Hoa Diên vỹ (phần 2) – Bùi Huyền Trân

Bùi Huyền Trân

2- Diên vỹ hoa trắng = Iris florentina

Iris florentina – Iris de Florence des parfumeurs.

   Iris florentina là dạng biến đổi, cho hoa màu trắng của Iris germanica, hiện nay có tên khoa học chính thức là Iris germanica nothovar. florentina.

   Các tên thường gọi tại Âu châu Florentine Iris, Glaive Lily, White German Iris, White Flower de Luce.. Tại Hoa Kỳ, hoa được gọi là Florentine Flag; Pháp gọi là “la flamme blanche”, Iris de Florence ; Đức : Florentinsche schwertlilie..

  • Iris florentina và Văn hóa :

   Diên vỹ hoa trắng là chủ đề được bàn thảo về  Fleur-de-luce khi một số nhà nghiên cứu cho rằng cây Madonna Lily mới là cây biểu tượng cho Florence (dựa theo Fleur-de-Lys là biểu tượng cho Pháp (?) Danh từ Lily dùng tại đây phải hiểu là Diên vỹ hoa trắng, Tỉnh Florence Ý gọi cây là Giaggiolo với những ý nghĩa văn hóa truyền thống biểu tượng cho Tỉnh từ cả ngàn năm.. Florence, còn được gọi theo tiếng Ý là ‘la città gigliata’ = The Lily town ‘ Hoa mọc tự nhiên trong vùng thung lũng sông Arno, tại các ngọn đồi quanh Thành phố Florence và khắp vùng Chianti..

   Florentia .. được xem là tên dân La mã đặt cho vùng này từ năm 59 trước Tây lịch, và Florentia tượng trưng cho sự Tái sinh, cho Mùa Xuân trở lại và cho Nữ thần Flora

Hàng năm từ 28 tháng 4 đến 3 tháng 5 , Florence có Lễ hội Ludi Florales hay Floralia để mừng .. Thần Flora..

   Truyền thuyết Florence kể lại rằng : Vào ngày lễ Thánh Reparata năm 405 , thành Florence bị dân Goth bao vây và sắp phải đầu hàng thì Thánh Reparata hiện ra khi đang giao chiến, tay cầm lá cờ phướn (banner) màu đỏ có đính một bông iris trắng.. Trận đánh đổi chiều, nâng cao tinh thần chiến binh Florence và họ chiến thắng. Để cảm tạ Thánh, Florence đã dùng hình ảnh bông hoa iris trắng trên nền đỏ làm biểu hiệu (emblem) trên huy hiệu của  cho Thành Florence  từ Thế kỷ 11

    Florence năm 1251 :  dân Ghibellines cư trú, sau khi thua trận đánh với dân Guelphs đã phải di tản, mang theo lá cờ biểu tượng Florence : hoa trắng trên nền đỏ..Người Guelphs chiến thắng đổi ngược màu cờ .. hoa đỏ (red lily hay red giglio) trên nền trắng và biểu tượng này tồn tại đến nay

    Napoleon, sau khi chinh phục Florence, năm 1811 , định áp đặt một huy hiệu mới cho Tỉnh bằng một cây hoa lily trồng trên thảm cỏ xanh phía sau là  phông màu bạc.. nhưng dân Florence chống đối.. và lệnh không ai theo !

    Trong hội họa  của thời Trung cổ và Phục Hưng các danh họa chọn một màu Xanh lá cây đặc biệt gọi là Iris green (Verdelis = Vert d’Iris) . Màu này được tạo từ nước ép hoa tươi Iris florentina hay I. germanica : Nước ép này có màu xanh lam lợt hay tím lợt được nhúng qua nước sôi, và sau đó cô đặc bằng phèn chua, để cho một chất màu vẽ màu xanh đặc trưng. Màu được dùng trong các tranh vẽ thế kỷ 14 và 15.

Các nhà danh họa cũng có những bức tranh vẽ Diên vỹ hoa trắng (tuy không nổi danh như Diên vỹ hoa tím của Van Gogh) và cũng được trưng bày trong nhiểu bảo tàng viện: –  Bức họa “Adorazione dei Pastori “ của Họa sĩ Hugo van der Goes (1475) , với hình vẽ các hoa Iris florentina, được trưng bày tại Viện Bảo tàng Uffizi Gallery.

