Bức Tượng Thương Tiếc! – Bao Bất Đồng​

Bao Bất Đồng​
Tuong thuong tiec nghia tran quan doi Bien Hoa.
 
Lời Giới Thiệu: Bao Bất Đồng là bút hiệu của cố chủ nhiệm Việt Nam Thời Nay Trần Huy Quyền, Người đã một mình một bút dương oai trấn thủ mục Nói Chuyện Với Đầu Gối trong suốt nhiều năm ròng rã Người đáng được phong tặng danh hiệu Độc Cô Cầu Bại trên chốn trường văn trận bút Việt ngữ Úc châu; Người đã lừng lững đi vào lịch sư báo chí Việt ngữ hai ngoại với lối văn phong phiếm luận độc nhất vô nhị Người đã ngưa mặt nhìn trời cười ha ha rồi phất tay áo, thổi lên không biết bao nhiêu cuồng phong trong lòng độc gia , tạo dựng không biết bao nhiêu hứng khơi bi hùng cho những người từng khoác binh nhung; Bao Bất Đồng, Người đã dùng chữ nghĩa bừng bừng như lưa cháy, dùng ngôn từ trùng trùng điệp điệp như rừng gươm biển giáo, dùng văn phong như nước chay mây trôi… để dựng lại lá cờ chính nghĩa, để khôi phục lại niềm tin của người Việt tin vào đại cuộc quang phục quê hương, để vinh danh những người đã ngã xuống vì dân vì nước.

 Bao Bất Đồng, với tâm hồn bát ngát chỉ biết yêu, biết thương, biết xót xa, trong suốt thời gian mấy chục năm trời làm báo, đã dùng ngòi bút xoa dịu không biết bao nhiêu tâm hồn đau khổ, sươ i ấm không biết bao nhiêu tấm lòng cô quạnh, và mang lại hy vọng, tình thương cho không biết bao nhiêu người trong cơn tuyệt vọng… Qua thực, suốt thời gian mấy chục năm qua, nhiều người Việt hai ngoại đã đọc văn Bao Bất Đồng trong tiếng cười sang khoái, trong tiếng khóc nghẹn ngào, và cũng có nhiều lúc nhiều người đọc văn ông, vừa cười vừa khóc, vừa lắc đầu, vừa đấm ngực… mà vẫn thấy mình hạnh phúc, vẫn thấy mình tỉnh táo, vẫn thấy mình cao thượng, hào phóng, tâm hồn lồng lộng gió biển…

Bao Bất Đồng, ông quả thực là nhà phù thủy của ngôn ngữ, một nhà báo có tài, một cây phiếm luận tài ba. Nhưng hơn thế, ông còn là một người chồng đôn hậu, một người cha có tình có nghĩa. Nhìn vào cuộc đời dang dơ của ông cùng những tiếng thở dài khi ông phải vật lộn để mưu sinh, để tiếp tục cống hiến tình yêu và niềm tin cho độc gia , chúng tôi mới thấy thật thấm thía, nỗi đau lòng của những độc gia khi nghe tin ông mất, gọi điện thoại tâm sự với chúng tôi qua những lời thổn thức, đầm đìa nước mắt…

Được tin ông vĩnh biệt trần thế, chúng tôi vừa bàng hoàng vừa buồn. Càng buồn hơn khi nghĩ đến bà và các cháu… cô đơn ở lại trần gian này giữa muôn vàn khốn khó… Trong tâm trạng đó, khi nhận được điện thoại của bà quả phụ Trần Huy Quyền trong một chiều lộng gió, cho biết, bà cùng một số anh em bạn hữu của ông và các cháu sẽ tổ chức buổi phát hành bộ CD-Quân Sư với chu đề Thương Tiếc vào ngày 16 tháng 9 tại Melbourne và 23 tháng 9 tại Sydney, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên và kính phục. Trong sự ngạc nhiên và niềm kính phục đó, chúng tôi trân trọng kính mời qúy độc gia , bớt chút thì giờ đến tham dự buổi phát hành, để trước hết là to lòng thương yêu dành cho một nhà báo có lòng có tình đã quá cố, và sau là để được tìm thấy những gì tốt lành của chính mình dành cho bà qua phụ Trần Huy Quyền cùng các cháu.

