MÙA XUÂN ĐEN (Hải Triều): Cốt nhục tương tàn

CỐT NHỤC TƯƠNG TÀN

 Xuân Mậu Thân 1968…

Trinh Tường, tiền đồn phía Bắc của thành phố Phan Thiết chịu áp lực vô cùng nặng nề của cộng quân. Liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm bị cắt đứt, và sau khi bị loạt AK xen vào tiếng pháo Tết rải vô tháp canh đồn thì những lớp giây kẽm gai được lệnh giăng mắc thêm chắn ngang đường ở cổng phía Bắc. Những giây mìn Claymore và mìn chiếu sáng được gài thêm dọc hàng rào phòng thủ đồn. Lệnh báo động khẩn cấp được ban hành trên khắp miền Nam và trên toàn lãnh thổ tỉnh Bình Thuận.

Xuân Mậu Thân đẫm máu bắt đầu từ những tiếng AK nổ vang trong ngày hưu chiến. Xạ thủ đại liên, hạ sĩ Lê Bá có lẽ chả thắc mắc gì với cái tên Hồ chí Minh, và anh cũng chẳng cần biết Nguyễn Chí Thanh là ai; đối với anh, thứ quan trọng, gần gũi anh nhất là khẩu đại liên trên tháp canh. Dù chiến trận chưa bùng nổ, nhưng mỗi đêm nhìn xuyên bóng đen, anh vẫn ngờ ngợ những bất trắc. Ban ngày, anh tháo ráp, lau chùi súng cẩn thận, bao cát được lót thêm cho vững hai chân càng, giây đạn móc sẵn vào ổ súng, các giây đạn khác thò đầu ra khỏi thùng nắm chờ đợi bên khẩu đại liên, sau lưng anh là mấy chục thùng đạn mở nắp.

Xuân Phong là làng sinh quán của anh. Đêm nay làng anh nằm trong tầm vòng đai tác xạ của các loại vũ khí trong đồn Trinh Tường. Các mũi tiến quân của địch khép dần về thành phố trên một vòng cung Tây Bắc từ sông Cà Ty vòng qua Xóm Tỉnh, Xuân Phong và cầu Bến Lội. Thế nhưng muốn tràn ngập Phan Thiết, địch phải khống chế hay đánh sụp đồn Trinh Tường để thọc mũi dùi vào khu chợ Phường gần trường Phan Bội Châu, tiến quân chiếm bệnh viện và nhà ga Phan Thiết hầu tấn công tòa tỉnh. Đồn Trinh Tường là yết hầu chiến lược quan trọng của thành phố nối liền với Ma Lâm, Thiện Giáo ở phía Bắc…

Trời vừa sập tối, tiếng AK đã nổ khắp các vòng cung tấn kích. Từ trên pháo tháp, khẩu đại liên đạn đã lên nòng, Lê Bá sắp lại các giây đạn, ước lượng tầm hỏa lực cho những điểm khả nghi, những cục gò mối, những chỗ địch có thể cắt rào xâm nhập. Bá lấy nón sắt che kín điếu thuốc trước khi rít một hơi dài để lấy bình tỉnh. Những lằn đạn AK vẹt đêm đen bay thẳng vào đồn. Mắt Bá cay cay, anh dụi tắt điếu thuốc và xoay nòng súng qua lại về hướng địch.

Một loạt đạn từ hướng Tây Bắc Xuân Phong bay thẳng vào tháp canh của Bá, anh nhận ra địch đã lởn vởn đâu đó gần xóm nhà bà Nội, anh định phóng một tràng đại liên về hướng địch nhưng ngón tay bóp cò bỗng ngưng lại. Mục tiêu chưa xác định, vã nhà tự bà Nội nằm trong hướng và tầm đại liên của Bá. Anh chợt nghĩ tới bà Nội sống một mình cô đơn trong căn nhà lúc nào nhang cũng cháy trên bàn thờ ông Nội. Anh lo cho bà Nội, không biết đêm nay bà sẽ ra sao, và khi những tràng đại liên anh quét về hướng xóm bà Nội, bà có kịp chui xuống hầm hay không, đạn anh bắn có trúng nhà tự bà Nội không…

