TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG và TỔNG HỢP ở SÀIGÒN-CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH trước năm 1975 (1…3)

Trường trung học phổ thông & tổng hợp ở Sàigòn-Chợ Lớn
(TM tổng hợp và bổ túc)

1-Chủng viện (Séminaire) Sàigòn-
Đường Cường Để, Quận 1-Sàigòn

Chủng viện Sàigòn không phải là trường trung học giảng dạy theo chương trình giáo dục dẫn đến việc thi lấy bằng baccalauréat Pháp hay bằng tú tài đôi Việt.

Chủng viện Sàigòn là trường đào tạo linh mục của giáo hội Công Giáo.

Tuy nhiên, chủng viện này được trình bày trong khuôn khổ các trường trung học vì những lý do sau đây :

  • Chủng viện Sàigòn là trụ sở tư tưởng chính thống, đầu não triết lý, trung tâm thần học của Giáo Hội Công Giáo địa phận Sàigòn;
  • Chủng viện Sàigòn cũng như tu viện La Sainte Enfance của nhà dòng Thánh Phaolô (Saint Paul de Chartres) và Đan viện Cát Minh (Carmel) lân cận cùng nằm trên đường Cường Để, là những di tích lịch sử lâu đời ở Sàigòn cần được bảo tồn. (Chi tiết về tu viện La Sainte Enfance và Đan viện Cát Minh được trình bày trong bài Trường Saint Paul và Trường Des filles Françaises (Institution municipale de filles à Saigon) của cùng tác giả);
  • Chủng viện Sàigòn đã được xử dụng như trường học tạm thời cho học sinh các trường trung học Taberd, Cao Thắng, Petrus Ký trong những năm 1944-1946;
  • Chủng viện Sàigòn là nguồn gốc phát xuất của một vài trường trung học về sau.

Theo tài liệu [1] ,chủng viện (séminaire) Sàigòn được thành lập tại Thị Nghè vào năm 1850, rồi đổi về Xóm Chiếu, sau rốt vào năm 1866 về đường Luro (sau là Cường Để), ở giữa Thánh Nhi Viện (Sainte Enfance) và đường Nguyễn Du.

Bản đồ Sàigòn 1867 (plan de Saigon en 1867) đã có ghi Séminaire trên địa điểm này (đánh dấu bằng mũi tên màu đỏ).

Chủng viện Sàigòn là tài sản của Hội Thừa Sai Paris (Missions Étrangères de Paris).

Còn thấy trên bảng kỷ niệm câu này:’’ Cette maison a été dédiée à Saint Joseph. Construite par le Père Wibeaux en 1863, elle fut agrandie par Mgr Colombert en 1881’’. (Nhà này dâng kính cho Thánh Joseph.Đây là công trình tạo lập của cha Wibeaux xây năm 1863.Đức cha Colombert nới rộng thêm và ban phép lành năm 1881).

Dưới đây là sơ lược lịch sử Chủng Viện trích từ tài liệu [2] :

1- Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn thời thành lập 1862-1866

Địa phận Đàng Trong lúc đó (trước năm 1844) gồm nửa nước Việt, từ sông Gianh trở vào miền Nam, thêm cả xứ Cao Miên và Thái Lan. Giáo hữu còn ít, Địa phận lại rộng lớn, bao la,đường sá thời đó chưa có, phương tiện đi lại chỉ là ghe thuyền ở miền xuôi, miền sông nước hoặc xe ngựa ở miền cao, chưa kể đến bao hiểm nguy do người và thiên nhiên chực chờ bủa vây dầy đặc tứ phía. Một giám mục trong hoàn cảnh đó không thể chu toàn trách nhiệm cho một nhiệm sở quá rộng lớn như vậy.Đức Grêgôriô XIV, nguyên là Tổng trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo,rất am hiểu tình hình khó khăn và đáng thương của các xứ truyền giáo, nên sau khi đắc cử Giáo hoàng, ngài lập địa phận Tây Đàng Trong (sau này gọi là địa phận Sàigòn) bao gồm các tỉnh: Bình Thuận, Di Linh, Lục tỉnh Nam Kỳ: Đồng Nai (Biên Hòa), Gia Định, Định Tường (Mỹ Tho), Long Hồ (Vĩnh Long), An Giang (Châu Đốc) và Hà Tiên; kiêm cả Cao Miên. Địa phận được trao phó cho Giám mục Dominique Lefèbvre (1844 -1864) lãnh đạo. Đức cha Lefèbvre lưu trú ở Cái Nhum thay thế Đức cha Alexandre.

Trước tình hình khó khăn, năm 1850, Đức cha Lefèbvre vẫn cố gắng lập và coi sóc một chủng viện tạm tại Thị Nghè ở một địa điểm sau là viện dưỡng lão Thị Nghè (Phú Mỹ) (Phụ chú : Viện dưỡng lão Thị Nghè do các Sơ dòng Saint Paul thành lập vào năm 1876).

Năm 1855, vua Tự Đức hạ lệnh cấm đạo toàn quốc. Trước tình thế quá khó khăn, Đức cha Lefèbvre phải chạy sang Miên. Chủng viện tạm được uỷ thác cho cha Triêm hoặc cho cha Lộc (thánh tử đạo Phaolô Lộc), người gốc giáo xứ An Nhơn, giáo hạt Xóm Mới ngày nay.Mãi đến năm 1859, Pháp chiếm đóng Lục tỉnh, Đức cha mới có thể về lại Sàigòn tiếp tục công tác mục vụ và đào tạo linh mục tương lai, một sứ vụ hằng canh cánh trong lòng cha.