Cũng trong niềm thương tiếc và kính phục dành cho cố chủ nhiệm Trần Huy Quyền đồng thời là nhà báo Bao Bất Đồng, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng qúy độc gia, trong số báo tuần này, và hai tuần kế tiếp, một số bài viết của ông, với niềm hy vọng, qúy độc gia sẽ tìm lại được phần nào hương vị, hình ảnh của nhà báo Bao Bất Đồng, để rồi qua đó, thấy thấp thoáng cả hương vị, hình ảnh của chính mình… và cả những người thân của quý vị…

Đêm Chủ nhật 22 tháng 10 nhằm ngày 25 tháng 11 năm Canh thìn. Trần Huy tôi đang mơ màng trong giấc điệp thì bỗng thấy phương Nam có một bầy chim hạc. Sáng dậy hỏi thầy Mộ Dung Tiên Sinh, thầy bảo đó là mộng ” Vân trung bạch hạc ” nghĩa là ” Hạc trắng bay trong mây”. Điềm báo rằng sẽ có khách quí tới hỏi thăm sức khỏe. Quả nhiên, buổi chiều đang ngồi tà tà viết Quân Sử, thì có tiếng gõ cửa nhà. Tưởng ai hóa ra là chú em Biệt Kích 81 họ Trần. Nếu xưa Trần Huy tôi có máu văn nghệ văn gừng thì chú laị có máu Võ Tòng, máu Lương Sơn Bạc. Gọi là máu Võ Tòng, bởi năm 1969, đang phom phom ngồi mát ăn bát vàng, đang phây phây với giảng đường sách vở thì chú bỗng tung hê, bỗng ném hết để tình nguyện vào lính. Lại là lính Biệt Kích Dù, lính của Liên Đoàn 81, thứ lính chịu chơi, lính một đi không trở lại. Gọi là máu Lương Sơn Bạc, bởi sau ngày 30 tháng 4, trong khi thiên hạ kéo nhau chạy ra biển, thì chú lại theo anh em vào rừng lập chiến khu. Thế nên, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới ưu ái tặng cho chú một quả 8 năm tù cải tạo.
Vừa giáp mặt Biệt Kích đã ngâm sang sảng:

“Bất động ngồi trên xa lộ
Trầm tư súng đặt ngang đùi
Chiều buông nắng ngang nửa mặt
Mắt nhìn, sao ánh không vui.”
Nghe tới đây, Trần Huy tôi cười ha hả: “Cảm khái – cảm khái… Có phải đó là bốn câu mở đầu của bài thi bất hủ ” Bức tượng thương tiếc” nghĩa trang Quân Đội, mà tác giả là ông cựu Thiếu Tá Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Trần Xuân Dũng?”Biệt Kích gật đầu, vừa nước mắt rưng rưng vừa xuống giọng nghẹn ngào:

“Anh là ai hay là tượng
Về từ mọi ngả quê hương
Bình Giã, rừng cao su thẫm
Komtum, đất đỏ nhiều sương.
Bóng anh dân đã từng gặp
Quanh khu rừng núi Bồng Sơn
Dường như chân đèo Phủ cũ
Máu trên vai áo đã sờn.
Quê em ngày còn thơ ấu
Rất nghèo, trên đất Gio Linh
Anh đã nhiều phen chiến đấu
Ra tử nhiều hơn vào sinh.
Nhắc tới tên vùng Quảng Trị
Anh ngồi ánh mắt hiển linh
Rồi Đông Hà, sông Thạch Hãn
Bâng khuâng như nhớ người tình.
Anh là thiên thần mũ đỏ
Ngực còn lấp lánh huy chương
Ôi chao em chưa nhìn rõ
Dường như máu rỉ bên sườn.
Lãng đãng áo anh đổi sắc
Hoa rừng đã trở màu đen
Huy hiệu trên vai nhòa biến
Mọi quân binh chủng thay phiên.
Anh như Kình Ngư, Ó Biển?
Cánh tay “Sát Cộng” ngang tàng
Anh là Thủy Quân Lục Chiến
Mùa hè đỏ lửa hiên ngang.
Em muốn mời anh ly nước
Rót từ dừa xứ Tam Quan
Đôi môi sao anh mím chặt
Lạnh như đồng đúc khô khan.
Đêm sau em nghe rờn rợn
Mắt anh rực lá Quốc Kỳ
Hãnh diện đền ơn Tổ Quốc
Chiến trường nào anh ra đi ?”​

