau khổ, mọi ưu tư sầu muộn hầu như biến mất, lòng bạn cảm thấy lâng lâng, thơ thới, khi thấy vẻ đẹp uy nghi và trang nghiêm của nghĩa trang” – Đó là nhận xét của bà Nancy Schado, Chủ tịch Hội Phu Nhân Arlington (Arlington Ladies). Quả thật như vậy, nhận xét này không ngoa chút nào cả – Gần 4 triệu du khách viếng thăm mỗi năm đã khẳng định cho nhận xét này. Có người vào thăm nghĩa trang để đi tản bộ giữa các hàng mộ bia ngay ngắn, thẳng hàng, để ôn lại những biến cố lịch sử của đất nước này, kẻ khác đến để bày tỏ lòng biết ơn những người vị quốc vong thân hay bạn bè. Hơn 260,000 người đã yên nghỉ nơi đây, trung bình mỗi năm có khoảng 5,000 người được mai táng. Nghĩa trang Quốc Gia Arlington đứng về hạng nhì, trong số 130 Nghĩa Trang Quốc Gia – Nghĩa trang quốc gia lớn nhất và số người được mai táng hàng năm khoảng 7,500 người là Calverton National Cemetery ở Long Island gần River Head, New York.

Nghĩa trang rộng lớn bao la, du khách đến viếng thường thăm hoặc quay phim, chụp hình lưu niệm các địa điểm sau đây:

– Arlington House (Custis-Lee Mansion) nằm ngay trên đỉnh đồi, nhìn qua Washington DC, nơi đây được xem như Lee Memorial để tưởng nhớ đến vị tướng mà cả hai miền Nam-Bắc đều khâm phục và mến thương . – Mộ các chiến sĩ vô danh (Tomb of the Unknowns) – Đây là một địa điểm nổi tiếng, mộ được xây bằng đá cẩm thạch lấy từ Colorado, được hoàn thành và dân chúng được thăm viếng từ ngày 9-4-1932 với kinh phí $48,000. Khởi thủy chỉ có một hài cốt vô danh được an táng nên gọi “Tomb of unknown sodier”, về sau có nhiều hài cốt vô danh của các cuộc chiến khác được an táng, nên mộ có tên mới là “Tomb of the Unknowns”:

Chiến sĩ vô danh của World War I mai táng vào ngày 11-11-1920, do Tổng Thống Warren G. Haring chủ tọa.

Chiến sĩ vô danh của World War II, mai táng vào ngày 30-5-1950, do Tổng Thống Dwight Eisenhower chủ tọa.

Chiến sĩ vô danh của Korean War mai táng vào ngày 30-5-1958, do Tổng Thống Dwight Eisenhower chủ tọa.

Chiến sĩ vô danh của VietNam War mai táng vào ngày 28-5-1984, do Tổng thống Ronald Reagan chủ tọa.

Việc canh gác danh dự mồ các chiến sĩ vô danh do đơn vị 3rd US Infantry (The Ol guard) đảm trách, kể từ ngày 6-4-1948, liên tục 24 giờ một ngày và 365 ngày một năm.

– The USMC War Memorial mà có tên gọi phổ thông là “Iowa Jima Memorial”.

– Mộ Tổng Thống John F. Kennedy, phu nhân và con, tại mộ của Tổng Thống có một ngọn đuốc cháy quanh năm. Gần bên cạnh là bào đệ của ông, cựu Bộ trưởng Tư Pháp Robert F. Kennedy, bị ám sát vào năm 1968.

– The Space Shuttle Challenger Memorial mở cửa cho công chúng viếng thăm vào ngày 20-5-1986, để tưởng niệm các phi hành gia không gian của chuyến bay STS-51-L tử nạn khi vừa rời khỏi dàn phóng ngày 29-1-1986.

– Shuttle Columbia Memorial tưởng niệm các phi hành gia tử nạn khi phi thuyền trở về trái đất bị nổ tung vào ngày 1-2-2003.

– The Pentagon Memorial có kiến trúc theo Ngũ Giác Đài, với tên của 184 nạn nhân của vụ khủng bố vào sớm ngày 11-9-2001.

– The Lockerbie Memorial, mộ đá kỷ niệm 270 nạn nhân của vụ bom nổ trên chuyến bay 103 của hãng hàng không PAN – AM trên bầu trời Lockerbie ở Scotland.

Cờ tang được kéo lên trước nửa giờ của đám tang đầu tiên, cho đến nửa giờ sau của đám tang cuối cùng. Ngoài một vùng đất rộng lớn để an táng vào đất, nghĩa trang còn có những lò thiêu hài cốt đang được xử dụng.