Ngày 8 tháng 2 năm 1858, Cha Théodore Louis Wibaux xuống tàu sang Việt Nam.Cho tới đầu tháng giêng 1860, cha mới đến được Sàigòn. (Cha Wibaux sinh tại Roubaix ngày 20 tháng 3 năm 1820. Theo truyền thống gia đình, ngài theo học trường luật. Nhưng khi vừa mãn trường luật, theo ơn Chúa gọi, ngài đã vào chủng viện để rồi năm 1846 cha thụ phong linh mục.Ngày 24 tháng 11 năm 1857, cha Wibaux gia nhập Hội Thừa sai Paris). Khi cha Wibaux vừa đặt chân đến đất Sàigòn, ngay ngày hôm sau Đức cha Lefèbvre liền đưa cha đi ngắm nhìn địa thế để tìm nơi định cư lâu dài cho Đại Chủng viện Sàigòn. Như thế đủ hiểu ước mơ xây cất Đại Chủng viện cho Địa phận Sàigòn đã chiếm lĩnh hết tâm trí Đức cha Lefèbvre. Tìm được rồi, các ngài phải cầu nguyện và vận động với chánh quyền. Mãi cho đến giữa năm 1862, Đô đốc Bonard mới chấp thuận và ngày 28 tháng 8 năm 1862 chính thức ký giấy nhường lại cho Hội Thừa Sai Paris 7 mẫu đất. Đức cha dành bốn mẫu giao cho chủng viện còn ba mẫu chia cho nhà dòng Saint Paul De Chartres vì chính ngài, vào năm 1860, đã mời các Sơ Saint Paul sang Nam Việt.

Trong khi đợi chờ ngày chủng viện hình thành, Đức cha Lefèbvre giao cho cha Wibaux coi sóc chủng viện tạm tại Thị Nghè.Một vị giáo sư đại học tại Paris, kinh đô ánh sáng, giờ đây phải sống chung với 10 chú học sinh trong hai gian nhà tranh ẩm thấp, hễ thủy triều lên thì lội nước, còn thủy triều xuống thì lội bùn. Thật đức tính hy sinh thừa sai cao cả dường bao! Chủng viện tạm ấy không yên ổn lâu, chưa đầy hai năm, cơ sở nghèo nàn ấy cũng bị thiêu rụi trong ngọn lửa vô tình. Cha con dắt díu nhau về kho Năm, gần nhà thờ Xóm Chiếu. Giữa thể kỷ 19, nơi đây thật hoang vu, lại gặp phải thú dữ. Sau việc ông Ba Mươi vồ mất con heo cưng của các chủng sinh, cha Wibaux lại đưa chủng sinh về trung tâm Sàigòn.

Trong tình cảnh túng thiếu đó,vấn đề tài chánh là trở ngại rất lớn cho việc xây cất chủng viện.Phó thác vào Chúa, cha Wibaux nghĩ ngay đến gia tài riêng của mình và lòng rộng rãi của người em nơi quê nhà, cha mạnh dạn tiến hành công tác xây dựng. Thầy Đậu từ Penang trở về bắt đầu gọi thợ phát cỏ, ban nền, đào móng.

Qua năm 1863, Đức cha Lefèbvre vui mừng, cảm động rơi nước mắt đặt viên đá đầu tiên cho Đại chủng viện Sàigòn, cơ sở tư tưởng đầu não triết lý, trung tâm thần học của địa phận Sàigòn hôm nay và mãi về sau.

Tháng 7 năm 1864: Đức cha Lefèbvre khánh thành nhà nguyện và các cơ sở của dòng Saint Paul de Chartres ở số 6 đường Cường Để do ông Nguyễn Trường Tộ thiết kế và xây cất.

Vào ngày 30 tháng 4 năm 1865, Thiên Chúa đã gọi Đức cha Lefèbvre về an nghỉ trong tay Chúa.Đức cha Lefèbvre ra đi, Tòa Thánh gọi Đức cha Miche đang cai quản Cao Miên về thay thế coi sóc địa phận Sàigòn.

Hình Đại Chủng viện Thánh Giuse do cha Wibaux xây dựng

Trong thời gian đó, cha Wibaux vẫn tiếp tục xây cất để chủng viện sớm hoàn thành, Vì thiếu hụt tài chánh nên công trình xây dựng phải đình hoãn đến ba lần để đợi chờ người em của ngài tiếp sức.

Mỗi ngày có đến gần bốn mươi công nhân, chưa kể mấy chục chủng sinh trai tráng trợ giúp, mãi đến ba năm sau mới hoàn thành.

Năm 1866, Đức cha Miche long trọng làm lễ khánh thành chủng viện và cho khai giảng chính thức. Theo di chúc của vị tiền nhiệm đã đặt viên đá đầu tiên, ngài đặt cho tên cho cơ sở này: Chủng viện THÁNH GIUSE.

Ngày làm phép chủng viện, chủng sinh được 60 (gồm cả các chú và các thầy), Địa phận lúc ấy có 30.000 giáo dân, quy tụ trong 126 họ đạo lớn nhỏ do 17 linh mục bản xứ và 25 linh mục thừa sai hướng dẫn.

Công trình xây dựng Nhà nguyện 1867-1871(?)

‘’Ba dãy nhà dành cho chủng sinh lưu trú đồ sộ, mà nhà nguyện sơ sài thì không thể được. Chỗ phượng tự, chính nó phải tôn nghiêm trang trọng, huống chi là nhà nguyện của chủng viện, cần phải bộc lộ, phải biểu tượng hóa lòng tôn thờ đặc biệt của chủng sinh, tất nhiên nhà nguyện phải được đẹp đẽ uy nghiêm”, cha Wibaux suy nghĩ.

Nghĩ là làm, mặc dầu tài chánh eo hẹp, thiếu thợ lành nghề, nhưng với kinh nghiệm đã qua, năm 1867, chưa đầy một năm sau ngày khánh thành chủng viện, cha Wibaux lại khởi công kiến trúc nhà nguyện cho chủng viện.

Xây dựng được hai năm trong lao tâm lao lực ngày đêm, qua năm 1867, cha lâm bệnh nặng vì kiệt sức. Cha đành sang trụ sở MEP (Missions Étrangères de Paris) tại Hồng Kông, rồi trở về quê nhà Pháp quốc để dưỡng bệnh. Công tác xây dựng nhà nguyện tạm ủy thác lại cho cha Đậu, vị phụ tá chuyên nghiệp, tiếp nối công trình.

