Tản mạn về phong trào phản chiến 60 – 70!

nvbonphuong.com

Trào lưu phản chiến thoạt tiên là ý tưởng của một nhóm trí thức phương Tây của phong trào Hiện Sinh (existentialism), dẫn đầu bởi triết gia Jean-Paul Sartre, cho nên thiên tả là điều tất yếu.
Đám này đã lôi cuốn và tụ tập rất nhiều khuôn mặt nổi tiếng hay bình thường trong xã hội phương Tây, tạo nên Phong trào Phản chiến, được Phong trào Beatnik và nối tiếp là Phong trào Hippies (nổi tiếng với bài hát If You’re Going to San Francisco) của giới trẻ thế giới phương Tây ủng hộ hết mình qua motto “make love not war” !
Trong các cuộc biểu tình phản chiến, nhất là ở Mỹ, ta thấy họ mang cờ Mặt trận Phỏng dế miền Nam, có khi cả cờ Tàu cộng, cùng với hình Hồ và hình Che Guevera, lẫn hình Mao ! Có thể nói họ chẳng những mong mỏi một cuộc cách mạng chỉ nổ tung ở vùng châu Á xa xôi, mà ngay ở cái sân sau của Mỹ, đó là thế giới Châu Mỹ La Tinh, tức Trung và Nam Mỹ (Che là cánh tay phải của anh râu xồm Fidel Castro, đang tìm cách gieo mần cách mạng đỏ đi khắp vùng đó).
Cái khuynh hướng thời thượng hình như là, đã là trí thức thì phải thiên tả (tức coi trọng công bằng xã hội, đồng nghĩa với dấn thân, với hòa mình vào quần chúng, với hình ảnh trí thức chân đất, sẵn sàng ngồi bệt xuống cỏ với mọi người. Ta bắt gặp hình ảnh Khánh Ly đi chân đất và hát nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn cho khán giả là sinh viên Sài Gòn nghe, ở ngoài trời đêm, trên nền trường đại học Văn Khoa cũ, mà sau này được xây cất lại thành Thư Viện Quốc Gia ở ngay trumg tâm Sài Gòn.
Ở ta có những trí thức thiên tả, học ở Tây về như linh mục Nguyễn Ngọc Lan, cùng với cánh linh mục Kitô giáo khác, như Chân Tín, linh mục kiêm giáo sư Văn Khoa Thanh Lãng (?), Trương Bá Cần …; hợp cùng đám trí thức Kitô giáo “nặng ký” (giáo sư đại học) như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung ….
Trong phong trào gọi là Phản chiến thiên tả quốc tế, ta thấy có các văn nghệ sĩ nổi tiếng khắp thế giới. Điểm mặt hàng ngũ này ta thấy nổi bật có John Lennon của ban Tứ quái Beattles, nổi tiếng nhất với bài “Give Peace a Chance”, lời ca rất có ý nghĩa và melodie dồn dập hấp dẫn, xuất hiện năm 1969; nối tiếp là Imagine ra mắt vào năm 1971, có lời ca rất thắm thiết, nhân bản, đi cùng với melodie thong thả, như một lời tâm tình, thấm dần vào lòng người. Bởi thế cả hai bài này được xem là những bài ca phản chiến hay nhất, qua đó nói lên tài nghệ bậc thầy của John Lennon.

Ở Mỹ ta thấy ngay là có cặp vua nhạc Pop thời đó là Bob Dylan hay hát cặp cùng Joan Boez; nữ tài tử Jane “Hanoi” Fonda …
Và còn nhiều rất nhiều người khác nữa, khó mà kể ra cho hết ở đây, khi nói về Phong trào Phản chiến ngày nào. Chính nó đã phân rẽ nước Mỹ làm hai phe Chủ Chiến Diều Hâu với đảng Cộng Hòa và Chủ Hòa Bồ Câu với đảng Dân Chủ ! Một sự chia cắt kéo dài nhiều thập niên sau chiến tranh, và dân Mỹ đã phải cất công rất nhiều để làm hòa (reconciliation) với nhau, sau cái dấu ấn được gọi là MẶC CẢM VIỆT NAM (The Vietnam Syndrome; từ ngữ Việt mượn từ Thi Vũ Võ Văn Ái, mà tôi cho là đúng nhất)
Muốn biết rõ hơn về Phong trào Phản chiến thập niên 60 và 70, ta cần biết ít nhiều về hai phong trào nối tiếp nhau trong giới trẻ phương Tây nói trên.