Súng địch đã nổ. Đồn Trinh Tường vẫn im tiếng không bắn trả viên đạn nào. Tất cả đều chong mắt chờ địch tấn công. Ngồi trên tháp canh, anh biết rõ là ngày mai mồng Một Tết sẽ không có chuyện anh được phép về ăn Tết ở nhà, không có chuyện thăm Nội, thăm bà con, cô bác. Anh không biết chuyện cộng sản vi phạm ngày hưu chiến Tết nó nghiêm trọng ra sao, kéo dài ra sao, chết chóc ra sao, nhưng anh biết rõ là cái Tết đã tan tành. Anh chợt buộc miệng chửi thề:

– ĐM, mấy thằng VC! Bộ đánh đấm cả năm không đã hay sao mà ba ngày Tết còn mò về thử AK! Thiệt là mấy thằng trời đánh!

Mấy năm đi lính, chuyện đụng trận, bắn nhau là chuyện cơm bữa. Anh nghĩ chắc chuyện bắn nhau với VC đêm nay thì cũng vậy thôi. Giới nghiêm, báo động là chuyện thường, thế nhưng đêm nay, anh không hề biết anh đang là một trong những người lính đang ở tuyến đầu trong một trận đánh lịch sử của mùa xuân Mậu Thân máu lửa, trận đánh quyết liệt đã giữ cho Phan Thiết không bị cộng sản tràn ngập.

Vừa vói tay định bẻ hộc cốm bỏ vào miệng nhai cho đỡ buồn, một quả B40 chợt nổ đâu đó ở hướng vòng đai sau trường tiểu học Trinh Tường, Bá bỏ vội hộc cốm xuống thùng đạn, lừa cục cốm vào má, ngưng nhai và chụp súng khạc một tràng đại liên về phía cục gò mốì ngoài bờ ruộng gần nơi có tiếng nổ. Bá nghĩ bụng:

– Tụi mày muốn chơi B40 hay quan sát cận đồn, tụi mày phải núp sau cục gò mốì này! Cho mày ăn đạn! Thằng nào tới số chết bỏ!

Dường như quả B40 là hiệu lệnh địch khai hỏa, nên quanh vòng đai, tiếng súng nổ dồn dập hơn. Tràng đại liên đầu tiên của Bá làm các tay súng phòng thủ đồn tỉnh người, căng thẳng chờ địch và bắt đầu bắn trả. Bá thấy đêm càng khuya, tiếng súng hai bên càng nổ dữ hơn. Bá nghĩ bụng: “Chắc VC định ăn thua đủ trước khi trời sáng!”

Nguyên một vòng cung an ninh thành phố chạy dài từ Trinh Tường qua sông Cà Ti, chả có nơi nào là rừng, chỉ toàn là ruộng và nhà dân. Địch đánh ban ngày ở vùng này chỉ tổ làm mồi cho máy bay và pháo binh. Bá linh cảm thấy đêm nay là đêm sống chết. Mắt mở lớn hơn, đầu tỉnh táo hơn, mấy thùng đạn sẵn sàng đầy đủ hơn, và chưa bao giờ Bá thấy đạn đạo của địch đổ vào đồn dày hơn đêm nay.

Khoảng 2 giờ sáng, tiếng súng địch nổ rát hơn ở hai mặt Xóm Tỉnh và phía Tây Bắc Trinh Tường, trong lúc hướng Xuân Phong dẫn vào cổng đồn phía Đông Bắc rìa liên tỉnh lộ 8 thì không một tiếng súng. Cái yên lặng này làm Bá chú ý và lo lắng. Linh tính và kinh nghiệm trận mạc của Bá cho biết một cái gì bất thường.