Hình Nhà nguyện chủng viện

Năm 1871, sức khỏe vừa bình phục, nghe cha Đậu báo tin công trình xây cất tạm hoàn tất, cha vội vã trở lại quê hương thứ hai để tổ chức khánh thành nhà nguyện. Chính ngài dâng cho nhà nguyện: Tượng Đức Mẹ Maria đặt sau bàn thờ. Còn tượng hai thánh Phêrô và Phaolô và các tượng nhỏ nơi bàn thờ cạnh, cả những đồ lễ chén thánh đều do những ân nhân từ Pháp gửi sang dâng cúng.

Đức cha Miche làm phép nhà nguyện. Có đến 28 linh mục thừa sai và bản xứ đến tham dự. Thời đó mà quy tụ được số linh mục như thế là một trường hợp hết sức đặc biệt.

Hình ngôi mộ của cha Wibaux nằm sau nhà nguyện chủng viện

Từ ngày sang Việt Nam cho đến khi từ trần, trong vòng 17 năm, cha Wibaux đã cống hiến tất cả cho chủng viện. Sống cho chủng viện mà cũng chết vì chủng viện. Khi nhắm mắt, hai tay phủi sạch nợ trần, ngài không còn tiền bạc chi cả.

Sau một cơn bệnh kéo dài hơn ba tuần lễ, ngày 7 tháng 10 năm 1877, cha trở về cùng Chúa, hưởng dương được 57 tuổi. Có lẽ vì quá lao nhọc với kiếp sống chật vật và liên tục xây dựng những công trình để đời cho những thế hệ giáo sĩ về sau mà cha không thọ được lâu dài.

Cha Wibaux làm Giám đốc Đại Chủng viện Sàigòn đầu tiên từ năm 1859 cho đến lúc Cha qua đời vào năm 1877.

2-Tiểu Chủng Viện : 1896?-1928

Từ lâu nay, các tiểu chủng sinh vẫn học chung một nơi với các thầy đại chủng sinh, tạo nhiều khó khăn trong công tác giảng dạy, đào luyện. Cha Thiriet, giám đốc đại chủng viện, khẩn khoản xin Đức cha cho thành lập một Tiểu chủng viện riêng biệt. Đức cha đặt cơ sở tại An Đức (quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre), nơi đây có sẵn cơ sở Tu hội Thầy Giảng, Địa phận chỉ cần cất thêm vài căn nhà là có thể khai giảng.

Ba mươi năm sau ngày khai khóa Đại chủng viện Giuse, năm thứ 7 thời vua Thành Thái, trường Tiểu chủng viện An Đức chính thức khai giảng đầu năm 1896, thâu nhận được 76 tiểu chủng sinh do Cha Ernest điều khiển. Nhưng nơi đây khí hậu không tốt. Trong vòng một năm các chú bị cúm hai lần, buộc lòng Tiểu chủng viện phải chuyển về Tân Định.

Năm 1897, Cha Thiriet, giám đốc Đại chủng viện, qua đời sau 33 năm điều khiển chủng viện.

Đầu tháng 8 năm 1898, Đức cha Depierre đã hân hạnh khánh thành cơ sở Tân Định và đặt tên là Tiểu chủng viện Thánh Louis De Gonzague. Tiểu chủng viện này nằm trên một khoảnh đất cao ráo, rộng rãi thuộc viện Pasteur ngày nay.(Cũng vào năm này, Đức cha Depierre từ giã trần thế).

Tiểu chủng viện Louis De Gonzague Tân Định được 40 chủng sinh, nhưng rồi vì không đủ tài chánh, năm 1901, Đức cha Mossard đành ra lệnh đóng cửa cơ sở này.

Sau khi Đức cha Mossard từ trần, ngày 23 tháng 3 năm 1926, Đức cha Dumortier được tấn phong kế vị, ngài ưu tư về một Tiểu chủng viện nề nếp và muốn nâng cấp Đại chủng viện Thánh Giuse.

Ngôi nhà chủng viện bề thế ngày xưa do cha Wibaux kiến trúc trước đó hơn 60 năm chỉ đủ dung nạp 150 chủng sinh lớn nhỏ. Nhưng hiện nay số tiểu chủng sinh đã lên đến 200, nên ngài đã cho xây cất thêm một tòa nhà cho Tiểu chủng sinh. Đức cha Dumortier đã viết: “Vì nhu cầu của địa phận, chúng tôi cần phải xây thêm một tòa nhà nữa để đáp ứng cho nhu cầu truyền giáo hiện nay. Chúng tôi đã khởi công và đã hoàn thành trong tháng 3 năm 1928 một ngôi nhà ba tầng (hai lầu) ngang 13 mét, dài 46 mét”. (Xem thêm chi tiết trong phần Phụ Lục 1).

Sau khi khánh thành cơ ngơi chính thức Tiểu chủng viện Sàigòn, Đức cha Dumortier canh tân Đại chủng viện. Ngày 29 tháng 11 năm 1932, Đức cha Dumortier đã long trọng khánh thành một tòa nhà cũng hai lầu dài 58 mét, ngang 14 mét có thể tiếp nhận 100 đại chủng sinh. Hai sự kiện này diễn ra trong triều đại vua Bảo Đại, triều đại thứ 13, triều đại cuối cùng của nhà Nguyễn.

Tiếp liền năm sau, vào năm 1933, Đức cha tách biệt đại và tiểu chủng viện. Cha Seminel làm Giám đốc Tiểu chủng viện đầu tiên. Trước kia, một cha Bề trên kiêm cả hai trường lớn nhỏ.