Cũng xin thưa rõ là, không phải chỉ có các đại trí thức như triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre … mới là những người khởi xướng và có ảnh hưởng quyết định lên Phong trào Phản chiến lúc đó đang ngày một phổ biến và lan toả ra trong tầng lớp đại chúng trên khắp thế giới. Chính âm nhạc qua các bài hát nhạc trẻ (pop-music) phản chiến mới chắp cánh thiên thần cho phong trào phản chiến lan rộng, vượt biên giới Âu Mỹ đi vào châu Á, châu Phi …ddi khắp thế giới
Thậm chí có những bài hát lấy lời từ kinh thánh, nhưng lại trở thành bài hát phản chiến, bởi ngợi ca hòa bình với nhiều triết lý về cuộc đời !
Nhân đây xin có chút nhận xét về Phong trào Phản chiến qua hình ảnh John Lennon, bởi tôi thấy bản thân John Lennon có dính dáng khá nhiều đến nó. Chẳng hạn như các ca khúc ăn khách nhất của anh chính là những bài ca phản chiến, qua đó John Lennon trở thành hình ảnh không thể quên được, cho dù ban nhạc Beatles đã giải tán. John Lennon mới là người bộc lộ nhiều nhất nguyện vọng của giới trẻ thời đó qua âm nhạc, trong các phong trào giới trẻ thời đại, như Beatnik rồi Hippies.
Dựa theo tin từ Wikipedia, anh chàng ca sĩ đẹp trai như con gái này, là khuôn mặt nổi bật nhất trong nhóm Tứ quái tóc dài The Beatles.
Vào giữa thập niên 60 cả đám quyết định, giải bày quan điểm riêng mình qua âm nhạc về những vấn nạn xã hội (social problems), các sự kiện quốc tế (chẳng hạn như chiến tranh ở Việt Nam), và rồi Lennon tự biến thành cái loa phóng thanh của thế hệ mình !
Lennon đã gây ra một phong trào phản đối lan rộng trên thế giới khi ngạo mạn trả lời trong một cuộc phỏng vấn của Evening Standard là “Tứ quái còn nổi tiếng hơn Chúa Jesus” !
Tháng ba 1969 Lennon bỏ vợ, để kết hôn với nữ nghệ sĩ tiền phong (avand-garde artist) Mỹ gốc Nhật Yoko Ono và càng ngày càng chịu ảnh hưởng nặng của vợ, trở nên rất cấp tiến, thiên tả. Hai người gắn bó keo sơn với nhau, như một cặp nghệ sĩ hơn là vợ chồng, cho đến khi John Lennon bị bắn chết. Yoko xuất hiện trong một số live show của John, với đề tài phản chiến, cũng như chống chính quyền đòi giao quyền lực về nhân dân.
Dù Tứ quái rã đám, nhưng John từ nay có partner mới là bà vợ đầu gối tay ấp nên tiếp tục “làm lắm trò khỉ” !
Chẳng hạn sau lễ cưới John và Yoko tổ chức “TUẦN TRĂNG MẬT TRÊN GIƯỜNG” (The Bed-In” Honeymoon), kéo dài một tuần, ở phòng 902 của khách sạn Hilton tại Amsterdam, nhằm cổ đồng hòa bình thế giới đồng thời chống chiến tranh Việt Nam (Make Love Not War). Hình ảnh sexy John và Oko trần như nhộng phủ mền sơ sài nằm trên giường được báo chí quốc tế đưa lên trang nhất thời đó, gây chấn động không nhỏ !
