Kỵ binh Phù đổng (bài 4) – Trần Lý

Thiết giáp Việt Nam Cộng Hòa giai đoạn sơ khởi (1955-1962)

                                                               Trần Lý

(trích bản thảo Kỵ binh Phù đổng)

  Cùng với sự thành lập Việt Nam Cộng Hòa 26 tháng 10 năm 1955, Lực lượng thiết giáp của Quân đội Quốc Gia Việt Nam chính thức trở thành một binh chủng trong Bộ Binh VNCH, có một Bộ Chỉ huy riêng đóng tại Trại Phù Đổng (Gò Vấp).

          (Tư lệnh Binh chủng đầu tiên là Thiếu tá Dương Ngọc Lắm 3/1955-5/1957)

Sau đó là Tr tá Hoàng xuân Lãm 5/1957-6/1959 và Nguyễn văn Thiện 6/59-12/63..

Huy hiệu Binh chủng Thiết Giáp VNCH

  Từ 1956, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ chính thức giúp đưa vào các cố vấn thay thế và các sĩ quan thiết giáp Việt Nam bắt đầu được gửi đi học và bổ túc chuyên nghiệp cao cấp hơn tại Trường Thiết Giáp của Lục quân Hoa Kỳ (US Army Armour School) tại Fort Knox (Kentucky)

  Lực lượng Thiết giáp VNCH thay đổi cơ cấu và tổ chức từ kiểu mẫu Pháp sang.. kiểu Mỹ. Các Thiết đoàn được xem là tương đương với các Trung đoàn Thiết giáp Hoa Kỳ và gồm :

  • 1 Chi đoàn xe tăng M-24
  • 2 Chi đoàn Xe thám thính M-8, Xe bán xích, Xe bọc sắt scout car M-3

      vài xe pháo tự hành

    (tất cả đều do Quân đội Liên Hiệp Pháp giao lại trong tình trạng tuy khả dụng nhưng hư hỏng nhiều do thiếu bảo trì )

               Tên gọi các đơn vị TGVN so sánh với các  Pháp và Mỹ :

  • Thiết đoàn  = Regiment (Pháp) ; Battalion (US-Army Armor) Squadron (US Calvary
  • Chi đoàn = Escadron (Pháp) ; Company (USAA), Troop (US Calvary)
  • Chi đội = Peloton (Pháp) ; Platoon (USAA), Platoon (Cavalry)

Các cấp chỉ huy đều là những quân nhân từng theo học tại Saumur, và mũ nồi đen cũng là ‘di sản’ của Kỵ binh Pháp vẫn được giữ lại..

Về các đặc tính của các chiến xa xin đọc :

Xe tăng M-24 : Thiết giáp Pháp tại Điện Biên Phủ

Các xe khác : Kỵ binh Phù đổng bài 3

 : https://bienxua.wordpress.com/2021/07/14/ky-binh-phu-dong-bai-3-thiet-giap-cua-quan-doi-quoc-gia-viet-nam-tran-ly/

  Trường Thiết Giáp QLVNCH cũng được tổ chức lại, theo mô hình Trường Fort Knox Mỹ : các phương pháp huấn luyện, các bài học chuyên môn, kể cả chiến lược và chiến thuật tác chiến đều theo kiểu Mỹ (tài liệu đều được dịch từ các sách Anh ngữ)

Các vị Chỉ huy trưởng Trường Thiết giáp QLVNCH : 1955-1963

                (Cấp bậc khi làm Chỉ huy trưởng) :

  • Thiếu tá Hoàng Đôn Thận (1955-56)
  • Th. tá Trần văn Ái (1956)   ;   Đại úy Nguyễn Duy Hinh (1956-57)
  • Đ. úy Lương Bùi Tùng (1957-59)  ;  Th tá Vĩnh Lộc (1959-61)
  • Đ.úy Dương văn Đô (1961-63)

  Trong những năm 1957 đến 1959, con số cố vấn Mỹ trong Binh chùng TG VNCH  còn ở mức rất khiêm nhường: tổng cộng chỉ có 16 vị về TG trong Phái bộ MAAG-V (Military Assistance Advisory Group – VierNam ) : Mỗi Thiết đoàn có một cố vấn, tất cả không được phép tham dự trực tiếp vào các cuộc hành quân của TG VN, đồng thời không được phép tiết lộ các chi tiết về hoạt động của họ bên cạnh TG VN (trong một giấy cam kết phải ký trước khi sang VN)

    Trong thời gian 1957-1962 : TG chỉ giữ một vai trò khiêm nhượng trên chiến trường VN, và chỉ thường là các cuộc tuần tiễu mở đường..phòng thủ cố định. Sự thất bại của Quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương cùng các trận đánh của VM phục kích các Chiến đoàn lưu động (Groupe Mobile) phá hủy các chiến xa hộ tống đã khiến các nhà chiến thuật ‘mất’ tin tưởng vào kỵ binh trên chiến trường..