Ngâm xong, Trần Biệt Kích luận:
“Bức tượng “Thương Tiếc” là một trong những tác phẩm điêu khắc vĩ đại nhất, hoành tráng nhất và linh thiêng nhất của dân tộc Việt. Nó là chân dung đích thực nhất của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống ngoài chiến trường. Nó là biểu tượng hoàn hảo nhất của những người chiến binh đã vì nước mà bỏ mình. Nó là pho thần tượng sống nhất, đẹp nhất, nghệ thuật nhất, ý nghiã nhất, truyền cảm nhất và gần gũi nhất.”

Ngưng một giây Biệt Kích kể:
“Trước ngày 30 tháng 4. Từ xa xa, nhìn về phía sau lưng, pho tượng coi uy nghi như một đấng thần linh đang tọa tấn nhất kiếm trấn ải trên đỉnh thành cao lồng lộng. Cũng từ xa xa nhìn về phía chính diện, pho tượng lừng lững như một vị thiền sư đang ngồi trầm tư mặc tưởng giữa khoảng trời đất mêng mông và khi bước lại gần, bất cứ ai cũng sinh lòng kính trọng, cũng thấy có cái cảm giác thân thiết, thân thương, cũng thấy tâm hồn mình cao lớn hơn, cũng thấy con tim mình như mở rộng hơn, và khi ngước đầu lên pho tượng, ta bắt gặp một khuôn mặt kỳ diệu, một khuôn mặt rất người, một khuôn mặt rất bao dung, một khuôn mặt rất nhân hậu, một khuôn mặt rất buồn và bỗng dưng thấy người như đang nhìn ta, đôi mắt như đang vỗ về ta, đôi môi như đang mấp máy nói chuyện với ta. Chiếc nón sắt như đang cử động, chiếc ba lô như đang xoay xoay và đôi tay rắn chắc như đang gõ từng nhịp trên khẩu Ga Rant M1 trên đùi.”

Trần Huy tôi chắp tay:
“A di đà Phật, nghe nói có rất nhiều huyền thoại, có rất nhiều câu chuyện có thật nhưng rất kỳ bí xoay quanh pho tượng lịch sử này.”

Biệt Kích 81 gật đầu:
“Tác giả pho tượng đó là điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, Đại úy Cục Chiến Tranh Tâm Lý. Ngay từ năm 1965 khi nghĩa trang quân đội Biên Hòa được Trung tướng Đồng văn Khuyên Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận đến đặt viên đá đầu tiên, thì ông Thu đã được Bộ Tổng Tham Mưu giao phó công tác xây dựng tượng đài. Nhưng suốt gần một năm vị kiến trúc sư lừng danh mặc dù đã họa hằng trăm bức vẽ mẫu, đã dựng hàng chục mô hình mẫu, đã được giới thiệu đến mấy mươi người mẫu, nhưng ông vẫn chưa chọn được một mẫu như ý. Cho tới năm 1966, nhân đến thăm nơi đóng quân của tiểu đoàn 3 nhảy dù đóng tại Ngã Tư Bẩy Hiền, mà Tiểu Đoàn Trưởng lúc ấy là Thiếu Tá Trần Quốc Lịch, Tiểu Đoàn Phó là nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, Trưởng Ban Ba là Thiếu Tá Lê Hồng và Y Sĩ trưởng là Trung úy Trang Châu. Khi vào uống nước ở câu lạc bộ, ông bỗng thấy một Hạ Sĩ trẻ, dáng dấp rắn chắc to cao, mắt sáng, mày rậm, chỉ có nét mặt và ánh mắt sao mà buồn rười rượi. Anh Hạ Sĩ ngồi một mình trên chiếc bàn trống, nhưng trước mặt lại có những hai tô phở, hai chai bia, hai ly đá và hai điếu thuốc đang nghi ngút khói, một điếu trên tay và một điếu để trên đĩa đối diện.”