Tháng bảy 1969 John và Yoko lại tổ chức một tuần trăng mật trên giường thứ hai ở khách sạn Queen Elizabeth ở Montréal và cho ra mắt bài hát phản chiến nổi tiếng như cồn GIVE PEACE A CHANCE.
Năm 1971 John cho ra mắt bài hát POWER TO PEOPLE (QUYỀN LỰC VỀ TAY NHÂN DÂN). Theo tôi nghĩ, chính vì thấy chính quyền Mỹ đã lạm dụng sức mạnh quân sự, kinh tế và chính trị của mình, gây căng thẳng trên thế giới, cho nên John đã ủng hộ Phong trào Phản chiến bằng những bài hát có tính khích động quần chúng xuống đường biểu tình chống chiến tranh và kêu gọi hòa bình. Cũng như không chấp nhận làm kẻ bị trị, như trong bài hát trên.

https://i1.wp.com/www.wnd.com/files/2015/11/Vietnam-war-protesters.jpg

Ta hãy tự hỏi, tại sao lại có sự hiện diện PHONG TRÀO PHẢN CHIẾN, cũng như THÀNH PHẦN THỨ BA , hay lực lượng (force) thứ ba đứng giữa, cũng chủ trương phản đối chiến tranh và kêu gọi hòa bình ở Việt Nam? Phải chăng đó là “con đẻ” của CS ?
Bình tĩnh nhìn về qúa khứ, tôi nghĩ rằng đã có những điều cần được làm SÁNG TỎ, để tránh ngộ nhận về bản chất thật của phong trào Phản chiến (PTPC), cũng như về thành phần thứ Ba (TPTB).

Thế giới sau Thế chiến Hai mau chóng phân thành LƯỠNG CỰC, một bên là phe tư bản do Mỹ cầm đầu và bên đối lập là phe CS do Liên Xô cầm chịch. Một cực thứ ba xuất hiện vào giữa thập niên 50 và được biết dưới tên PHÒNG TRÀO PHI / KHÔNG LIÊN KẾT
Những từ ngữ “Thế giới thứ nhất”, “Thế giới thứ hai”, “Thế giới thứ tư” và đặc biệt “Thế giới thứ ba” được dùng để phân chia các quốc gia trên thế giới thành ba nhóm lớn. Từ “Thế giới thứ ba” được sử dụng lần đầu tiên năm 1952 bởi nhà nhân khẩu học Pháp Alfred Sauvy đặt ra khi liên tưởng đến Đẳng cấp thứ ba trong Cách mạng Pháp
“… bởi vì, cuối cùng thì, cái Thế giới thứ ba vốn bị khinh miệt, bị lờ đi và bị bóc lột sẽ như Đẳng cấp thứ ba, muốn trở thành một cái gì tương tự”.
Thế giới thứ ba sau đó trở thành từ ngữ chỉ các nước không thuộc thế giới phương Tây, cũng không thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trong Chiến tranh Lạnh. Những nước này tham gia Phong trào không liên kết thành lập năm 1955 sau Hội nghị Bandung (Indonesia).
Phong trào không liên kết là một tổ chức quốc tế gồm các quốc gia tự xem mình là không thuộc hoặc chống lại bất kỳ khối cường quốc lớn nào. Phong trào này chủ yếu là đứa con tinh thần của Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, cựu tổng thống Ai Cập Gamal Abdul Nasser và chủ tịch Nam Tư Josip Broz Tito. Tổ chức được thành lập tháng 4 năm 1955; đến năm 2007, nó có 118 thành viên. Mục đích của tổ chức như đã ghi trong Tuyên bố La Habana năm 1979 là đảm bảo “sự độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia không liên kết” trong “cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân kiểu mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, và tất cả những hình thức xâm lược ra nước ngoài, chiếm đóng, chi phối, can thiệp hoặc bá quyền cũng như chống lại các đại cường quốc và chính sách của các khối”. Họ đại diện cho gần hai phần ba thành viên Liên Hiệp Quốc và 55 phần trăm dân số thế giới, đặc biệt là những quốc gia được xem là đang phát triển hoặc thuộc thế giới thứ ba.