Bá đưa nòng đại liên về hướng hàng rào kẽm gai phòng thủ đầy mìn nhưng thật là yên lặng này. Bá chờ đợi. Hỏa châu thắp giăng giăng đều theo các vòng cung phòng thủ. Hàng loạt hỏa châu treo đèn, soi chập chờn những mái tranh xa xa, và giữa những mái tranh hiền lành run rẩy dưới ánh sáng vàng vọt, nhô lên nóc ngói của ngôi nhà tự, nơi bà Nội Bá đang ở. Bá lẩm bẩm:

– Địch tấn công mặt này chắc nhà bà Nội có cơ lãnh đạn của mình. Tôi nghiệp! Không biết đêm nay Nội có chui kịp xuống hầm hay không! Nội có ngủ dưới hầm hay không! Bà ở một mình trong vùng lửa đạn, có mệnh hệ gì, ai lo cho bà đây!

Lòng Bá như tơ vò, như lửa đốt. Bỗng chợt, một loạt mìn Claymore nổ tung ở phía hàng rào kẽm gai phía Bắc, nơi mà từ giữa hôm không nghe một tiếng súng. Từ phía những lùm cây thấp và gò mả, những trái sáng tự động bị vướng giây bật sáng cả một góc trời. Dưới vùng ánh sáng của hỏa châu lơ lửng trên trời và những trái sáng chiếu rực hàng loạt dưới đất, từng lớp bóng đen tràn vào theo những lằn kẽm gai bị cắt. Địch bị khựng lại vì hàng loạt mìn nổ, cùng lúc khẩu đại liên của Bá đan lưới lửa phủ vào các bóng đen đang kẹt giữa những hàng kẽm gai bị cắt dang dỡ.

Vì địch đã nằm trong tầm đạn chờ sẵn của Bá nên hàng loạt bóng đen đã bị đốn ngã ngay trong đợt xâm nhập đầu tiên bị lộ. Số còn lại rút ra, Bá thấy rõ mồn một những đặc công cõng xác đồng đội tháo lui, Bá thay giây đạn và quét theo những tràng đại liên hòa nhịp với những tay súng phòng thủ khác. Đạn từ trong đồn bắn ra như mưa. Tác xạ từ trên cao, Bá cho lưới lửa săn đuổi bén gót những bóng đen, xác địch vắt từ trên những giây kẽm gai ra tận bờ ruộng ngoài hàng rào phòng thủ.

Kháng tuyến Trinh Tường không bị vỡ, đổi lại, toán đặc công chủ lực làm mũi nhọn thọc vào thành phố bị bẽ gẫy với những tổn thất nhân mạng vô cùng nặng nề. Tính chung, bộ đội cộng sản bị thất bại thê thãm thảm trên các kháng tuyến trong trận tấn công Phan Thiết năm Mậu Thân 1968.

Năm 1970 từ hậu cứ đơn vị ở Nha Trang, tôi có chuyến công tác về Phan Thiết và ghé thăm nhà, và tôi gặp Bá. Bá là con ông Bác, tôi gọi Bá bằng anh, nhỏ hơn tôi vài tuổi, chơi với nhau từ thuở nhỏ, vẫn xưng hô với tôi bằng mày tao. Lúc đó, hai anh em vẫn mặc quân phục và tôi đã mọc thêm một bông mai trên vai áo. Khi gặp nhau, chúng tôi là anh em máu mủ, chả có cấp bậc gì ráo, và tôi cảm thấy ấm áp với không khí xưng hô gia đình như vậy. Tôi hỏi thăm Bá về chuyện họ hàng, bà con. Khi đề cập đến gia đình cô Ba chúng tôi, Bá bỗng cúi mặt buồn buồn. Tôi hỏi:

– Anh Bá! Nghe nói anh Kháng, anh Chiến con cô Ba theo Việt cộng về đánh trận Mậu Thân ở Trinh Tường bị chết phải không?

Bá nhìn tôi:

– Cốt nhục tương tàn đó mày!

– Cái gì? Anh nói rõ hơn được không?