Trần Huy tôi ngạc nhiên hỏi:
– “Một người mà cái gì cũng có hai thứ???”

Biệt Kích gật đầu:
“Phải, mới đầu Đại úy Thu tưởng bàn có hai người mà trong đó một đang đi tiểu. Nhưng không, mãi cũng chẳng thấy ai, đã thế anh Hạ Sĩ cứ vài phút lại nâng ly lên miệng nói: “Uống đi mày…. Uống đi… tiểu đoàn sắp tập họp rồi”. Thoạt đầu ông Thu tưởng anh say xỉn nên nói nhăng nói cuội, nhưng nửa tiếng sau, thấy đương sự vẫn tỉnh táo và lời mời “uống đi… làm ly nữa đi… một chai nữa đi” vẫn được nói một cách rất tự nhiên, rất thân tình, cứ như là đang nhậu mù trời với một người đối diện. Chịu không nổi cái cảnh kỳ quặc ấy, Đại úy Thu mới sang bàn anh Hạ Sĩ để thắc mắc. Anh vừa sụt sùi vừa trả lời:

“Trong đơn vị, tôi có một người bạn chí cốt, người bạn ruột, chúng tôi đi đâu cũng có nhau, ra trận cũng bắn chung nhau một khẩu đại liên, về hậu phương cùng nhậu chung một bàn, thế nhưng năm ngoái nó đã bỏ tôi, bỏ anh em, để ngã xuống ở mặt trận Bình Định, nó chết rồi mà tôi vẫn còn thương, còn nhớ nó lắm, nên ăn gì, uống gì, hay nhậu nhẹt ở đâu, để không tủi vong linh của người quá cố, tôi đều không quên kêu thêm cho nó một phần.”

Cảm khái trước tình bạn thiêng liêng ấy và xúc động trước nét mặt đầy sự thương tiếc buồn rầu đăm đăm ấy, Kiến Trúc Sư Nguyễn Thanh Thu đã chọn anh Hạ Sĩ làm người mẫu cho bức tượng. Ba tháng sau, khi tác phẩm đã hoàn thành phần căn bản, anh Hạ Sĩ được trả về đơn vị, nhưng liền sau đó trong một trận đánh, anh đã anh dũng hy sinh. Cuối năm đó tượng đài được khánh thành. Trong buổi lễ, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã yêu cầu các quan khách, các Tướng Tá và các binh sĩ hiện diện đứng lên để có một phút mặc niệm người Hạ Sĩ nhất tiểu đoàn 3 nhảy dù.

Lại ngưng một giây như để nén sự xúc động, Biệt Kích kể tiếp: “Bắt đầu từ đấy, pho tượng Thương Tiếc có những huyền thoại, những huyền thoại có thật, những huyền thoại được kể lại không phải là một người mà là hàng trăm hàng ngàn người như : ” Vào giữa một đêm trăng mờ năm 1968, một chiếc xe đò chở đầy hành khách từ miền Trung về, khi tới xa lộ còn cách nghĩa trang quân đội 500 thước, viên tài xế bị ngủ gật nên thắng gấp, khiến bánh xe trợt một đoạn dài, rồi lật nghiêng. Trong lúc mọi người đang khóc than, đang tìm cách đập vỡ cửa kiếng chui ra, thì chợt có tiếng nói vang lên: ” Xin đồng bào bình tĩnh… xin đồng bào bình tĩnh…, ai đâu ở đó… đã có lính nhảy dù đến cứu bồ”. Tiếng nói vừa dứt thì xe được đẩy lại dựng đứng như cũ, anh tài xế cùng lơ xe và khách vừa mở cửa ra ngoài, vừa hết lời khen sức mạnh ghê gớm của đại ân nhân. Thế nhưng mọi người chỉ thấy ân nhân dáng người cao lớn đứng sừng sững bên kia đường, rồi ông ta bước từng bước rất dài về phía trước. Tới trước cửa nghĩa trang quân đội thì biến mất. Anh tài xế bỗng la thất thanh, chỉ vào pho tượng Thương Tiếc: “Bà con ơi… ổng đó… ổng đó… Trời ơi… trời ơi… ổng hiển linh cứu bà con mình. Thế là mọi người vội leo ngay vào trong xe, rồi ai nấy đều chắp tay lạy… đều đọc kinh râm ran… cả kinh Phật lẫn kinh Chúa.”

