Nỗi buồn khôn nguôi! – Chu Kim Long

Last updated Apr 8, 2021

Quân nhân VNCH bị bắt đi “học tập cải tạo” tại một trại tập trung ở Vĩnh Long ngày 1-6-1975 (ảnh tư liệu)
Chu Kim Long

… Tổng thống Thiệu ra lệnh rút bỏ ba tỉnh cao nguyên Pleiku, Kontum và Phú Bổn với hy vọng bảo toàn được quân số còn lại của sư đoàn 23, của các liên đoàn biệt động quân, pháo binh, thiết giáp, công binh… để tái chiếm Ban Mê Thuột nhưng kế hoạch đã không thành như dự tính. Những ngày còn lại của tháng Ba, tháng Tư năm 1975 là những ngày căng thẳng, hiện rõ trên nét mặt của quân nhân các đơn vị.

Những ngày cuối cùng

Theo thông lệ, sáng ngày 28 tháng Tư tôi đến Bộ Tổng Tham Mưu để tháp tùng vị chỉ huy trưởng đến trường Cao Đẳng Quốc Phòng, rồi sau đó tôi tiếp tục lo những sự vụ đã được chỉ định. Khoảng 9 giờ sáng, sau khi tới trường, tôi rời văn phòng đi xuống phòng Tiếp Liệu thăm thiếu tá Thái – vị sĩ quan trưởng phòng lâu nay có khuôn mặt đăm chiêu. Dáng vẻ mất ngủ, ông Thái chìa tấm bản đồ có nét mực đỏ mà ông đã khoanh tròn từng ô, từng vùng rồi nói: “mất rồi”; ông thở dài, “nó tấn tới đây rồi”, “quân mình đây”…

Biết tôi còn cha mẹ già và em dại, ông nói: “Tôi cũng cũng đành bỏ hai cụ tôi và anh em lại, tùy chú. Nếu  không đi, nán lại, có gì tôi sẽ gọi cho chú.” Nói xong ông lên xe và tôi quay vào nhà. Tôi chờ đến chiều tối không thấy điện thoại reo, tôi nghĩ chắc ông đã lên được trực thăng và đi thoát rồi. Tôi chờ qua đêm với tiếng súng, giấc ngủ chập chờn.

Pháo mỗi lúc thêm dồn dập khắp khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, một vài trái pháo đã rơi vào đầu dãy cư xá và khu vườn đầu nhà Tướng Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Những tiếng rít của đạn pháo trên không trung khiến tôi không thể ra khỏi hầm trú ẩn. 10 giờ 20 điện thoại reo, thiếu úy Phát– người sĩ quan quản gia ở đâu đó ngoài Bộ Tổng Tham Mưu, nói như hụt hơi từ bên kia đầu dây điện thoại, sau khi nghe tôi lên tiếng: “Ông còn ở đó à? Chạy ra mau đi. Dương Văn Minh nó đầu hàng rồi, ông không nghe đài phát thanh sao? Chạy lẹ đi, bọn nó vào bắt ông bây giờ. Chạy lẹ đi.”

Những cụm khói bốc lên từ sân sau nhà bà con hàng xóm và gia đình đốt các hình ảnh và giấy tờ liên quan đến đời quân ngũ làm tôi ứa nước mắt và xót xa cho thân phận.

Ra đi

Theo lệnh, tôi đi trình diện và đem theo quần áo cho mười ngày. Nhưng tôi đã sống điêu đứng gần sáu năm bên các khu rừng già dọc biên giới Việt Miên – tỉnh Tây Ninh, trải qua năm trại tù với hạt bo-bo, khoai mì, măng rừng, phải ăn khi không có hai ba chén cơm gạo mối mục. Sống trong tù, tôi đã nhận ra sai lầm trong đời khi tôi quyết định ở lại, tôi đã không giúp được gì cho gia đình trong cảnh nước mất nhà tan mà lại trở thành một gánh nặng cho người thân yêu, nhất là cho mẹ tôi trong những năm tháng vượt đường núi rừng, lủi thủi ở bến xe, ngủ qua đêm ở nhà những gia đình không hề quen biết để đi tiếp tế thăm nuôi tôi.

Nhờ nước cờ tương kế tựu kế này mà cuộc vượt biên lần thứ ba của tôi vào cuối tháng Mười Hai năm 1980 ở cửa biển Rạch Giá đã thành công. Chúng tôi ra đi trên chiếc ghe bầu không hải đồ, hải bàn, chỉ có 120 lít dầu,120 lít nước, 50 ký gạo, 5 ký tép khô. Chiếc ghe được thả nổi sau bốn ngày và chỉ còn 10 lít xăng để chạy tránh cơn giông. Chiếc ghe như một nhà nguyện di động trên biển, vang vọng kinh nguyện suốt đêm. Những người đàn ông, mà đa số là người Công Giáo làm nghề đánh cá ở vùng biển Rạch Giá, ngồi dọc hai mạn thuyền, tay múc nước tát ra, miệng đọc kinh. Chiếc ghe trôi không định hướng, nhưng khi trời vừa sáng đã gặp được chiếc tàu buôn Philippines. Chúng tôi may mắn gặp được ông thuyền trưởng tốt bụng; ông cho chuyền sang ghe chúng tôi những túi bánh kẹo cho ba cháu bé, rồi gọi điện cho Hải quân Hoàng gia Thái kéo ghe chúng tôi vào quân cảng Satehip, sau đó Cao ủy LHQ đưa chúng tôi về trại tị nạn Leamsing Refugee Camp.