Tuy phong trào này mong muốn các quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau giống như NATO hay Khối Warszawa, nó có liên kết khá lỏng lẻo và nhiều thành viên của tổ chức thực sự có quan hệ gần gũi với siêu cường này hoặc siêu cường khác. Ngoài ra, một số thành viên còn mâu thuẫn nghiêm trọng với các thành viên khác (như Ấn Độ và Pakistan, Iran và Iraq). Phong trào rạn nứt do mâu thuẫn ngay bên trong khi Liên Xô xâm lược Afghanistan năm 1979. Trong khi những đồng minh của Liên Xô ủng hộ cuộc tấn công, các thành viên khác (đặc biệt là các quốc gia Hồi giáo) của phong trào lại lên án.
Vì Phong trào không liên kết được hình thành với nỗ lực chống lại Chiến tranh lạnh, tổ chức đã cố gắng tìm phương hướng hoạt động mới từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Sau khi Nam Tư, một thành viên sáng lập, tan rã, các quốc gia mới thành lập từ Nam Tư cũ tỏ ra không còn quan tâm tới việc tham dự Phong trào, tuy một số nước là quan sát viên. Vào năm 2004, Malta và Cyprus rút khỏi tổ chức để gia nhập Liên minh châu Âu.
Thật ra sự thành lập của cực thứ ba đứng giữa nói trên, đều nằm trong ý đồ của từng vị sáng lập một. Như ta thấy họ chính là những người có công lớn trong công cuộc cách mạng giải phóng đất nước khỏi tay ngoại bang, như Nerhu, Nasser và Tito. Dĩ nhiên là tham vọng họ rất lớn, dễ dầu gì chịu nằm dưới sự điều động của anh cả đỏ Liên Xô và anh cả tư bản Mỹ.
Nerhu là một đồng chí lớn với “Thánh” Gandhi ở Ấn Độ. Ấn Độ là một nước lớn và dân cư đông đảo vào hàng thứ hai ở Châu Á nói riêng và thế giới nói chung (hiện nay dân số khoảng một tỷ người), và người Ấn có mặt hầu như khắp thế giới, chả khác chi người Tàu. Sau thế chiến Hai, Ấn Độ bị chia tam xẻ tứ bởi bất đồng tôn giáo trong dân gian thành Ấn Độ theo Ấn Độ giáo, Tây Hồi, nay là Pakistan và Đông Hồi, nay là Bangla Desh, theo Hồi giáo (Đông Hồi ngày ấy chịu ảnh hưởng chính trị từ Tây Hồi, mãi sau này mới đứng độc lập).
Chưa hết, do các thế lực thế giới bên ngoài, cũng như do yếu tố nội tại, sự thù nghịch giữa Ấn Độ và Pakistan trở nên vô phương cứu vãn. Hai bên coi nhau như kẻ thù không đợi trời chung, cứ hở ra là chém giết, khủng bố nhau đến kinh người. Căng thẳng qua leo thang vũ khí, bên nào cũng thủ sẵn những thứ vũ khí giết người hàng loạt, cụ thể là vũ khí nguyên tử ! Ấn Độ có thời kỳ tay trong tay với Liên Xô để chống lại Pakistan; còn Pakistan đi đôi với Mỹ, bởi Mỹ muốn biến Pakistan thành một mặt xích bao vây thế giới đỏ bao gồm Liên Xô và Trung Cộng (kéo dài từ Thổ Nhĩ Kỳ, sang Iraq, Iran thời đó dưới sự cai trị của vua Pahlavi thân phương Tây nhất là Mỹ, Tây Hồi, Đông Hồi, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam Cộng Hòa, Phi Luật Tân, Taiwan, Nam Hàn, Nhật).
Cũng nói thêm là sau này khối Phi Liên Kết kéo thêm được cha già dân tộc xứ Indonesia to lớn, đông dân (thứ ba thứ tư thế giới), nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhất là dầu hoả vào phe mình là Sukarno, cũng là một anh hùng giải phóng đất nước khỏi tay thực dân Hòa Lan !