– Tao bắn hai đứa nó đó! Hai đứa nó nằm trong toán đặc công, toán tấn công vô đồn Trinh Tường kỳ Tết Mậu Thân bị đại liên tao đốn gục đó!

Sau câu trả lời của Bá, lòng tôi chùng xuống. Tôi hiểu là trong cuộc chiến tương tàn này, súng đạn không tránh được ai, súng đạn không hỏi căn cước, không tra lý lịch trước khi ghim thẳng vào thân người. Trong tầm tác xạ gần đạn đạo là một đường thẳng vô tri, vô giác, vô tình, nó không tránh né, cong quẹo khi gặp người thân. Và anh Bá kể lại cho tôi nghe câu chuyện nát lòng.

– “ Mày cũng biết, tao hiểu tụi mình có những anh em bà con theo Việt cộng. Trong trận Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công tiền đồn Trinh Tường, tao là xạ thủ đại liên của đồn mà tầm đạn bao dàn một vùng rộng lớn về hướng làng Xuân Phong của mình, trong đó có cả nhà tự bà Nội đang ở. Đêm đầu tiên, địch muốn tràn ngập chiếm thành phố bằng nổ lực dứt điểm nhanh và gọn đồn Trinh Tường. Nếu tụi nó thành công, có thể ngày hôm nay, tao không còn gặp mày.

Trong toán đặc công đầu tiên xông vào dãy hàng rào kẽm gai bị cắt, một mớ chết vì mìn, một mớ tiến sát đến sát lớp kẽm gai sau cùng gần đường lộ, bị tao quét sạch bằng đại liên, khoảng cả chục tên bị đốn gục, không có một tên nào lọt được vào đồn, không có một tên nào kịp bắn một phát B40 nhắm vào lô cốt tao, và dường như khó có tên nào thoát khỏi lưới lửa đại liên của tao trên đường rút ra bờ ruộng.

Hôm sau, khi Việt cộng bị đẩy ra khỏi các vị trí xâm nhập khác trong thành phố, bị truy kích hay bị tiêu diệt tại chỗ, tình hình an ninh được vãn hồi trong thị xã và các vùng ngoại ô, kể cả Xuân Phong, các xác chết của cán binh Việt cộng được chuyển ra lộ và bờ ruộng ngoài cổng đồn. Các xác chết vì mìn được tập trung gần mấy cái gò mả, các xác chết kẹt trong hàng kẽm gai gần lộ do hỏa lực đại liên của tháp canh tao bắn được xếp bên bờ lộ gần cổng đồn. Sau khi kiểm soát, chính quyền ra thông báo cho thân nhân nhận diện tử thi và được phép đem về chôn cất.

Tinh hình an ninh đã khá hơn, song lệnh báo động và cấm quân vẫn còn rất căng. Tao vẫn thủ ngày thủ đêm cây đại liên trên tháp canh. Không có nó bữa đó là chết cả lũ. Khi tao đưa ống dòm lên mắt coi những người đến nhìn xác Việt cộng, tao tá hỏa tam tinh khi thấy cô Ba có mặt trong số người thất thểu tìm thân nhân bị chết, và linh tính tao cho biết có một cái gì rất là thê thảm… Tao dụi mắt và tao tiếp tục theo dõi cô Ba qua ống dòm. Tao cầm lòng không đậu khi thấy cô Ba lần mò lật mấy cái xác gần lộ, rồi cô Ba quỵ xuống ôm một xác người khóc thảm thiết. Hai tay cô Ba đập đất, hai tay cô Ba cào trời…

Chưa hết, khóc một hồi, cô Ba đứng dậy, lấy tấm khăn choàng đắp lên mặt một xác chết, rồi cô Ba xoay lưng tìm mấy cái xác còn lại. Và lần này, tao nghe tiếng cô Ba thét lên “Trời ơi! Chiến ơi! Con ơi!…” Rồi cô lăn dài ra đất. Lúc này thì tao đã hiểu ra cơ sự. Hai đứa nó, thằng Kháng, thằng Chiến con cô Ba nằm trong toán đặc công bị tao đốn gục đêm đó. Nó là con cô cậu của mình, nhưng súng đạn đâu có ăn nhậu gì với tình thân, ruột thịt.