  Ngoài lực lượng chính là 4 Thiết đoàn (Trung đoàn Kỵ binh), mỗi Thiết đoàn tại mỗi Vùng Chiến Thuật :

  • Trung đoàn 1 , trú đóng tại Gò Vấp
  • Trung đoàn 2 , đóng tại Vĩnh Long
  • Trung đoàn 3, tại Ban Mê Thuột
  • Trung đoàn 4, đóng tại Huế

Còn có một số đơn vị biệt lập sử dụng xe bọc thép như Lực lượng Phòng vệ Phủ Tổng Thống, Lực lượng thiết giáp phòng thủ phi trường..

    Lực lượng Phòng vệ Phủ Tổng Thống có một Chi đoàn thiết giáp biệt lập tuy do các sỉ quan TG chỉ huy nhưng không do Bộ Chỉ huy TG điều hành và bổ nhiệm, trang bị nhiều loại chiến xa khác nhau, tuy nhiên trong giai đoạn 1956-1960 vẫn là xe tăng M-24, xe nồi đồng M-8..

Từ 1957 1960 : Lực lượng có một Liên chi đội thiết giáp do các  Đại Úy Nhan nhật Chương, sau đó kế tiếp là  Nguyễn Tấn Tui chỉ huy…

     (Lực lượng này bị giải tán ngày 4 tháng 11 năm 1963 ,ngay sau cuộc đảo chính..)

    Các đơn vị thủy bộ của Pháp chuyển lại cùng các xe bọc thép Weasel và Alligator, từ 1955 được tách khỏi TG, đưa sang Thủy quân lục chiến trực thuộc Hải quân (đến 1963)

   Từ những hoạt động phá hoại, phá rối trị an của các đơn vị địa phương; CSBV đã khởi đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam vào 1960 : đưa các cán bộ tập kết trở về, gửi quân miền Bắc vào cùng các súng đạn mới của khối Cộng. Các cuộc tấn công mở rộng hơn và cường độ chiến tranh gia tăng..

  1961 : Tình hình quân sự tại Miền Nam trở thành nghiêm trọng, hoạt động của Cộng quân mở rộng; trong khi các thiết bị của QLVNCH (kể cả TG) đã hư hao cần thay thế..

  • Cơ giới Bảo an

  Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh phá hoại do CSBV tổ chức từ năm 1960, các lực lượng CS tìm cách ngăn trở lưu thông, phá hoại cầu cống, đào đường và đắp mô; chặn xe dân sự trên quốc lộ, phục kích các quân xa di chuyển đơn lẻ..Để chống trả, Chính phủ VNCH đã áp dụng các phương pháp chống chiến tranh du kích của người Anh tại Mã Lai, trong đó có chương trình võ trang các xe cơ giới nhẹ cho các đơn vị  Bảo An, đặt dưới quyền chỉ huy và điều động của các vị Tỉnh trưởng địa phương.

   (Các nhân viên Cơ giới Bảo An được gửi đi huấn luyện tại Trung tâm huấn luyện cũ của Thiết giáp ở Vũng Tàu )

    Các xe cơ giới này, do Anh và Canada sản xuất từ thời Thế chiến 2, được  Chính phủ Mã Lai trao tặng cho VNCH (600 xe đủ loại mà Mã Lai đã dùng trong các cuộc hành quân tiễu trừ du kích Mã cộng) nên thường được gọi là “Thiết giáp Mã Lai”. Các xe bọc thép nhỏ, võ trang nhẹ, được dùng trong nhiệm vụ chính là hộ tống các đoàn xe nhân viên Chính phủ đi công tác từ TỈnh đến những Quận lỵ hẻo lánh, tuần tiễu trên đường lộ, giải vây những vụ quấy rối xã ấp của Cộng quân..

    Những xe chính được dùng :

  • Xe bọc thép Humber Mk 1:

Xe Humber dùng tại VN, được chế tạo tại Canada, sửa đổi và cải biến từ loại nguyên thủy của Anh. Khi dùng tại VN, đại liên Bren của Anh được thay thế bằng 12.7 ly của Mỹ. Xe 4 bánh, 3 nhân viên điều khiển; kích thước : 4.5m x 2.2m x 2.3m; nặng 7 tấn; vận tốc 72 km/ giờ

                                                      Xe Humber Mk 1

  • Xe bọc thép Daimler :

Hai loại thông dụng nhất sử dụng tại VN :

  • Daimler Mark 1 : Xe 4 bánh, nặng 7.5 tấn , kích thước 3.9m x 2.4m x 2.2m. Do 3 nhân viên điều khiển; trang bị đại bác 2-pounder của Anh; vận tốc 80km/giờ .

                                                          Daimler Mk 1

  • Daimler-Scout car : Xe thám thính nhỏ, nặng 3 tấn do 2 nhân viên điều khiển. Kích thước 3.2m x 1.7m x 1.5m , vận tốc đến 88km/giờ, Trang bị đại liên tùy loại : 12.7 hay .30..