Cũng vào năm này 1933 ,ngày 11 tháng 6 , Đức Thánh Cha Piô X, tại đền thánh Phêrô, Vatican, tấn phong giám mục cha Nguyễn Bá Tòng làm Giám mục tiên khởi bản quốc, cai quản Địa phận Phát Diệm.Vào năm 1883, Nguyễn Bá Tòng được linh mục Dépierre đỡ đầu cho, vào học Tiểu chủng viện dưới quyền giám đốc lúc bấy giờ là linh mục Thiriet nổi tiếng là một người thông thái. Những năm học ở Tiểu chủng viện, ngài luôn là một chủng sinh xuất sắc. Ngày 24 tháng 9 năm 1887, thầy Nguyễn Bá Tòng vào học Đại chủng viện Sàigòn và cho tới năm 1896 thì tốt nghiệp. (Xem thêm tiểu sử Nguyễn Bá Tòng trong bài Trường Nguyễn Bá Tòng của cùng tác giả).

3-Đại Chủng Viện thời 1941-1954

Theo tài liệu [2,3,4] :

Khi quân đội Nhật xâm chiếm miền Đông Nam Á năm 1941-1942, trường La San Taberd Sàigòn bị quân đội Nhật chiếm dụng. Vì vậy trường này được sử dụng ngôi nhà Tiểu Chủng viện đến khi chiến tranh chấm dứt.

Nhiều quả bom vô tình đã đi lạc vào bệnh thất và khu lưu trú của các Sơ (đúng vậy các Sơ) trong Chủng viện. Để tránh thương vong về người, năm 1944 , cha Bề trên quyết định cho Đại chủng sinh và hai lớp nhỏ nhất Tiểu Chủng viện đến tạm trú tại Lái Thiêu. Các chủng sinh Tiểu Chủng viện phải di tản là bốn lớp 8, 7, 6 và 5 lên tạm trú tại gần nhà thờ Lái Thiêu, còn bốn lớp 4, 3, 2 và 1 đi xuống tạm trú tại Cái Nhum, thuộc Giáo phận Vĩnh Long ngày nay, trong ngôi nhà ba tầng của dòng Kitô Vua cho mượn.

Các thầy Đại chủng viện cũng lên tạm trú tại trường học nam của giáo xứ Lái Thiêu, nhưng một ít lâu lại dời xuống Vĩnh Long.Công việc giảng dạy và học tập của chủng sinh cũng như của các thầy vẫn được tiếp tục ở những nơi đó.

Do sự oanh tạc ráo riết của phi cơ Mỹ, trường École Technique de Saigon (sau là Trường kỹ thuật Cao Thắng) phải dọn vào các gian nhà của chủng viện Sàigòn từ ngày 10 tháng 6 năm 1944 đến ngày 7 tháng 2 năm 1945 (tài liệu [5]).

Ngày 1 tháng 4 năm 1946, sau khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ , trường trung học Petrus Ký học nhờ trong một năm ở chủng viện Sàigòn. (Xem thêm chi tiết trong bài Trường Petrus Ký của cùng tác giả).

Đến giữa năm 1946, các thầy Đại chủng sinh và cả các chú trường nhỏ tề tựu về Sàigòn. Khi kiểm điểm lại sĩ số thì thấy kém đi khá nhiều, vì có nhiều chủng sinh chán nản bỏ cuộc. Đó là thời kỳ Đức cha Cassaigne (1941-1955).

Như kể trên, tòa nhà Tiểu Chủng viện vẫn bị chiếm dụng, cũng như lúc bị trường Taberd sử dụng, các chủng sinh Tiểu Chủng viện đành phải sử dụng các phòng của tòa nhà cổ kính được xây dựng năm 1863 (Xem hình dưới đây) và một nhà trệt với tường gạch trơ trụi, không có lớp xi măng bên ngoài, cùng với một nhà trệt khác của Đại chủng viện .Nhà trệt khác này về sau được Đại chủng viện sử dụng làm phòng khách và hội trường cho những lớp học chung hay cho những buổi giảng cấm phòng hằng năm của giáo phận từ năm 1987, và được triệt hạ sau năm 2005.

Hình tòa nhà cổ kính đã được xây dựng năm 1863

Tòa nhà cổ kính ba tầng này dùng làm phòng và lớp học cho chủng sinh và phòng riêng cho cha Bề trên và các cha giáo sư. Khi có tòa nhà mới năm 1928, một số phòng nhà cổ dành làm phòng học và phòng lớp cho những chủng sinh hai năm đầu tiên: lớp 8 và lớp 7. Trong thời gian chiến tranh 1939-1945, khi tòa nhà mới (1928) bị chiếm dụng, một số phòng khác còn dành cho chủng sinh các lớp lớn.

Cho đến ít là cuối năm 1948, ngôi nhà Tiểu Chủng viện lại bị trưng dụng, làm trung tâm tiếp đón những gia đình Việt Pháp và có quốc tịch Pháp tạm trú để di cư sang Pháp.

https://baovecovang2012.files.wordpress.com/2020/10/chungvien7.jpg

Tiểu chủng sinh lớp 6 niên khóa 1970 Tiểu Chủng Viện

Có thể nói là những chủng sinh nhập học Tiểu Chủng viện từ năm 1939 đến năm 1948 đã không được dịp ở và học tập trong tòa nhà xây năm 1928. (Tòa nhà này dành cho sáu lớp lớn: các lớp 6, 5, 4, 3, 2 và 1, và được trùng tu vào năm 1963 cho hợp với kiến trúc của ba khu nhà mới Thần học và Triết học Đại Chủng viện).

Lớp 6 niên khóa 1970 Tiểu Chủng Viện chụp trước mộ Cha Wibaux

Niên học 1952-1953, Đức cha Cassaigne chỉ định cha Bề Trên Lesouef (thuộc Địa Phận Nam Vang), một vị Thừa sai uyên bác, làm Giám đốc Đại Chủng viện thay cho cha Delagnes đã lớn tuổi. Theo tài liệu [4],Cha Bề Trên mới khắt khe, nghiêm nhặt, nhưng cởi mở; chủ trương đổi mới nếp sinh hoạt cũ khiến cho bầu không khí chủng viện thoải mái hơn. Năm nay khác với mọi năm dưới trào Cố Bề trên già, Bề trên mới đã quyết định cho các thầy lớp Thần học I (chuẩn bị đi giúp xứ) vào mỗi chiều thứ Tư hàng tuần thay vì đi dạo chung với anh em, mỗi thầy được gởi đến một họ đạo trong thành phố như: Gia Định, Tân Định, Thị Nghè, Chợ Đủi, Thủ Thiêm… để thực tập dạy Giáo lý cho các em thiếu nhi.