Đêm đó tao không đốn kịp tụi nó thì nó đốn tháp canh tao bằng mìn hay B40. Làm sao biết được! Cô Ba không hề biết hai người con trai duy nhứt của cô bị chết vì đại liên của tao. Cô Ba cũng không hề biết là tao đã nhìn hình ảnh cô lăn lộn trên xác con. Cô Ba cũng không hề biết là tao đã khóc cho cô từ trên tháp canh. Tao kể chuyện này cho mày nghe và giữ kín, không cho bà con biết. Mày hứa là mày giữ kín chuyện này. Tao không muốn cô Ba không nhìn mặt tao! Mày biết chưa?!”

Kể đến đây, người anh tôi bật khóc. Tôi ngồi như trời trồng, lặng người, đau xót. Dường như cái cảm xúc máu mũ, ruột thịt nó có cái gì vượt lên trên lý trí, chính trị, chủ nghĩa; nó chập chờn trong không gian đâu đó, và khi trái tim mở ra, nó chui vào tâm thức lúc nào không hay. Nghĩ đến hình ảnh cô tôi tìm xác con, vật vã gào la dưới trời tuyệt vọng, mắt tôi mờ, hai giọt lệ ứa tuôn lăn xuống má tự lúc nào.

Hàng chục năm chinh chiến xa nhà, đơn vị tôi đóng ở Nha Trang, tôi không một lần gặp lại cô tôi. Tôi bùi ngùi nhớ lại hình ảnh hai ông anh con bà cô, anh Kháng, anh Chiến của những ngày thơ ấu cùng tôi đánh đáo, đánh trỏng đá banh, dành ăn và bị đòn… Và khi lớn lên, lịch sử oan nghiệt đã chia chúng tôi làm hai ngả đối chiến.

Sau đó, tôi và Lê Bá chia tay. Trước khi về lại đơn vị, tôi hỏi anh Bá về người con thứ ba và là đứa con gái út của cô tôi. Anh Bá trả lời:

– Kim hả? May mà Kim không có mặt trong đám đặc công của ông Kháng, ông Chiến, giờ chả biết nó ở xó rừng nào!

– Nghĩa là dượng Ba lôi cả bà út Kim lên núi?

– Thì chớ sao! Cái lão Việt cộng đó có chừa ai, có chừa đứa nào cho cô Ba đâu. Lão đem cả ba đứa con theo con đường mù tịt cùa lão. Lão mê cộng sản, lão theo tới cùng, lão đặt tên con là Kháng, là Chiến thì mày biết cái đầu lão ra sao. Chỉ tội cho cô Ba thui thủi một mình buôn bán nuôi cái thân ngày đau đêm ốm. Tao nghe nói Dượng Ba bị sốt rét chết sao đó. Sau vụ Mậu Thân, chắc bà Kim cũng biệt tích giang hồ trên núi, lạng quạng mò về để mà chết!

o O o

Năm 1971, tôi trở lại Phan Thiết nhân một chuyến công tác ở Sông Mao, mới hay tin anh Bá đã đổi sang Sư Đoàn 23 và bị mất trong một trận đánh nào đó. Tôi mất đi một người anh cùng chiến tuyến. Khi chúng tôi về đến thị xã thì trời đã xế chiều. Bốn thầy trò chúng tôi trên một chiếc xe Jeep đầy đủ súng đạn, không thể bỏ xe ngoài đường, tôi ghé đồn quân cảnh thăm Trung úy Canh và báo tối sẽ xin gửi xe ở đồn. Tôi cho Canh hay là tôi sẽ phóng xe về Xuân Phong thăm bà Nội và quay trở lại phố ngay. Canh dặn:

– Ồng cẩn thận! Chiều tối Việt cộng thường mò về vùng đó lắm đấy! Thăm bà cụ xong là “hổ ” gấp nghe chưa!