                                                Daimler – Scout car

  • Xe Ford Lynx II / Dingo

Có thể xem là loại xe cơ giới Mã Lai “đặc biệt’ nhất vì sau khi các xe này bị phế thải : một xe đã được Chi đoàn 1 / Trung đoàn 4 Thiết kỵ Hoa Kỳ thay máy (dùng máy của xe vận tải M-37B) và sau đó sử dụng trong nhiệm vụ bảo vệ-liên lạc khi hộ tống các công voa năm 1968 tại Dĩ An.

  Dingo (Anh chế tạo) và Lynx (Canada) rất giống nhau ở dạng bên ngoài ; máy xe chạy xăng khác : Dingo , 6 xy lanh và Lynx mạnh hơn 8 xy lanh. Xe Lynx do Canada chế tạo rộng hơn chừng 0.5 m và nặng hơn 1 tấn..

Xe Ford Lynx II

                                                  Xe Dingo

Xe Dingo tải thương 

  • Xe khác như Canadian GM C15TA Armored Truck..Quân cụ VNCH  cải biến  các xe vận tải nhẹ, gắn các phiến thép, và gắn súng máy để dùng thành xe thám thính và hộ tống công voa..

                                   Xe Canadian GM C15TA Armored Truck Canadian

  • An ninh thiết lộ (ANTL)

  Sau khi được tái thiết, đường xe lửa “Xuyên Việt” của VNCH hoạt động trở lại từ Đông Hà đến Sài Gòn vào năm 1958, nhưng sau đó CS đã mở những hoạt động phá hoại, giật mìn các đoàn xe..

(Ngày 1 tháng 8 năm 1959, Tổng Thống Diệm đã khánh thành tuyến xe lửa Saigon-Đông Hà ; trước đó xe lửa chỉ chạy thông suốt từ Saigon đến Nha Trang; các đoạn đường rầy bị Việt Minh phá họai, bóc đường nhất là các đoạn tại khu vực Bình Định, Quảng Ngãi hầu như phải tái thiết hoàn toàn. Việc sửa chữa và tu bổ được Cơ quan Viện trợ USOM Mỹ tài trợ)

   Tuy không trực thuộc Thiết giáp, nhưng Liên đoàn An ninh Thiết lộ đã sử dụng các toa bọc thép Wickhams tự hành, võ trang đại liên để hộ tống các đoàn xe lửa cùng sự yểm trợ của các phi cơ T-28 của KQVN

   {Tiền thân của Lực lượng ANTL lực lượng Lê dương (Trung đoàn 2 Lê dương Ngoại quốc = 2è REI) bảo vệ xe lửa được Quân đội Liên hiệp Pháp tại Đông Dương thành lập vào năm 1947. Đoàn xe hộ tống đặc biệt này được đặt tên là “Rafale” dùng các toa xe dân sự chế biến : gắn thêm các phiến thép hàn lại với nhau, mở các lỗ ‘châu mai’ (meurtrìères) để có thể bắn tử trong xe ra ; nóc toa xe có gắn các pháo tháp có các loại súng máy như canon 20, canon bofors..và cả súng cối.. Rafale gồm toa xe mở đầu có gắn ‘chổi’ để quét mìn, tiếp theo là đầu máy chính và sau đó là các xe, có thể đến 10 toa (không theo thứ tự nhất định, tùy công tác).. toa bọc thép có kèm theo toa ‘nhà bếp’, toa cấp cứu và toa chở thiết bị sửa chữa..

   Rafale được chuyển giao cho Quân đội Quốc Gia Việt Nam vào năm 1954 nhưng không được sử dụng, bị bỏ phế hoàn toàn}

    Giữ an ninh thiết lộ là nhiệm vụ được giao cho Bảo An nên không nhận được sự yểm trợ quân sự của Hoa Kỳ (Bảo An chỉ được chuyển thành Địa Phương quân vào 1964..) . Năm 1960 Tổng thống Diệm đã nhận được sự trợ giúp của Thủ tướng Tunku Abdul Rahman (Mã Lai) với 600 xe cơ giới (xem trên) và 60 toa xe Wickham armoured trolley car..

Xe Wickhams trang bị đại liên .30, trung liên FM; đèn chiếu . có khi gắn thẳng pháo tháp lấy từ các xe tuần tiễu thám thính nhỏ như Ferret. Mỗi xe có 2 tài xế, 2 phụ tài xế và 3-4 quân nhân đi kèm. Khi công tác, đi thành nhóm 3 xe khoảng cách khoảng 200m , tùy theo nhiệm vụ như tản thương, cứu viện các đoàn xe lửa bị phục kích và tuần tiễu đêm. Xe nặng khoảng 2 tấn và di chuyển trên đường rầy bề ngang 1m (3 ft. 3)

                                            Xe lửa bọc thép

                           

Xe  Wickhams

Xin đọc tiếp : Bài 5 : TG VNCH Giai đoạn phát triển : 1962-1966

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s