Từ đây như có một luồng gió mới thổi mạnh vào Chủng viện:

Thứ nhất, cha Lesouef vận động với cha Bề trên Hội Thừa Sai Paris và các Giám mục liên hệ gửi đến cho Chủng viện những vị giáo sư tài đức.

Thứ đến, cha cũng vận động thành công xin Tòa Thánh trợ cấp cho Đại Chủng viện Sàigòn một số tiền khá lớn hằng năm.

Theo tài liệu [4] : Đại Chủng viện Sàigòn vào thời kỳ 1945-1954 là nơi tập trung ngoài các thầy của Địa phận nhà còn thêm các thầy của 5 Địa phận khác: Nam Vang, Vĩnh Long, Quy Nhơn, Kontum và Huế.

Chương trình tu học được tổ chức như sau: Mới vào Đại Chủng viện phải qua 2 năm Triết và nửa năm Thần học (Khoa Biện giáo- Apologétique), sẽ chịu chức Cắt Tóc và đi giúp xứ (cũng gọi là đi giảng) một năm. Trở về học thêm ba năm rưỡi Thần học và sẽ thụ phong linh mục. Mỗi niên học chia làm 3 kỳ, mỗi kỳ học 3 tháng và nghỉ một tháng.

Năm 1950, giáo sư lớp Triết I là Cha Boutary, còn trẻ, vui tính, dễ dãi, không thông thạo tiếng Việt nên dạy bằng tiếng Pháp (thay vì tiếng La tinh).Năm sau ,Triết II vẫn do Cha Boutary giảng dạy.

Niên học 1952-1953, giáo sư giảng dạy Thần học năm thứ I là Cha Phát (thuộc Địa Phận Sàigòn), còn trẻ, hiền… Sách học bằng tiếng La tinh nhưng Cha giảng giải bằng tiếng Việt nên rất dễ hiểu.

Hình tân linh mục ban phép lành Lễ Mở Tay cho một số người trong đó có một thầy đã Cắt Tóc có hình Mình Thánh Tròn

4-Đại Chủng viện thời thăng tiến 1954-1975

Năm 1954, Đức cha Cassaigne, vị tông đồ người hủi, đã mở rộng Địa phận tiếp đón những anh em theo làn sóng di cư từ Bắc vào Nam. Qua năm 1955, khi anh em di cư đã an cư ở các giáo xứ tân lập trong Địa phận, ngài đã làm đơn xin về hưu mong thực hiện ý muốn của Tòa Thánh là giao trách nhiệm cai quản lại cho Hàng Giáo phẩm bản xứ. Ngài đã trao Địa phận Sàigòn lại cho Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, vị Giám mục tiên khởi bản xứ của Địa phận Sàigòn. Ngài đã trở về với trại phong Di Linh. Sau khi qua đời, ngài đã an nghỉ giữa nghĩa địa người phong.

Thống nhất Chủng Viện để thăng tiến :

Cuộc họp hội đồng, gồm các Giám mục miền Nam và Đức Khâm sứ Tòa Thánh, đã quyết định thống nhất các chủng viện hiện có trong Địa phận Sàigòn. Văn thư số 274, ngày 12 tháng 4 năm 1960, Đức Khâm sứ Brini đã quyết định: Đại Chủng viện Sàigòn tiếp nhận các ơn gọi thuộc các Giáo phận Sàigòn, Vĩnh Long, Cần Thơ (thời ấy chưa lập Giáo phận Đà Lạt, Phú Cường, Xuân Lộc, Mỹ Tho, Long Xuyên, Bà Rịa), các cha Thừa Sai Paris vẫn phụ trách hướng dẫn.

Ngày 17 tháng 6 năm 1960, trong cuộc họp tại Trung tâm Công giáo, Đức cha Lê Hữu Từ và Đức cha Nguyễn Văn Bình đặt tên cho Đại Chủng viện mới là Lê Bảo Tịnh, cơ sở đặt tại đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định, thuộc giáo xứ Vô Nhiễm hiện nay và giao cho cha Giuse Phạm Văn Thiên làm Giám đốc. Từ đó Chủng viện Sàigòn có thêm thánh bổn mạng thứ hai là Lê Bảo Tịnh.(Xem sơ lược tiểu sử Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh trong bài Trường Lê Bảo Tịnh của cùng tác giả).

Việc đào tạo linh mục trong giáo phận Sàigòn những năm 1960 theo tài liệu [3] :

Trong những năm đầu thập niên 1960, việc đào tạo linh mục được thực hiện tại Đại Chủng viện Thánh Giuse, số 6 đường Cường Để, với cha André Lesouef, thuộc Hội Thừa sai Paris, làm Giám đốc từ năm 1952. Ngoài ra, còn có nhiều nơi khác như chủng viện thánh Tôma, Bùi Chu, số 4 đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định; chủng viện Xuân Bích, trong khuôn viên dòng thánh Saint Paul de Chartres, Thị Nghè, qui tụ các chủng sinh di cư của 10 giáo phận Miền Bắc.

Cổng chính Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sàigòn

Để việc đào tạo được thống nhất, các Đấng Bề trên quyết định sáp nhập các chủng sinh di cư vào một Đại Chủng viện duy nhất trong giáo phận, đó là Đại Chủng viện Thánh Giuse Sàigòn nói trên. Lúc ấy, Đại Chủng viện Thánh Giuse chỉ có một ngôi nhà 3 tầng được xây dựng từ năm 1932, không thể đủ chỗ ở cho chủng sinh. Vì thế, việc sáp nhập sẽ được thực hiện trong ba giai đoạn.