Theo đuờng Hải Thượng Lãn Ông, tôi bắt liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm để về Xuân Phong. Qua khỏi đồn Trinh Tường không tới một cây số, xe cua trái vào hương lộ nối qua Xuân Phong, Đại Nấm, Phú Hội. Tất cả súng ống trên xe đều có đạn lên nòng. Chúng tôi đang vào vùng không được an ninh mỗi khi chiều sập tối. Không tới 5 phút sau là chiếc Jeep tôi ngừng trước nhà tự Nội tôi. Tất cả anh em bước ra khỏi xe với súng cầm tay. Tôi dặn TSI Phúc coi xe và canh chừng, có gì nghi ngờ thì báo tôi hay để chuồn gấp. Một mình tôi vào nhà mang theo khẩu M16 với giây “ba chạc” đầy các băng đạn. Tôi không xài súng lục ngắn khi đi công tác xa. Loại này vô ích khi chơi với AK.

Tôi vào nhà bằng cửa chính đang mở, cửa sau không đóng, mấy cây nhang trên bàn thờ ông Nội tôi còn đang cháy. Tôi dừng lại thắp nhang trên bàn thờ ông Nội, xong bước nhanh ra gian nhà sau, vừa lên tiếng gọi “nội ơi!” thì tôi khựng lại. Trước mặt tôi là một cô gái khoảng 16,17 gì đó, nón tai bèo, giép râu, hoảng hốt muốn chui xuống hầm trốn nhưng không kịp phải đứng lại.

Cô gái đứng yên bất động như trời trồng. Tôi chợt hiểu ra ngay cô gái trước mặt là ai: chị Kim, đứa con duy nhất còn lại của cô Ba tôi sau khi hai người anh bị chết trong trận Mậu Thân. Chị Kim vẫn đứng đó nhưng người chị run lên thật tội nghiệp. Có lẽ chị chờ tôi bắt chị. Chị thấy trên người tôi đầy đạn trong giây “ba chạc”, tay cầm súng, song tôi không làm gì hết, lại bất ngờ lên tiếng:

– Chị là chị Kim con cô Ba?

Câu hỏi không có vẻ gì thù hận của tôi làm chị ngạc nhiên. Có lẽ trong đầu chị thoạt đã nghĩ rằng tên “sĩ quan ngụy” này không có trái tim, không còn tình cảm. Chị Kim lên tiếng, giọng chị run run, nói như hụt hơi:

– Tôi biết cậu mà! Cậu bây giờ quan quyền rồi mà còn nhìn bà con được nữa sao?

Câu nói chống chế của chị Kim bị cắt đứt khi bà Nội tôi từ sau bếp bước vào. Tôi quay người qua ôm lấy Nội tôi:

– Đi công tác ngang, con ghé thăm Nội một chút rồi đi lại. Nội khỏe không?

Chỉ trong một phút giây ngắn ngủi, khi nhớ lại chị Kim tôi quay lại thì chị Kim đã biến mất như một con ma. Chi Kim đã trốn trong một hốc tối nào đó trong gian nhà sau mà tôi không biết. Tôi không bắt chị ngay từ đầu thì không lý gì tôi gọi lính tôi vào lục soát nhà tự Nội tôi để bắt chị Kim. Tôi tha cho chị vì một cái gì rất người, từ tim, từ óc, từ máu mũ ruột thịt mà lý trí của một người lính trong tôi trong giây phút đó nó biến tan đi đâu tôi không biết.

Trên một góc độ nào đó, trong bộ quân phục, tôi nghĩ là tôi có lỗi, nếu nói có tội cũng được. Nghĩ lại, tôi không chỉa súng vào người chị Kim ngay trong giây phút bất ngờ gặp chị là một cái gì rất là người, rất là nhân bản, tự nhiên. Vào lúc đó thì tôi không hiểu tại sao tôi lại tỉnh như vậy.