  • Bức “Iris and Asphodel”, màu nước của Christiana Jane Herringham (1852-1929) trưng bày tại Royal Holloway University of London.
  • Bức vẽ của Pierre Joseph Redouté (1759-1840) “Florentine Iris” minh họa trong Tập sách ‘Les Liliacées’ in năm 1812-16), được Joseph Tassaert khắc lại cũng được bán đến 15 ngàn đô..

Tuy nhiên, hình ảnh “quý” nhất của hoa Diên vỹ trắng chính là..hoa được khắc trên đồng “fiorino”, đồng tiền cổ của Florence . Fiorino vàng được đúc năm 1252, nặng 3,45 g vàng 24 carat. Tiền có một mặt khắc hoa Diên vỹ và mặt kia khắc tượng Thánh John Baptist, Vị Thánh Quan thầy của Thành Florence… Ngoài ra cũng có các đổng fiorino bạc (giá 1/20 của fiorino vàng) và fiorino đồng..


 Fiorino vàng 

Fiorino bạc  

Fiorino đồng

  • Cây hoa cảnh : Diên vỹ trắng :

   Iris hoa trắng xuất hiện đầu tiên tại Ý, sau đó lan trồng khắp Bắc Âu (khoảng 1500).       

Cây được Linnaeus mô tả đầu tiên vào 1759, dùng tên florentina ghi nhận xuất xứ từ Florence, có một thời gian (1796) cây có tên là Iris officinalis , vì cho là cây thuốc..

Tên chính thức được công nhận hiện nay là Iris germanica var. Florentina

Mô tả : Cây loại cỏ lưu niên, có thân-rễ (rhizome) khỏe, mọc bò lan ngang, tạo thành những bụi rậm; Lá dạng giáo nhọn màu từ xanh nhạt đến đậm, có thể dài 30-70cm , ngang 12-28cm, ngắn hơn chồi hoa. Chồi thân (stem) cao từ 40 đến 100cm, phân  2-4 nhánh. Nhánh có thể mang 1-2 mo (spathe=lá của nụ hoa)..Mội chối thân có thể mang 4-7 hpa. Hoa khá lớn, đường kính đến 25cm, màu trắng hay trắng-xám đôi khi lam nhạt hay phớt hồng rất nhạt. Giống các hoa loài iris : hoa có 2 đôi cánh hoa (petals) gồm 3 cánh ngoài (sepal= lá đài) lớn và cánh trong (tepal) nhỏ hơn. Các cánh ngoài rũ xuống (7-9cm x 3.8cm); cánh trong dựng đứng..Quả (nang) có 3 ngăn trong chứa nhiều hạt..

Mùa trổ hoa : Tháng 7-8 .

    Orris root or Iris florentina or Iris germanica or Iris pallida, vintage engraving. 

Các chủng trồng

    Diên vỹ hoa trắng có thể chịu lạnh nên mọc hoang và được trồng tại Bắc Mỹ, Canada các vùng khí hậu lạnh tại Châu Âu, Siberia (Nga). Cây thường gặp tại các vùng ôn đối Âu châu và Hoa Kỳ (ngoại trừ các nơi khí hậu ẩm như Florida, Louisiana..)

Cây có một số chủng trồng (cultivars) nổi tiếng như “Alba”; ‘Blue Zua’, ‘Firmament, ‘Queen Elma’, “New Louisiana “ (hoa đặc biệt màu xám nhạt)

     Cây cũng được lai tạo thành các chủng riêng như Altar Candles, Vendor..

Dalmatica hoa lớn, màu xanh rất nhạt, thơm mùi hoa cam.

  • Cây .. thuốc ? Orris root

   Orris root (rhizoma iridis) là tên gọi chung cho thân-rễ của Iris germanica (I. florentina) và Iris pallida . Tại Anh, khi iris là một phương thuốc dân gian phổ biến, thân rễ còn có tên là Queen Elizabeth Root.

    Thành phần chính của orris root là Dầu orris (Orris oil) [0.1-0.2 %] một khối dạng sáp màu trắng-vàng (kem nhạt) chứa 85 % myristic acid . Dầu này còn gọi là Orris butter (Orris concrete) hay Beurre d’Iris

   Để tạo mùi hương, thân-rễ phải được tồn trữ nơi khô mát ít nhất là 3 năm ; rễ tươi không có mùi..

  (thân rễ được tán mịn, và chưng cất bằng hơi nước để lấy dầu đặc như sáp; 1 tấn thân rễ cho khoảng 2kg dầu béo)

   Dầu sáp orris tan chảy ở nhiệt độ bình thường của cơ thể.