Dầu một đám tang diễn ra có thân nhân, bạn bè của người quá cố tham dự hay không, chúng ta thấy luôn luôn có sự hiện diện của một vài bà phu nhân Arlington. Sự có mặt của họ, trước hết để không có một đám tang nào cô đơn, hiu quạnh, sau nữa họ bày tỏ lòng phân ưu, an ủi và giúp đỡ mọi nhu cầu cần thiết cho thân nhân, nhất là những người ở xa đến. Hiện nay, có khoảng 160 phu nhân và một ông, họ là những đại diện của các Quân, Binh chủng. Thủy Quân Lục Chiến chưa có đại diện thường trực, nhưng theo họ cho biết, sẽ có một sĩ quan tham dự cho mỗi đám tang, họ đều là những người tình nguyện làm việc một ngày trong một tháng. Không một ai trong họ còn nhớ rõ là họ đã tham dự đến bao nhiêu lần. Đây là một truyền thống tốt đẹp bắt đầu vào một ngày của năm 1948, Tướng hồi hưu Tham Mưu Trưởng Không Quân Hoyt S. Vendenberg cư ngụ tại Fort Myer. Ông và phu nhân thường tản bộ qua nghĩa trang và ngày hôm ấy, có một đám tang của một chiến sĩ Không Quân quá cô đơn, buồn thảm, không bạn bè, không thân nhân. Phu nhân của vị tướng nảy sanh ý kiến, kể từ rày về sau, bà sẽ tham dự lễ mai táng các chiến sĩ Không Quân. Bà kêu gọi vợ các sĩ quan tham dự và thành lập hội Arlington Committee, về sau các ngành khác cũng tham dự như The Army Arlington Ladies, có các bà tình nguyện vào năm 1972. The Navy Arlington Ladies được tổ chức vào năm 1985.

Hàng năm, Hoa Kỳ tổ chức ngày Memorial day rất trọng thể. Một ngày trước lễ, khoảng 1,000 binh sĩ của “The Old Guard” dành trọn 5 giờ liền để cắm những lá cờ Mỹ trước mộ bia – Đây là một việc làm vinh dự cho họ, họ đã đại diện cho tập thể quân đội bày tỏ lòng biết ơn đối với những người đã vì nước hy sinh. Sau vụ khủng bố 11-9-2001, The Old Guard lại thêm một trọng trách được giao phó, đó là bảo vệ Washington DC.

* * *

       Những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa

https://i2.wp.com/arlingtoncemetery.net/army-group-03051971-gravesite-photo-august-2006-001.jpg

Trong Nghĩa Trang ARLINGTON Chia sẻ sự mất mát to lớn của các gia đình có con em tử trận tại chiến trường Việt Nam, Iraq hay là nạn nhân của cuộc khủng bố ngày 11-9-2001, cộng đồng tỵ nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ nói chung và Virginia nói riêng, vô cùng cảm động và hãnh diện, khi con em của họ được an nghỉ tại Arlington Cemetery, qua sự tường thuật của các báo như sau: “Mọi người lặng im theo dõi từng cử động của anh Hạ Sĩ Quan trong Ban Nghi Lễ, trên tay mang lá cờ Việt Nam Cộng Hòa, tiến đến thân nhân phi hành đoàn 219 trên chiếc trực thăng H.34, bị rơi ngày 18-10-1965. Đánh dấu lần thứ tư quốc táng hài cốt cựu chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam cộng Hòa (Standard Honors Funeral for VietNam group Burial) đã được trọng thể tổ chức tại Nghĩa trang Quốc Gia Arlington vào ngày 25-6 vừa qua, với sự tham dự đông đảo của các cực quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và các nhân sĩ vùng Hoa Thịnh Đốn. Được biết, vào ngày 18-10-1965, trên chuyến bay định mệnh cất cánh từ Khâm Đức, đưa Thiếu Tá Larry Thorne nhảy vào vùng địch, phi hành đoàn gồm có hai phi công là các Trung úy Phan Thế Long, Trung úy Nguyễn Bảo Tùng và một xạ thủ là Thượng sĩ Bùi Văn Lành đã bị rớt vì mây mù, cách xa thành phố Đà Nẵng 25 dặm về hướng Tây Nam (Toạ độ 152558N-1074744E, YC895-105). Ngay sau đó nhiều cuộc dò thám để truy tìm các di hài, nhưng không có kết quả – Chỉ duy có các di tích như súng cá nhân Swdish “K”SMG (Thụy Điển chế tạo) của ông Thorne là được tìm thấy gần địa điểm các hài cốt được tìm thấy sau này. Vào năm 1999, nhờ các toán tìm kiếm M.I.A (Missing In Action) đã giúp việc truy danh những anh hùng tại phòng Lab ở Hawaii. Trường hợp Thượng sĩ Bùi Văn Lành, không có thử D.N.A vì nhờ tìm được tấm thẻ bài. Cho đến hôm nay, Hoa Kỳ chưa hề có một sự liên lạc nào với các gia đình hay người thân của anh Lành …” . “…. Vợ con của Nguyễn Bảo Tùng đã đến định cư ở miền phụ cận Chicago năm 1975; mẹ và chị em của Bảo Tùng định cư ở Orange County năm 1979. Nhờ có những người thân ở Mỹ , nên việc xác cnhận D.N.A của Bảo Tùng có thể thực hiện được dễ dàng.