Chị Kim đã trốn được, và tôi không hố tiếc, tôi thanh thản đã không bắt chị Kim trong lần tao ngộ bẽ bàng đó. Song nếu lúc đó có một người lính tôi bên cạnh, tôi đã bắt chị Kim. Chính tôi bắt chị. Và lúc đó tình cảnh đã đổi khác, tôi không có sự lựa chọn của trái tim. Tôi phải bắt chị Kim… Người lính đi bên cạnh tôi sẽ là một đơn vị, nó không còn cái gì của riêng tôi.

Ngay sau đó, để tránh những bất trắc không lường được, trời gần sập tối, tôi vội vã rời nhà Nội tôi. Và khi chiếc Jeep của tôi rú ga phóng về Phan Thiết, chị Kim hiểu rõ là tôi đã tha cho chị. Nội tôi cũng không biết những gì vừa đã xẩy ra trong gian nhà tự. Lúc đó, cụ gần 75 tuổi, không có một ý niệm gì về quốc-cộng, chỉ khi nghe tiếng súng thì đem giỏ trầu, ống quấy chui xuống hầm, hết tiếng súng thì chui lên.

Ba người lính tôi trên xe cũng không biết chuyện gì đã diễn ra trước đó. Tôi giữ yên lặng, giữ tất cả những bí mật riêng tư, chưa bao giờ nói với ai, kể cả đơn vị trưởng, kể cả cha mẹ, bạn bè và kể cả cô Ba tôi nay còn sống mà có một lần tôi gặp lại khi ra tù Việt cộng. Tôi không rõ chị Kim có bao giờ kể lại điều đó cho cô tôi biết hay không.

o O o

Năm 1975, cả cuộc đời lộn ngược, cả đất nước tang thương dưới mầu cờ đỏ, tôi và bè bạn bị đẩy vào các trại tù “cải tạo”, sống sót từ trại tử thần Kà Tót, về sau chuyển về “Tổng trại 8 Tù Tàn Binh Sông Mao”. Trong thời gian khai lý lịch và thẩm cung ở trại Kà Tót, Việt cộng hỏi tôi khá kỹ về dòng họ tôi, về “tội ác” của tôi, cả đến việc viết lách và bút hiệu của tôi. Họ phán những tên đi lính “ngụy” mà viết báo đều là CIA! Họ đề cập tới cô tôi và trong lúc khai cung và hỏi cung, tôi được biết chồng cô tôi từng là tay cán bộ gộc hoạt động trong vùng mật khu này. Có lẽ ông Kháng, ông Chiến và chị Kim một thời cũng có ở trong rừng Kà Tót, nơi mà ngày nay tôi và bè bạn bị giam.

Sau những tuần lễ khai đi, khai lại tả tơi cái món lý lịch và “tội ác”, nằm đêm, tôi cứ nghĩ vẩn vơ về chuyện chị Kim. Mấy con tắc kè bám trên nóc tranh cứ chắc lưỡi đánh thức tôi từng đêm, nghĩ đến ngày mai đen tối, nhìn ra cánh rừng mù mịt, tôi đôi lúc cũng chắc lưỡi với con tắc kè và giật mình nghĩ lại chuyện chị Kim.

Nếu kỳ đó tôi chỉa súng chộp chị Kim, người chị con bà cô ruột thịt với mình ngay trong nhà tự bà Nội, giao cho tiểu khu Bình Thuận khai thác, rồi chị Kim bị tống vào tù mà về sau sống chết tôi không rõ, thì không biết giờ này trong tay Việt cộng số phận tôi sẽ về đâu.