Thành phần

Iris florentina có chứa các isoflavone glycosides , xanthones

  • Rễ chùm (thân rễ= rhizome khi trích bằng methanol cho các chuyển hóa chất benzene thuộc nhóm acetophenone , isopenol..; các isoflavones như irisolone và irisolidone..(Natural Products Research 2-2010 ; PMID # 20077306)
  • Theo Molecules 2-2012 ; PMID # 22388969) : thân rễ có 12 hợp chất gồm irigenin S, iriside A, và stigmasterol, alpha-irone, gamma-irone, irilone, irigenin, iridin cùng các hợp chất kết nối loại glucopyranoside..

Dầu béo có : decanoic acid, ethanone, alpha-irone, lauric acid, myristic acid, palmitic acid, hợp chất đắng và glucoside iridin.

Nghiên cứu

Rất ít nghiên cứu dược học về Iris Florentina :

  • Molecules (dẫn trên)  ghi là dịch chiết bằng methanol từ rễ chùm có hoạt tính kháng khuẩn, và có tác dụng chống sưng.
  • Natural Products Communications June-2015 ; PMID # 26197526 ghi nhận hoạt chất trích từ thân-rễ có khả năng chống tế bào ung thư máu loại HL-60 promyelocitic leukemia do tác dụng tạo tiến trình tự hủy (apoptosis) tế bào, khi thử trong ống nghiệm
  • Journal of Ethnopharmacology June 2003 ; PMID # 12738083  ghi trong thân rễ có 9 isoflavonoids có tác dụng chống sưng do kích khởi hoạt năng của các bạch cầu trung tính (neutrophils).

Cách dùng

     Dược học dân gian dùng Rễ và Hoa làm thuốc long đờm và trị tức ngực. Dùng đắp bên ngoài trị các vết thương; dùng trị sưng phổi, ho, đau cổ họng; trị đau bụng.. Nhai để giúp trừ hôi miệng, làm thơm hơi thở

        Theo WebMD  (www.webmd.com/vitamins/ai/ingredientmono-645/orris)

Thân-rễ  dùng lọc máu, kích hoạt hạch lympho, tăng hoạt thận, giúp thèm ăn, giúp tiêu hóa và gây tiết mật ; Cũng dùng trị nhức đầu, đau răng, đau bắp thịt, khớp, táo bón

Có thể  dùng trị sưng phổi, đau lưng do đau thần kinh tọa, sưng lá lách..

Đôi khi dùng thoa hay đắp trực tiếp vào nơi bị thương tổn như khi hơi thở có mùi hôi, sưng bên trong mũi, trẻ em mọc răng, mụn nhọt ngoài da, phỏng, đứt tay…

      Y dược học Vi lượng đồng tính Liệu pháp (Homeopathy) thông dụng tại Anh, Pháp, Đức và tại Ấn độ.. dùng Iris Florentina trị các chứng co giật, mê sảng (delirium) tiêu chảy, nhức đầu, bán thân bất toại (bên phải) (homeopathycenter.org) dưới dạng thuốc rượu (teinture)

  • Cây Hương liệu và Mỹ phẩm ;

   Iris florentina được sử dụng trong kỹ nghệ mỹ phẩm: dùng làm thành phần pha trộn để chế tạo nước hoa, phấn thoa tóc, shampoo, kem đánh răng, savon

Các chuyên viên hương liệu cho rằng Dầu orris có mùi pha trộn giữa mùi gỗ (woody),  hương hoa đồng nội và đặc biệt là mùi hoa violet (hoa chân chim, hoa Phi yến, Tử la lan) còn có thêm hương trái cây tiềm ẩn.. ? Ngoài ra mùi hương của Orris khá bền và khá đậm.

Các nghiên cứu riêng về Orris trong Mỹ phẩm ghi :

  • Trích tinh từ hoa và rễ có tác dụng rất tốt trên da.Trong hoa có những hợp chất tương tự như estrogen, có hoạt tính dưỡng da , nhất là da của phụ nữ ở giai đoạn mãn kinh, thường bị nhăn. Isoflavones trong rễ có thể kích thích hoạt động của biểu bì, ngăn sự suy thoái các cấu trúc protein giúp tăng sự đàn hồi, tái tạo tế bào da và nhờ đó chống nhăn..Dùng làm thành phần trong các kem dưỡng da, chống lão hóa, chống nhăn.
  • Theo Janssen-cosmetics.com : Trích tinh Rễ ức chế hoạt động của các men tạo sự phân hủy của các protein tại matrix ngoại bào (collagen và elastin) đồng thời cải thiện sự tổng hợp các DEJ (dermal-epidermal junction) , nơi các điểm neo (anchor) protein. Dịch chiết có hoạt tính gia cố vách cản của da và làm giảm độ sâu của các vết nhăn : da sẽ giữ được ẩm độ và bớt nhăn.
  • Mỹ phẩm trong công thức có..tinh dầu orris :

Nước hoa Iris

Nhiều mỹ phẩm nổi tiếng dùng tinh dầu orris làm một thành phần quan trọng trong công thức , thường là nốt căn bản cho nước hoa ..