Về mặt nhân sự, cha Giuse Phạm Văn Thiên, Sàigòn, được bổ nhiệm làm Giám đốc; phó Giám đốc ban Thần học là cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ, Lạng Sơn; cha Đaminh Trần Thái Hiệp, Bùi Chu, phó Giám đốc Ban Triết học. Ban giáo sư gồm 10 linh mục từ các giáo phận: Sàigòn, Bùi Chu, Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Phát Diệm. Từ năm học 1962-1963, có thêm nhiều linh mục cả triều lẫn dòng tu nữa. (Xem thêm chi tiết trong phần Phụ lục).

Trường sở là ngôi nhà ba tầng, số 4 đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định của các linh mục Bùi Chu cho mượn trong hai năm.

Giai đoạn 1: năm học 1960-1961

-Ban Triết học qui tụ các chủng sinh mới địa phương và di cư,
-Ban Thần học qui tụ các chủng sinh di cư.

Giai đoạn 2: năm học 1961-1962

– Ban Triết học tiếp tục ở lại, chờ hai khu nhà 3 tầng được xây dựng ở số 6 đường Cường Để mới dời đi.
– Ngôi nhà mới cho Ban Thần học đã được xây dựng xong. Cha Giám đốc A. Lesouef đã từ chức, Cha Giám đốc Giuse Phạm Văn Thiên và các cha giáo sư Thần học cùng với các thầy sang Đại Chủng viện Thánh Giuse số 6 đường Cường Để, sáp nhập với các thầy địa phương.

Khai giảng niên khóa 1961-1962:

– Khoa Triết, học tập tại cơ sở Thánh Lê Bảo Tịnh, Gia Định,cha Đaminh Trần Thái Hiệp làm Giám đốc.
– Khoa Thần, học tập tại cơ sở Thánh Giuse,cha Giuse Trần (Phạm?) Văn Thiên làm Giám đốc.

Tháng 7 tháng 1961, trước ngày khai giảng năm học mới, các giáo sư Thừa Sai đã vui lòng trao Chủng viện Sàigòn cho hàng giáo sĩ Việt Nam quản lý. Đức cha Phaolô chỉ định cha Giuse Trần (Phạm?) Văn Thiên, linh mục Việt Nam đầu tiên, làm bề trên Đại Chủng viện Sàigòn.

Giai đoạn 3: năm học 1962-1963

– Cha phó Giám đốc Đaminh, các cha giáo và các thầy sang qua hai ngôi nhà mới của Ban Triết vừa xây dựng xong ở số 6 đường Cường Để.

Tổng số các thầy năm học nầy là 235.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Đại Chủng viện Thánh Giuse Sàigòn, việc giảng dạy và học tập sử dụng tiếng Việt, không còn dùng tiếng La tinh hay tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Ban giám đốc và ban giáo sư toàn là người Việt nam. Đại đa số đã học tại những đại học Công giáo Âu châu như Rôma-Ý, Paris-Pháp, Fribourg-Thụy Sĩ , Louvain – Bỉ, và sau nầy ở những nước như Đức, Mỹ hay Úc.

Việc giảng dạy và học tập được thực hiện và hỗ trợ hiệu lực hơn, nhờ những văn kiện của công đồng Vatican II: Sắc lệnh Optatam totius về việc Đào tạo linh mục, và Presbyterorum ordinis về Đời sống và Tác vụ linh mục , nhất là sau nầy còn có Tông huấn Pastores dabo vobis.

Từ năm 1963 đến năm 1975, có thêm các cha triều và dòng tham gia công việc giảng dạy nữa.

Khu nhà Triết học

Ngày 19 tháng 3 năm 1963, Đức Khâm sứ Salvatore Asta đã khánh thành dãy nhà Triết học, dọc theo đường Cường Để.

Ngày 7 tháng 8 năm 1963, hoàn tất xây dựng mới khu nhà Thần học năm 3 & 4 bên cạnh nhà nguyện Đại Chủng viện.

Khu nhà Thần Học

Thượng tuần tháng 8 năm 1963, Đức Tổng Giám Mục Phaolô cảm động nhìn thấy 235 thầy Đại Chủng sinh tề tựu về ngôi trường chung Thánh Giuse Sàigòn. Cũng trong năm đáng ghi nhớ ấy, trong hai ngày 29 và 30 tháng 12 năm 1963, Đức Tổng Giám Mục Phaolô cũng đã long trọng tổ chức Đại lể kỷ niệm Bách Chu Niên thành lập Chủng viện Thánh Giuse, Tổng Giáo phận Sàigòn.

Năm 1965 (1966?), cha Giacôbê Phạm (Nguyễn ?) Văn Mầu làm Giám đốc Chủng viện thay cho cha Giuse Trần (Phạm?) Văn Thiên nhận chức Giám mục giáo phận Phú Cường.

Năm 1968, cha Giacôbê Phạm (Nguyễn ?) Văn Mầu nhận chức Giám mục Giáo phận Vĩnh Long, cha Phaolo Huỳnh Ngọc Tiên làm Bề Trên Chủng viện.

Vào giữa tháng 4 năm 1975, cùng với hai cha Giám đốc Đại Chủng viện Vĩnh Long và Long Xuyên, Cha Giám đốc Phaolô sang Rôma tham dự một hội nghị về Đại Chủng viện. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cha không trở về Việt Nam được. Cha qua Paris tạm cư và qua đời tại đó; Cha Đaminh Trần Thái Hiệp làm Giám đốc thay thế.

5-Đại Chủng viện Thánh Giuse sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Theo tài liệu [3])

5-1-Giai đoạn 1975-1986: Chờ đợi, Lao động :

Từ năm 1975, số đại chủng sinh giảm hẳn, nhưng Đại Chủng viện vẫn cố gắng sinh hoạt bình thường giữa bao khó khăn tứ bề.