Trần Huy tôi nghe tới đây cũng vội chắp tay lên niệm:
“A di đà Phật.”

Biệt Kích kể tiếp:
“Vào lúc 10 giờ tối tháng 3 năm 1969, có hai cặp tình nhân đi trên hai chiếc Honda ra xa lộ hóng gió, gần tới nghĩa trang thì bị ba chiếc khác chở 6 thanh niên tóc dài ép té bên đường. Liền sau đó 3 tên ngồi phia sau nhảy xuống dùng dao uy hiếp khổ chủ để cướp xe và lấy tiền. Trong lúc bọn cướp cạn đang trói các nạn nhân, thì bỗng có tiếng hét lớn trên đầu dốc: “Chớ làm càn… chớ làm càn.” Rồi liền đó xuất hiện ở giữa đường xa lộ một bóng đen… Bóng đen khệng khạng đi tới, một tên cướp hoảng hốt gào lên “Ối giời ơi… ma ma, chạy… chạy…” Thế nhưng không làm sao chúng chạy được, cứ thế đứng sững như trời trồng, bóng đen hai tay xách bổng hai chiếc Honda bỏ bên vệ đường, vừa lúc đó có bốn chiếc xe chạy đến, một xe Cảnh Sát đi tuần, một xe Jeep của bốn quân nhân nhảy dù, trên có một Trung Tá, còn hai xe kia là du lịch. Thấy chuyện lạ, các xe ngừng hết lại. Dưới bóng tối mờ mờ mọi người thấy trên đỉnh dốc có một bóng đen đứng hiên ngang lừng lững. Khi rõ chuyện, Cảnh Sát đến chỗ bọn cướp, đứa nào đứa nấy cứ như bị điểm huyệt. Một người lớn tiếng hỏi : “Còn ai đứng ở trên kia đó…” Một tràng cười vang lên, rồi một giọng như sấm động… “Cố gắng, Nhảy Dù… cố gắng.” Như hiểu ra chuyện, vị Trung Tá nhảy dù trấn an mọi người: “Không sao đâu, pho tượng Thương Tiếc đi tuần thôi.” Sau đó ông vẫy tay la to: “Về nghỉ đi em, khuya rồi… Nhảy Dù”… Bóng đen bỗng đứng nghiêm giơ tay chào, “Cố gắng …Tuân lệnh Trung Tá.”

Đèn pha ở các xe hơi được bật sáng rực chiếu theo, chỉ thấy mờ mờ một bóng người, tới lối vào nghĩa trang thì chợt mất hút, nghe đâu ngày hôm sau hai cặp trai gái mang gà luộc trái cây, hương nhang vàng mã đến trước bức tượng cúng tạ ơn. Khi đến nơi họ thấy hai viên Cảnh Sát đêm qua cũng đang đến khấn vái, một người bảo: “Chúng tôi đi tuần ban đêm, thấy ông ra ngoài ra chơi hoài à, nhưng ông hiền lắm, đã không phá phách mà còn cứu giúp bà con biết bao nhiêu.”

Trần Huy tôi nghe tới đây lại chắp tay: “A di đà Phật”. Biệt Kích lại kể: “Chỉ sau ngày 30 tháng 4 chưa được mấy bữa , thì một đại đội quân Cộng Sản địa phương, đã dùng giây dùng búa, dùng xe kéo, hùng hục suốt một ngày mới xô đổ được bức tương Thương Tiếc xuống dưới chân bệ đá. Nhưng lạ thay chúng dùng đủ mọi cách kể cả cần cẩu để trục bức tượng lên xe nhưng không thể nào cẩu được nên đành phải vất ở đó. Sáng hôm sau viên Thượng úy chỉ huy đại đội trở lại hiện trường để nghiên cứu tìm phương án mang đi thì hắn bỗng giật nảy mình vì bức tượng hôm qua còn ở bên này đường mà hôm nay đã ở bên kia đường. Bảo rằng có người lôi đi thì 100% là không phải. Hắn liền đi hỏi các cư dân lân cận, hỏi mãi thì ông Trưởng Ấp cũ mới nói:

“Ai mà rinh nổi ông ấy qua đây, ổng ấy tự đi đó, suốt đêm qua ổng đi bộ qua đồi Bác Sĩ Tín, rồi tới mấy nhà chúng tôi, bao nhiêu năm nay ổng ấy hiền lành lắm, nhưng lần này giọng nói coi bộ tức giận lắm.”
Viên Thượng úy hoi:

“Hắn nói gì?”