Tôi đã thấy Việt cộng hành hạ tù ra sao, tôi đã thấy cảnh đang hỏi cung, Việt cộng quát tháo và lôi đại úy Thông Ngộ ra trói ngữa trên sạp nứa gần nhà bếp, hai chân, hai tay và cổ bị cột dính xuống sạp như thể chuẩn bị thiêu tù trên dàn hỏa, và họ bỏ đói anh ra sao. Và đến lượt tôi, tên trưởng trại Kà Tót, tên gì chả biết nhưng anh em gọi hắn là Trung Ông Vố, gọi tôi lên, và cơn ác mộng có thể diễn ra như sau:

– Anh là Lê Khắc Hai?

– Thưa vâng!

– Đại úy ngụy?

– Thưa vâng!

– Anh là người bắt sống đồng chí Nguyễn Thị Kim của chúng tôi giao cho quân ngụy?

– Thưa vâng!

– Anh có biết hai đồng chí Nguyễn Văn Kháng, Nguyễn Văn Chiến, anh ruột của đồng chí Kim, đã hy sinh cho cách mạng trong trận Mậu Thân?

– Thưa vâng, biết! Hai anh ấy là con bà cô ruột tôi!

– Nghĩa là anh biết đồng chí Kim là chị cô cậu ruột với anh?

– Thưa vâng, biết!

– Thế nhưng tại sao anh bắt chị anh giao cho quân ngụy?

– Là một quân nhân, tôi chỉ làm nhiệm vụ của tôi!

– Im! Câm mồm! Phản động! Anh có biết tội ác của anh đối với cách mạng, với nhân dân và thân nhân của anh?

– …..

– Sao anh không trả lời? Thế anh có biết bố của các đồng chí liệt sĩ Kháng, Chiến và đồng chí Kim là gì của chúng tôi không?

– Thưa không?

– Đồng chí ấy ngày trước từng chỉ huy ở đây, ngay trong căn cứ Kà Tót này, và đồng chí ấy từng là lãnh đạo của chúng tôi! Hừ! Hừ! Anh là một tên quân ngụy phản quốc, không có trái tim…!

Những anh em tù tàn binh đã từng qua trại Kà Tót với tôi nay sống sót ra nước ngoài, nhớ tên trưởng trại Trung Ông Vố và những tên Việt cộng không còn nhân tính trong trại đều biết là trong tình huống oan nghiệt đó, tôi khó có cơ hội sống còn để cùng anh em lết về “Tổng trại 8 Tù tàn binh Sông Mao” như những thây ma đói xanh xao, vàng vọt…

Ôi! Một chút tình ruột thịt, một chút từ tâm, một chút Phật tính, một chút con người trong hoàn cảnh éo le bât chợt đã ngăn tôi không chĩa súng vào chị Kim để trói chị đem ra xe, tránh được cái cảnh “cốt nhục tương tàn”, và phải chăng. cũng nhờ một chút lòng từ đó mà trời cho tôi được sống còn đến ngày nay!?

Nghĩ cho cùng, ngày đó tôi có bắt chị Kim, cuộc chiến cũng không xoay sang một góc độ khác, lịch sử vẫn đậm một mầu tang… Sài Gòn vẫn bị cưỡng chiếm. Còn tôi, tôi biết mệnh số mình sẽ ra sao trên rừng Kà Tót năm xưa: một nấm mồ hoang không bia, không nhang, không khói giữa rừng tranh u ám bên cạnh nơi an nghỉ nghìn thu của Long, của Biên, của vô số anh em tù tàn binh bị giết hay bỏ xác trên thung lũng chết người này.

Cám ơn Trời đã cho tôi một trái tim người đủ để chứa những khổ đau oan khuất, đủ để xử thế đương đầu với nghịch cảnh, đủ để cưu mang cả một dòng đời bất hạnh. Sau hơn 30 năm, viết lại những dòng này mà lòng vẫn như còn mang mang đất trời nghiêng ngả…

Em về, sông cạn núi mòn
Mà trong hư ảo như còn lửa binh
Em về, mấy triệu sinh linh
Bó tay, cúi mặt, cực hình bủa vây.

haitrieu_sign

Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2013/04/10/mua-xuan-den-hai-trieucot-nhuc-tuong-tan/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s