Năm 1977, Tiểu Chủng viện đóng cửa, bị trao cho Bộ Tài chánh ngụy quyền cộng sản để làm trường Tài chánh Kế toán. Đại chủng viện vẫn tự lực âm thầm hoạt động. Đến năm 1982, vì hoàn cảnh bắt buộc, đành phải đóng cửa, ngưng hoạt động.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ còn chủng sinh thành phố chưa học xong được tiếp tục học trong một ít học kỳ 3 tháng, chương trình học gồm những môn học chính yếu. Các thầy đã học xong phải chờ được phong chức, cũng như những thầy chưa học hết chương trình chờ Đại Chủng viện được mở lại.

Trong thời gian chờ đợi, các thầy học xong đi lên một nông trường ở huyện Củ Chi tham gia với những tu sĩ trong công việc canh tác trồng trọt. Các thầy khác ở tại trường hay ở nhà, tham gia lao động sản xuất của một hợp tác xã chuyên sản xuất mành trúc để xuất cảng. Ngôi nhà cổ kính xây năm 1863 được hợp tác xã này mượn để làm nơi sản xuất.

Ngoài ra, chính các thầy cũng có một tổ hợp sản xuất vỏ xe đạp tại cơ sở Đại Chủng viện .

Năm 1985, Bộ Tài chánh ngụy quyền cộng sản lại muốn có hợp đồng mượn Tiểu Chủng viện thêm 25 năm nữa. Có dự định bán luôn nhà đất cho Bộ này, nhưng có thể nói là may mắn, dự định đó bất khả thi.

Qua nhiều lần trao đổi, kiến nghị với trường Tài chánh Kế toán, cuối cùng trường này đã trả nhà lại cho giáo phận năm 2004. Từ đó, Đức Hồng y Gioan Baotixita cho sử dụng ngôi nhà làm Trung Tâm Mục vụ giáo phận, dưới sự điều hành của Đức cha Phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Khảm.

5-2-Giai đoạn 1986-1987: Đại Chủng viện hoạt động trở lại :

Bằng văn bản số 44/BTG đề ngày 18 tháng 11 năm 1986, Đại Chủng viện được hoạt động trở lại. Trường nhận chủng sinh của 6 giáo phận: Thành phố Sàigòn , Đà Lạt, Mỹ Tho, Phan Thiết, Phú Cường, Xuân Lộc.

Khoá I 1986 – 1992 có 50 chủng sinh. Sau 6 năm mới được mở khoá II. Số chủng sinh được ấn định là 30.

Lễ khai giảng khoá I được tổ chức long trọng ngày 6 tháng 2 năm 1987. Ban Giám đốc gồm:

– cha Đa Minh Trần Thái Hiệp, Giám đốc,
– cha Phaolô Lê Tấn Thành, Phó Giám đốc thường trực,
– cha Gioan Bt. Huỳnh Công Minh, Phó Giám đốc.

5-3-Giai đoạn 1987- 2005 :

Vì lý do sức khoẻ của cha Giám đốc, công việc điều hành Đại Chủng viện đều do 2 Phó Giám đốc đảm nhận. Năm 1992, cha Đaminh Trần Thái Hiệp qua đời, và cha Phaolô Lê Tấn Thành chính thức nhận chức vụ Giám đốc Đại Chủng viện Thánh Giuse từ đó cho đến ngày 25 tháng 6 năm 2005, khi ngài xin nghỉ hưu.

Về ban giáo sư, ngoài các cha triều và dòng tu ở thành phố, còn có các cha đại diện 5 giáo phận khác tham gia.

Sau khi Đại Chủng viện hoạt động trở lại năm 1986, Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình dự định dùng ngôi nhà cổ của Tiểu Chủng viện, tọa lạc trước nguyện đường làm nhà Hưu dưỡng linh mục giáo phận, nhưng không thực hiện được.

Vì vậy,ngày 8 tháng 12 năm 1990, Đức TGM Phaolô ra thông báo 68/90 sửa đổi ngôi nhà cổ của Tiểu Chủng viện thành nhà Truyền Thống Tổng Giáo phận.

Năm 1990, Ban Tôn giáo Chánh phủ (Sic) cho mở khoá II. Số chủng sinh vẫn là 50, được phân phối riêng cho mỗi giáo phận. Định kỳ tuyển sinh sẽ là mỗi 3 năm một lần, theo văn bản 207CV/TCCP ngày 14 tháng 11 năm 1990.

Tuy nhiên đến năm 1993 lại có Thông báo 24 TB/TGCP, trường được tuyển sinh mỗi 2 năm một lần. Thông báo nầy sẽ được áp dụng cho đến năm 2006, trường mới được tuyển sinh mỗi năm một khoá. Khoá III đã bắt đầu từ ngày 1 tháng 10 năm 1993.

Từ năm 1993, 6 giáo phận được gởi một số linh mục xuất thân từ Đại Chủng viện Thánh Giuse đi du học ở nước ngoài: Pháp, Ý, Úc, Mỹ. Trước tiên, Tổng Giáo phận Sài Gòn đã gởi 6 linh mục sang Paris, học tại Đại học Công giáo, kế tiếp, gởi 4 linh mục sang học tại Rôma. Các giáo phận khác cũng lần lượt gởi linh mục du học nước ngoài.

5-4-Đại Chủng viện Thánh Giuse từ năm 2005 :

Đại Chủng viện Thánh Giuse-Sàigòn chỉ còn dành cho chủng sinh của các giáo phận Sài Gòn, Mỹ Tho và Phú Cường.

Ngày 25 tháng 6 năm 2005, Cha Phaolô Lê Tấn Thành thôi giữ chức Giám đốc Đại Chủng viện . Đại Chủng viện Thánh Giuse có cha Giám đốc mới là Cha Ernest Nguyễn Văn Hưởng. Ngài điều hành Đại Chủng viện từ năm 2005 đến 2011. Hiện nay, giám đốc Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn là Cha Gioakim Trần Văn Hương.