https://i0.wp.com/www.arlingtoncemetery.net/Larry-thorne-042204.jpg

Riêng Trung úy Phan Thế Long, ông có 6 người con. Sau khi được tin ông mất tích, bà Long ở vậy nuôi con. Bà hy vọng rồi có một ngày bà sẽ được gặp lại chồng. Sự chờ đợi kéo dài cho đến tháng 4-1984 thì bà Long từ trần. Theo anh Phan Thế Dũng, con trai của Trung úy Long tâm sự tại buổi thăm viếng hài cốt ở nhà quàn Murphy Arlington vào ngày 24-6-2003: “Lúc bấy giờ tôi chưa tròn 4 tuổi, nhưng tiếng hét thất thanh của mẹ tôi khi nhận được tin đau buồn của cha tôi, đã vọng mãi trong tôi và tôi đã trưởng thành theo tiếng kêu tuyệt vọng đó cho đến ngày hôm nay “. Anh tiếp: “Buổi lễ an táng hài cốt của bố tôi tại Arlington sẽ làm xoa dịu phần nào nỗi đau khổ của mẹ tôi. Tôi từ nay sẽ được an tâm, vì biết được nơi thiên đường ấy, bố tôi đã lo chu toàn cho mẹ tôi. Xin được cám ơn người bạn Hoa Kỳ, trong những giây phút khó quên nhất của cuộc đời tôi….” (Trích tuần báo Thương Mãi Miền Đông, số 538 / 11-7-2003)

Ngày 8-12-2002 tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington Virginia, đã tổ chức một buổi lễ trọng thể, an táng hài cốt của một Thiếu Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mất tích cùng 6 quân nhân Hoa Kỳ trên chiếc trực thăng UH1D 499 tại chiến trường Quảng Trị vào năm 1969, bản tin còn lưu lại tại văn khố Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, nay được nhắc lại như một bản tuyên dương công trạng những anh hùng hy sinh vì lý tưởng tự do. Thiếu Tá Vũ Văn Phao là một trong 18 Thiếu Sinh Quân ưu tú, được tuyển chọn để nhập học khóa 18 TVBQGVN năm 1961. Thời gian thụ huấn ở trường, anh thuộc loại học giỏi và chơi đàn piano rất hay. Tính tình ôn hòa, điềm đạm, nhã nhặn với bạn bè cùng khóa và tỏ ra gương mẫu với khóa đàn em. Năm thứ hai, Phao là cán bộ SVSQ Tiểu Đoàn Trưởng trong hệ thống tự chỉ huy của Liên đoàn SVSQ. Tốt nghiệp Thiếu úy hiện dịch ngày 23-11-1963 (Khóa Bùi Nguơn Ngãi) với thứ hạng 3/191, sau đó cùng với 14 tân sĩ quan khác, được lưu giữ tại Trường làm sĩ quan cán bộ hoặc Huấn luyện viên. Một năm sau, các sĩ quan này tìnnh nguyện ra phục vụ tại các đơn vị chiến đấu. “….Nhận cú điện thoại rất bất ngờ, người đầu giây nói giọng Bắc 54 êm ái, ngọt ngào. Vì nghe chưa kỹ, nên ngạc nhiên tự hỏi: Phao, bạn cùng khóa với mình đã mất tích từ lâu, sao giờ lại có người nhận là Vũ Văn Phao – Tiếng nói đầu máy lập lại kỹ hơn: “Tôi muốn nói chuyện với anh Lành, bạn của Vũ Văn Phao khóa 18″ – Thế là câu chuyện được tiếp nối với Trinh.” ….Anh Trinh thành hôn với Đông, em gái của Phao vào năm 1974, thường được gia đình kể chuyện về Phao, về một chi tiết đặc biệt ngày Phao ra đi vĩnh viễn – Thời gian này Phao đang còn nghỉ phép dưỡng thương, nhưng nóng lòng về với Tiểu Đoàn 2/2, Sư Đoàn 1 BB, đang đóng quân ở vùng tiền tuyến Đông Hà, Quảng Trị, cách Bến Hải 15 km, nên anh quá giang trực thăng để sớm ra Tiểu Đoàn – Cùng đáp máy bay có một cố vấn Mỹ và một binh sĩ.