Lá thư của Chỉ Huy Trưởng

Thấy thiên hạ nhắn tin trên tạp chí Tiền Phong, tôi cũng bắt chước nhắn tin cho gia đình vị Chỉ Huy Trưởng của tôi. Sau sáu tháng ở Thái, tôi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn xếp vào diện CAT A1 đi thẳng đến Hoa Kỳ. Tôi đặt chân tới Hoa Kỳ ngày 15 tháng Sáu năm 1981 thì ngày 31 tháng Tám năm 1981 tôi nhận được thư của Chỉ Huy Trưởng của tôi gởi cho em tôi hỏi thăm tin tức về tôi: “đặng tìm cách giúp đỡ cho anh ấy”. Cảm động trước tấm chân tình của ông, tôi đã viết thơ cám ơn ông và gia đình.

Khi còn ở tù, tôi vẫn thầm nghĩ thật may mắn cho những người đã di tản kịp trước khi mất nước, họ không bị sỉ nhục, đày đọa và không gặp nhiều tai trời ách nước như những người tù và người vượt biên chúng tôi. Nhưng tôi đã lầm, sau khi nhận được lá thơ tám trang thứ hai của vị chỉ huy cũ viết từ Falls Church ngày 21-9-1981, trong đó ông kể tôi nghe những chông gai, đau xót của cảnh di tản. Và tôi nghiệm ra rằng: trong mọi hoàn cảnh, hạnh phúc và đau khổ luôn luôn thấm nhập và ẩn tàng vào nhau; vươn lên khỏi thăng trầm để sống cho đời và cho nhân quần mới thật khó và đáng quý.

Tháng Tư năm 2021 là 40 năm kể từ ngày đặt chân lên đất Hoa Kỳ tôi vẫn còn giữ lá thư đầy tình nhà nợ nước mà Chỉ Huy Trưởng đã viết cho tôi như một kỷ niệm, một dấu ấn trong đời, dù năm đầu tiên ở thuê nhà với anh em, mái garage bị dột đã làm lá thơ hơi nhạt nhòa.

Theo cha mẹ, tôi di cư vào miền Nam năm lên chín tuổi, bỏ nước ra đi với một bộ đồ trên người năm 35 tuổi, chưa một lần trở lại quê nhà. Thấm thoắt tôi đã ở Mỹ 40 năm, dài hơn thời gian tôi sống ở hai miền Nam Bắc. Tôi đã thực sự thành người viễn xứ. Mỗi tháng Tư về lòng vẫn khắc khoải, nhớ miên man, và nhiều lần tôi đã lấy lá thư của vị chỉ huy cũ gởi cho tôi khi tôi vừa đến Mỹ ra đọc, mà tưởng chừng sự việc như vừa mới xảy ra. Nhanh quá, đã 46 năm đất Mẹ quy về một mối thống nhất điêu linh, với chia ly và thống khổ.

Ảnh những dòng đầu lá thư

Falls Church ngày 21-9-81

Chú Huy,

Chiều nay đi làm về thấy thư Chú đặt sẵn trên bàn. Mừng vô hạn. Một trong những điều mong đợi hơn 6 năm biệt xứ nay đã đến . Thứ nhất là một trong những anh em thân cận nhất của mình thoát được giặc. Hai là thấy số đông anh em mình dù là trong hoàn cảnh khốn cùng vẫn không quên nhau, tìm đến nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Điều thứ 3 là, 6 năm nay tôi trông đợi một người nào có thể thuật lại cho tôi tường tận những gì đã xảy ra cho anh em bà con mình trong những ngày giờ khốn cùng nhất, mà lương tâm mình ray rứt không nguôi từ chiều 29/4/75 đến nay.

Chú còn nhớ sáng thứ hai 28/4/75 tôi còn đến trường, 32 học viên đại tá sáng đó không thiếu một ai, cả ban giảng huấn đầy đủ, thảo luận vấn đề di tản có nằm trong hoạch định chính phủ không, ai đi, ai ở, ai đi trước, vì sao Mỹ đến nhà từng người bạn VN rủ đi, v..v…

Chú Huy ơi, trong lúc ở nhà mình phỏng đoán một ngàn lẻ một giải pháp, thì từ ba tháng trước, một mặtdọn trại tạm cư, một mặt đưa lên TV phỉ báng nào là VN hèn nhát, tham nhũng v…v người ta làm dê tế thầnTôi còn nhớ những đêm tôi và chú đi bách bộ trong trại, kiểm điểm những dữ kiện, và cố đoán ngày sau ra sao

***

Biên giới, đất liền, hải đảo… đã mất dần – ôi! cái giá máu của “thống nhất đất nước”.

Khi đảng Cộng Sản VN đặt lý tưởng cộng sản không tưởng lên trên sinh mệnh dân tộc, thì bất cứ chính quyền VNCH nào cũng chỉ là con cờ thí để Hoa Kỳ, Trung Cộng, Liên Xô – nay là Nga, trao đổi quyền lợi. Làm sao nói hết được nỗi nhục cõng rắn cắn gà nhà và gà cùng một mẹ bôi mặt đá nhau?

Mỗi năm, tháng Tư về, đọc các bài viết, những lá thư đề cập tới cuộc chiến oan nghiệt khiến người dân Việt tản mác khắp nơi, tôi vẫn nghĩ không phải để “than mây khóc gió” nhưng là những mối dây ràng buộc giúp đàn con nước Việt khắng khít sống bên nhau, và sẽ cùng nhau đem tài đức cống hiến cho quê hương khi lịch sử dân tộc bước sang một trang sử mới.

Nguồn: https://saigonnhonews.com/noi-buon-khon-nguoi/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s