Ở Bắc Phi nói riêng và cả vùng thế giới Ả Rập Hồi giáo vùng Trung Đông và Cận Đông nói riêng có khuôn mặt lớn Gama Abdel Nasser của Ai Cập. Nasser có thời coi như lãnh đạo tinh thần của thế giới Ả Rập Hồi giáo ở đây, chống lại phe tư bản, vốn có nhiều quyền lợi kinh tế từ thời còn là thuộc địa của hai nước Anh và Pháp, sau này lại thêm Mỹ, dẫn xuất từ nan đề dân Do Thái tản mạn khắp thế giới nhiều ngàn năm, nay trở về chiếm cứ đất của dân và quốc gia Palestine xây dựng quốc gia Israel. Lò lửa Trung Đông được nhóm lên và cháy khi mạnh khi yếu từ đó đến nay vẫn chưa nguôi.
Ở Đông Âu thế giới Cộng Sản chỉ có một quốc gia cứng đầu không chịu nằm trong qũi đạo của Liên Xô ngay từ thời Staline. Đó chính là Liên bang Nam Tư dưới sự lãnh đạo của thống chế TITO. Lý do Nam Tư không hề có đường biên giới chung với Liên Xô, chứ nếu không Hồng quân Liên Xô với các binh đoàn xe tăng thiết giáp sẽ ăn gỏi ngay, chả khác gì lân bang của LX, như Hung, Tiệp và xém chút nữa là Ba Lan.
Dù ở xa LX nhưng Tito vẫn lo ngại có một ngày nào đó LX nổi hứng bất tử đánh Nam Tư thì sao ? Chẳng hạn Khrouchev từng hạ lệnh phong toả Berlin, khiến Mỹ vội vã thiết lập cầu không vận cứu nguy dân Tây Berlin thời ấy. Chí ít ra cũng cần có một bảo đảm nào đó, không thể bằng quân sự, thì chính trị và ngoại giao quốc tế chẳng hạn.
Nằm kế cận ngay bên dưới Nam Tư là Albania dưới sự lãnh đạo của Enver Hoxha, cũng không thuần phục Liên Xô và lại dựa vào Tàu cộng của Mao cho mãi đến khi Mao chết mới thôi. Nghĩa là con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa quá có khác Nam Tư. Trong khi ở Nam Tư có phần cởi mở hơn, mang bộ mặt nhân bản hơn, thì ở Albania vẫn xiết bù long cứng ngắt. Cho nên chả ngạc nhiên gì khi thấy Nam Tư phát triển mạnh trong khi Albania vẫn nghèo mạt rệp, cho dù không chịu áp lực phân công quốc tế từ Moscow !
Cũng phải nói rõ một điều quan trọng, tuy gọi là không liên kết, nhưng thực ra hai anh chàng Ấn Độ và Ai Cập lại cũng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, và ngả theo Liên Xô để nhận viện trợ. Chỉ mãi sau này thấy bế tắc về kinh tế, lẫn tiêu phí quá nhiều cho quân sự (mà vẫn không thắng nổi Israel), nên đành quay trở lại Mỹ như trường hợp Ai Cập, chịu nhận viện trợ Mỹ, và chôn búa làm hòa với Israel ở thời hậu Nasser, gọi là tạo ra ổn định vùng (regional stability), tạo cơ hội tốt cho chó điên Ghadafi nuôi mộng lớn thay Nasser như đã nói để làm lãnh tụ khối Ả Rập Hồi giáo.
Tóm lại, tuy gọi là Khối Không Liên Kết (KKLK), tạo nên một cực thứ ba, nhưng trên thực tế vẫn lưỡng cực, bởi khối này vẫn phải dựa lưng vào hai anh cả tư bản và CS như đã nói và sức mạnh cũng còn nhiều hạn chế, do bởi không thực lực, ko thống nhất thật sự, như ở khối NATO hay KOMEKON. Tuy nhiên cũng không thể chối cãi khối này ít ra có ảnh hưởng trên trường ngoại giao quốc tế, như ở nghị trường Liên Hiệp Quốc chẳng hạn, khiến cả Mỹ và LX e dè muốn vuốt ve lôi kéo về mình.