Ông cựu Trưởng Ấp đáp:

“Thì ổng hỏi có ai biết nhà cái thằng Đại Đội Trưởng Việt Cộng ở đâu không?”
Viên Thượng Úy nói cứng:

” Chuyện tào lao không?”

Mấy bữa sau cả vùng xôn xao, vì đêm hôm trước, đồng chí Thượng úy vào lúc 2 giờ sáng lái xe jeep qua nghĩa trang, chả hiểu làm sao xe tự nhiên đâm xuống ruộng bốc cháy, cả 4 tên trên xe chết không còn một mống… Nghe kể lại rằng , xe đang chạy phom phom bỗng lảo đảo, lảo đảo vì pho tượng Thương Tiếc đang đứng giang hai tay ở giữa đường. Kể tới đây nước mắt của chú em Biệt Kích bỗng dàn dụa:

“Suốt 25 năm nay, cho dù bức tượng lịch sử đã bị giặc mang đi mất biệt, nhưng huyền thoại về ông vẫn còn được lưu truyền trong dân gian, trong lúc trà dư tiểu hậu, các bô lão vẫn thường kể lại, những hành động xuất qủy nhập thần của ngài, và rằng ngài vẫn thường hiển linh đi cứu người và rằng ngài vẫn đội nón sắt, đeo ba lô, cầm súng, đi trên xa lộ quanh nghĩa trang, thỉnh thoảng giữa đêm hôm khuya khoắt, người ta vẫn nghe ngài hát bài “Xuất Quân” , bài “Chiến Sĩ Vô Danh”, bài “Lục Quân Việt Nam”, bài “Nhảy Dù Hành Khúc” và rằng khi được hỏi bao giờ về trời? Ngài chỉ tay vào nghĩa trang: “Một số anh em ta vẫn còn nằm đó, thì ta vẫn còn ở đây, ta đi thì còn ai trông coi, bầu bạn với họ, ta chỉ về trời khi trước cửa nghĩa trang một ngày nào đó lá cờ vàng ba sọc đỏ, bay lồng lộng, bay oai phong, bay vút cao cho một nước Việt Nam không Cộng Sản.”

Một cư dân ở đó kể rằng, đâu là ngày lễ Thanh Minh năm 1997, nửa đêm ngài hiện về nghĩa trang, đi từng ngôi mộ để nhổ cỏ, dựng lại từng tấm bia bị gãy, đắp lại mấy thành mộ bị sụp lở và vun lại mấy nấm đất bị san bằng. Vào canh ba, người ta nghe thấy tiếng của ngài vang lên khắp nghĩa trang: “Tội quá đi… tội quá đi… Lúc còn sống thì hy sinh, thì chiến đấu cho trăm họ, lúc chết bây giờ thì hỡi ơi, mộ thì không ai nhang khói, bia vỡ thì không ai hàn… một chén cơm cúng cũng không có, một cái bánh ngọt, một ly nước, một bông hoa cũng không. Thôi thì anh em ơi, tôi thề sẽ ở lại với các anh em, ở lại cho đến khi lịch sử sang trang mới, rồi cuối cùng trước khi biến đi, ông ngâm vang bài thơ “Anh hùng vô danh” của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy:

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải san hà gấm vóc

Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc
Không ngại xa, hăng hái vượt trùng sơn
Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam tiến mở giang sơn lớn rộng

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giầy của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân
Để bảo vệ tự do cho Tổ Quốc.

Trong chiến đấu, không ngại muôn khó nhọc
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan
Người thất cơ đành thịt nát xương tan
Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển

Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối

Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi
Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật

Nhưng máu họ đã len vào mặt đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và anh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.

Bao Bất Đồng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s