Tháng 9 năm 2005 ,bệnh xá Đại chủng viện được tháo dỡ. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, nhà nguyện lâu nay của Đại chủng viện trở thành nhà ăn cho quý Thầy Đại chủng sinh.

Nhà Trung Tâm Văn Hóa Đức Tin

Nhà nguyện của Tiểu Chủng viện Sàigòn do cha Bề Trên Wibaux xây dựng từ năm 1867-1871, tạm đóng cửa từ năm 1977. Ngày 24 tháng 12 tháng năm 2005, Đức cha Phụ tá Giuse đã làm phép bàn thờ và nhà nguyện để trở thành nhà nguyện chính thức của Đại Chủng viện Sàigòn.

Ngày 4 tháng 12 năm 2005, Đức Hồng y Crescenzio Sepe, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giảng Phúc Âm Cho Các Dân Tộc đã cắt băng khánh thành nhà Truyền Thống và từ đó gọi là Nhà Trung Tâm Văn Hóa Đức Tin.

Từ ngày 23 tháng 3 năm 2006, cha Bề trên Ernest cho khởi công san bằng dãy nhà ngói dài cạnh nhà nguyện để làm công trường Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Ngày 3 tháng 4 năm 2006, ngài cho xây dựng tượng đài Thánh Giuse, bổn mạng Đại chủng viện, trên phần đất bệnh xá trước kia. Ngày 1 tháng 5 năm 2006, lễ kính Thánh Giuse, cha Giuse Trịnh Hưng Kỷ đã khánh thành và làm phép tượng Thánh Giuse do điêu khắc gia Phạm Văn Hạng thực hiện.

Ngày 19 tháng 3 năm 2013, đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn đã long trọng mừng kính Thánh Cả Giuse – bổn mạng đại chủng viện – và kỷ niệm 150 năm thành lập.

Tác giả tài liệu [2] đã dự kiến rằng khi ngụy quyền cộng sản mở rộng đại lộ TDT (ngày xưa là Cường Để), khu nhà Triết học xây năm 1963 sẽ không còn tồn tại nửa. Tài liệu nầy cũng viết rằng để chuẩn bị mừng kỷ niệm 150 năm thành lập Đại Chủng viện (năm 2013), Tòa Tổng Giám mục Sàigòn đã có kế hoạch trùng tu cơ sở này, gồm chương trình xây cất khu nhà Triết học mới thay thế dãy nhà Triết học hiện hữu.

Nhà Nguyện năm 2013Đại chúng viện năm 2013
Đại Chủng Viện-ngày 20 tháng 1 năm 2017Cổng Đại Chủng Viện-tháng 3 năm 2016-2017

Lời kết trích từ tài liệu [2] : ‘’Mỗi Giáo phận Công giáo, trong mọi thời đại, luôn hiện hữu một Đại Chủng viện: trụ sở tư tưởng chính thống của Giáo Hội Địa phương. Trong hoàn cảnh thuận lợi thì cơ sở này hiện diện công khai, phong chức linh mục công khai. Giữa hoàn cảnh cấm cách thì cơ sở này vẫn hiện diện sống và sống dồi dào bằng nhiều cách khác như chúng ta đã thấy trong quá khứ, cho dù phải đổ máu, hy sinh cả mạng sống của hàng hàng lớp lớp con người. Lớp người trước nằm xuống, lớp kế thừa vẫn anh dũng tiến lên bảo vệ trong máu lửa, sẵn sàng nằm xuống cho thế hệ mai sau “sống và sống dồi dào” (x. Ga 10, 10)’’.

Phụ lục : Ban giáo sư Đại chủng viện Thánh Giuse 1960-1975

Các cha Giám đốc Đại chủng viện, từ năm 1960 đến năm 1975:

* Cha Giuse Phạm Văn Thiên từ năm học 1960 – 1961 đến khi cha được tấn phong Giám mục giáo phận Phú Cường ngày 14 tháng 10 năm 1965.

* Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu được bổ nhiệm giám đốc thay thế từ năm 1966 cho đến khi được tấn phong Giám mục giáo phận Vĩnh Long ngày 12 tháng 9 năm 1968. Tiếp theo là,

* Cha Phaolô Huỳnh Ngọc Tiên làm Giám đốc cho tới năm 1975.

Các cha Phó Giám đốc:

Năm học 1960 – 1961, học kỳ I, Phó Giám đốc ban Thần học là cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ. Sau khi cha được tấn phong Giám mục giáo phận Long Xuyên, cha Giuse Thân Văn Tường thay thế ngài. Phó Giám đốc ban Triết là cha Đaminh Trần Thái Hiệp.

A/ Năm học 1960-1961

Kể từ năm học 1962-1963, Đại chủng viện có thêm những cha sau đây:

Lưu ý:

A/ Có trường hợp cha M. Phạm Hảo Kỳ được qua Tiểu chủng viện làm Linh hướng, vì thế cha GB Huyên thay thế. Trừ cha M. Nguyễn Khắc Ngữ và cha A. Phùng Thành, các cha giáo đều phục vụ cho tới 1975.

B/ Trừ 2 cha ngoại trú, các cha khác đều phục vụ cho đến năm 1975.

Tài liệu tham khảo :


1-Vương Hồng Sển
Sàigòn Năm Xưa-Sống Mới-1968.
2- GB Lê Minh Tâm
Lịch sử Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sàigòn-Báo Công Giáo- 08/07/2016.
3-Lm Phaolô -Lê Tấn Thành
Đại chủng viện Thánh Giuse Sàigòn từ 1960 đến nay-28/01/2013
4-Ý Nhạc Nguyễn Khánh ThọKỷ niệm nhớ đời- Hồi Ký: 5 năm tại Đại Chủng Viện Thành Giuse Sàigòn (1950-1955) -Tháng 3, 1999.
5- Kỹ thuật Cao ThắngCựu học sinh khóa 62-69-Tiểu Sử Trường– Bản gốc.

Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2020/10/28/truong-trung-hoc-1-2/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s