Phong trào PHẢN CHIẾN (PTPC) như đã dần giải trong phần góp ý trước, khởi đi từ các nhà trí thức phương Tây theo trường phái Hiện Sinh và được thổi bùng lên trong các phong trào giới trẻ thời đại như Beatnik và Hippie.
PTPC dĩ nhiên cũng nhận được sự hổ trợ mãnh mẽ từ Khối Phi Liên Kết. Bởi cả hai cùng chia xẻ chung một mục tiêu chống tư bản Mỹ, đang sắm vai “sen đầm quốc tế” (international police-agent).
Cũng như CS thừa cơ nước đục thả câu rất nhiều ở trong phong trào này.
Nếu nhìn cho kỹ ta thấy rằng chính khối Cộng nói chung và Liên Xô nói riêng, thường ở trong tình trạng bị động. Nghĩa là Mỹ cùng đồng minh luôn luôn đi trước một bước, và phía Cộng tìm cách chống đỡ lại mà thôi. Lý do các thinktank của Mỹ quá tài giỏi.
Cụ thể như các tổ chức NATO và Cộng đồng Kinh tế Âu châu (EEC = European Economic Community) ra đời trước khối VARSOVIE và KOMEKON của khối CS. Liên Xô chỉ phản ứng tự vệ thụ động, và ngay trong hai khối trên LX coi như chủ chốt và chịu tốn kém rất nhiều. Chính những viện trợ hào phóng của LX đã làm nước này xuất huyết và cạn kiệt tài nguyên nhanh chóng (một phần không nhỏ do quản trị tối tệ và kỹ thuật khai thác kém cõi), dẫn đến sự phá sản sau nhiều thập niên chạy đua với Mỹ trên nhiều mặt (quân sự, không gian chẳng hạn).
Đó là chưa kể chiến tranh biên giới Nga-Hoa tiêu phí không nhỏ ngân sách quốc gia trong nhiều năm dài thật vô lý. Bởi đồn trú hàng trăm sư đoàn dọc theo biên giới dài dằng dặc giữa hai nước ở những vùng hoang vu lạnh lẽo, thưa người. Và trước sau cũng chỉ gườm súng lấy oai, hơn là đụng độ nhau thật sự. Cho nên cũng chả rút tỉa được kinh nghiệm gì đáng kể về quân sự.
Thời Kennedy đã ra lệnh cho CIA thành lập những đội biệt kích Mũ Nồi Xanh (The Green Beret) chuyên môn phá rối trong hậu phương ở sâu trong đất địch và cũng để chống lại đám gọi là Cách Mạng xuất cảng từ Liên Xô và Tàu. Chính vì thế mà Ngô Thế Vinh gọi là Vòng Đai Xanh (The Green Belt), nhằm bổ túc cho một chuỗi sợi dây xích ngăn chặn bành trướng của thế giới CS ở hai lục địa Âu và Á (từ Tây Âu, vòng qua Bắc Phi, Trung Đông, nối tiếp ở Cận Đông, sang đến Đông Nam Á và chấm dứt ở Viễn Đông (Taiwan, Nam Hàn và Nhật).
Do chủ quan khinh địch, đánh giá quá thấp đối phương, nên những tưởng giải quyết chiến tranh thật nhanh trong vài năm qua giải pháp leo thang quân sự trong thời Kennedy (bản thân Kennedy còn phạm sai lầm lớn trong chiến dịch đổ bộ ở Vịnh Con Heo tại Cuba; rồi gây căng thẳng chút xíu nữa nổ ra chiến tranh với Nga ở vùng vịnh Cuba) và những tổng thống nối tiếp, khiến Mỹ phải đi đến giải pháp hòa đàm nhằm rút chân ra khỏi vũng lầy VN. Sai lầm trên làm cho đám Phản Chiến thêm lớn mạnh như Phù Đổng thiên vương, bồi thêm cú Watergate thời Nixon, khiến Mỹ gục ngã và xuất huyết trong nhiều năm dài do chia rẽ nội bộ.

http://www.nvbonphuong.com

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s