  • Nước hoa như Orris Noir do Nhà sản xuất (NSX) Ormonde Jay Perfumery London ; Orris root or Iris florentina or Iris germanica or Iris pallida, vintage engraving. Infusion d’Iris (Prada); No 15 (Auphorie) ; Tumulte (Christian Lacroix); Y  (Yves Saint Laurent) ; Vol de nuit (Guerlain)..Chanel Nos 5, 19 và 28
  • Trong công nghiệp savon thơm : beurre d’Iris được dùng làm chất ‘cố định = cầm mùi (fixateur)



 Savon thơm Iris

  • Bột (trong bao nhỏ mang theo người) nhụ Iris poudre (Frederic Malle) Poudre Lolita, Lolita Lempicka  (Jovoy Paris)

– Về thực phẩm : Orris root có mặt trong nhiều Rượu Gin (Plymouth Gin, Victory Gin); dùng tạo mùi-vị cho các syrup Tại Maroc, thân-rễ được dùng trong món ăn Ras el hanout (một món salad trộn với nhiều rau và gia vị)..

3- Diên vỹ Nhật = Japanese Iris

   Danh từ Diên vỹ Nhật hay Đuôi diều bao gồm Ba loài Iris trồng trong vườn và mọc hoang tại Nhật. Loài thông dụng nhất là Iris ensata (hanashòbu), hai loài I. laevigata (kakitsubata) và I. sanguinea (ayame) ít được chú ý hơn.

    Hanashòbu được trồng tại các vùng đất ẩm và rất phổ biến tại nhiều vườn hoa Nhật ở Tokyo, thích hợp với khí hậu ôn đới. Cây cỏ, mọc cao đến 90-120cm. Hoa to đến 30 cm đường kính, dạng đơn  hoặc kép, nhiều màu như tím, tím-đỏ có khi xanh lam.. Mỗi phát hoa mang 2 nụ nơi đầu cành và 2 nụ nơi cành nhánh.

Iris ensata rất được ưa chuộng tại Nhật nên có nhiều chủng trồng cho hoa tuyệt đẹp:

  • Iris ensata ‘Agripinella’  : Hoa lớn, đường kính 20cm, dạng kép màu hồng nơi họng màu trắng có những đốm sáng..
  • Iris ensata “Alpine Majesty” : Mọc cao đến 100cm, cho hoa màu trắng tuyền, họng vàng.. Hoa đoạt nhiều giải thưởng của Royal Horticultural Society
  • Iris ensata “Blue Spritz” : Hoa kép, cánh hơi nhăn màu tím lợt, có những gân sọc tím đậm.



 Iris ensata “Blue Spritz”           

Iris “Frilled Enchantment’ (màu magenta)

Các chủng khác như “Frilled Enchantment’ (hoa màu magenta); “Coho” (hoa màu hồng tuyền, được ưa thích tại Mỹ; “Magic Opal” (hoa to 20cm, màu lilac, gân hoa tỏa ra như tia mặt trời); “Queen Tiara” (hoa trắng, có gân chìm tím nhạt.. giống hoa lan)..

  
 Iris “Coho”         

Iris “Magic Opal”

 
Iris “Queen Tiara”                           

Iris ensata “Alpine Majesty”

   Kakitsubata = Iris laevigata là loài Iris thích hợp với đất ẩm và có thể trồng dưới nước (aquatic plant) nên còn có tên là  Asiatic water iris. Cây được trồng từ lâu đời tại Nhật và là loài Iris được vịnh trong các bài thơ Haiku.  Cây cần nước có độ sâu ít nhất 5-10cm. Mọc cao 50-90cm, Lá hình lưỡi kiếm; Hoa màu xanh lam. Có các chủng trồng như Atropurpurea (hoa lam-tím) , Rose Queen (hoa hồng nhạt),  Snowdrift (hoa trắng)

Kakitsubata = Iris laevigata                                                                                       

Bùi Huyền Trân

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

One thought on “Hoa Diên vỹ (phần 2) – Bùi Huyền Trân

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s