https://i0.wp.com/arlingtoncemetery.net/rdbriggs-valentines-day-2006.jpg

Khi lên máy bay, Phao thấy cần phải mang 3 bao gạo, nên Phao cho anh lính ở lại, vì máy bay quá tải. Chi tiết chuyến bay hôm đó do người binh sĩ kể lại với gia đình là Phao cùng đi với Trung Tá cố vấn Parsons – Câu chuyện về Phao luôn luôn ám ảnh Trinh từ đó. Năm 1980, cùng gia đình qua định cư tại Hoa Kỳ, Trinh luôn luôn nhắc đến Phao. Trong khi đó, những người trong gia đình hoàn toàn vô vọng và ai cũng muốn quên chuyện này. Rồi một buổi tối như thường lệ, Trinh đọc tin tức hàng ngày trên internet, tình cờ một mẩu tin hiện rõ trước mắt Trinh: “Tin về hài cốt quân nhân Hoa Kỳ chết trên chiến trường Việt Nam, được phía CSVN chuyển giao và hiện nay còn 3 hài cốt chưa được nhận diện” – Kết hợp với bản tin này là giấc mơ của vợ Trinh, ngày hôm qua nằm mơ thấy Phao trở về đòi lấy Bảo Quốc Huân Chương. Trinh đã quả quyết trong 3 hài cốt này có Phao.

https://i1.wp.com/www.arlingtoncemetery.net/aircrew-11301968-gravesite-photo-august-2006-001.jpg

Sự việc được đưa ra thảo luận trong gia tộc, nhưng không có ai sốt sắng để ra công đi tìm sự thực. Với khả năng tiếng Mỹ, với tài ngoại giao, vợ chồng Trinh đã tìm nhiều đường đi, để được tiếp cận với cơ quan quản thủ hài cốt này. Có lúc họ phải nhờ đến Thống Đốc California là ông Gray Davis để được tiếp xúc với Bộ Quốc Phòng. Từ đây, họ được giới thiệu đi nhiều nơi, nhưng không nơi nào chịu cứu xét đơn của một trường hợp hy hữu, vì một quân nhân VN, mất tích trên chiến trường VN, nay lại xin nhận hài cốt tại Mỹ. Một điều cần biết, mỗi hài cốt trước khi đưa về Mỹ để mai táng, mẫu được đưa về Hawaii để giảo nghiệm, tránh trường hợp nhầm lẫn. Hai vợ chồng Trinh quyết định đi Hawaii để trình bày sự việc. Trong số thân nhân được mời tới Hawaii để thử D.N.A (Deoxyribo Nucleis Acid), có người con gái của Trung Tá Parsons. Một tuần lễ sau, Army Department gọi điện thoại đến nhà xin thử D.N.A của em gái Phao, cả nhà mừng rỡ, hy vọng, nhưng vẫn còn hồi hộp. Một tuần nữa trôi qua, có một vị Thiếu Tá đi cùng một quân nhân đến tận nhà thông báo chính thức và yêu cầu gia đình chọn lựa cách mai táng: Tự nhận về hay mai táng theo thủ tục Hoa Kỳ dành cho quân nhân tử trận vì lý tưởng tự do. Gia đình xin chọn giải pháp thứ hai. Sáng ngày 8-1-2002, cả đại gia đình, vợ, con gái Phao, chị, em trai và vợ chồng Trinh được cấp vé máy bay khứ hồi đến Virginia, được lo mọi thứ từ nơi ăn, chốn ở, đến xe cộ, tài xế v…v…. Cả gia đình đến dự lễ tại nhà thờ Post chapel, Fort Myer. Tại đây, gia đình Phao sống chung với các gia đình của 6 quân nhân Hoa Kỳ, cùng trên chuyến bay định mệnh ngày 6-2-1969. Trên đường đến nghĩa trang, quan tài được kéo bởi 6 con ngựa phủ quốc kỳ Mỹ – Trước khi hạ huyệt, theo yêu cầu của gia đình, xin được phủ quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, yêu cầu này được thỏa mãn ngay. Họ cũng đã chuẩn bị sẵn, nhưng không thể phủ lên quan tài vì không có trường hợp đặc lệ trước đây. Lá quốc kỳ VNCH được xếp tượng trưng để trên quan tài và sau đó vị sĩ quan đại diện Bộ Quân Lực Hoa Kỳ trao lại cho con gái Vũ Văn Phao – Từ đó mới suy ra đêm hôm trước Phao báo mộng về đòi gia đình Bảo Quốc Huân Chương, chính là lá cờ Tổ Quốc ngàn đời thân yêu mà Phao đã phục vụ nay mới được đáp đền.

(Bài của Nguyễn Văn Lành trong bản tin Cựu SVSQ Khóa 18)

http://www.bietdongquan.com/baochi/munau/munauso17.htm

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s