Giải mật hồ sơ CIA: Mọi can dự của Mỹ ở Việt Nam đều có ‘yếu tố’ Trung Cộng

Hà Tường Cát

Mặc dù không bao giờ được thừa nhận, mọi chính sách của Mỹ ở Việt Nam thực tế đều xuất phát từ vấn đề Trung Quốc.

Trong quá khứ, sự lo ngại về khả năng của Pháp là khởi đầu cho tiến trình Mỹ can dự trực tiếp. Quân lực Mỹ tham gia chiến tranh để rồi dứt khoát rời bỏ Việt Nam cũng đều có yếu tố Trung Quốc.

Qua những hồ sơ từ nửa thế kỷ trước vừa được giải mật, chúng ta có thể nhận thấy Trung Quốc chiếm một vai trò quan trọng trong những báo cáo và phúc trình đánh giá của văn phòng CIA tại Việt Nam.

https://i.ytimg.com/vi/JcQseZKA5QA/maxresdefault.jpg

Phúc trình đề ngày 7 tháng 5 năm 1950 đánh giá triển vọng hành động ở Việt Nam của Cộng Sản Trung Quốc khi ấy vừa mới chiếm toàn thể lục địa. Bản phúc trình lượng giá là trong tình trạng hiện hữu nếu xảy ra một cuộc xâm lăng của Trung Quốc, lực lượng phòng thủ Pháp tại Đông Dương chắc chắn sẽ nhanh chóng để mất toàn thể Việt Nam trừ Nam Bộ. Do đó viện trợ Mỹ chỉ thuần túy về vật chất không thể thay đổi tình thế.

Phúc trình cũng nhận định là “mặc dầu dân Việt không ưa Trung Quốc, nhưng không thể có phản ứng tức thời và sẽ phải cam chịu số phận bất kể vấn đề ý thức hệ.”

CIA soạn thảo phúc trình này theo yêu cầu của Bộ Ngoại Giao, với sự đóng góp của các cơ quan tình báo Bộ Ngoại Giao, Lục Quân, Hải Quân, Không Quân Mỹ, tuy nhiên cũng dự đoán là một cuộc xâm lăng như thế chưa xảy ra trong tương lai gần. Lực lượng quân sự của Hồ Chí Minh, với 92,500 bộ đội và 130,000 quân không chính quy, có đủ khả năng đánh bại quân Pháp nếu Trung Cộng trợ giúp đầy đủ vũ khí. Hơn 150,000 quân Pháp thiếu trang bị thích hợp và kém tinh thần chủ động sẽ không kháng cự nổi.

Một báo cáo khác của CIA đề ngày 12 tháng 10 năm 1950 nhận định tình thế nghiêm trọng vì ý đồ của Liên Xô-Trung Quốc trong toàn vùng Viễn Đông, bao gồm chiến tranh Triều Tiên – lúc đó Trung Cộng chưa đem quân vượt biên giới Mãn Châu vào Bắc Hàn, chiến tranh Đông Dương, sự đe dọa Đài Loan, loạn quân Cộng Sản ở Philippines, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện.

Mỹ đã gia tăng viện trợ quân sự cho quân đội Pháp trong giai đoạn các chiến dịch Nà Sản, Điện Biên Phủ cuối năm 1953, và khả năng đem quân Mỹ vào để giúp đánh bại quân Cộng Sản của Việt Minh là điều mà Trung Cộng phải tính toán. Theo đánh giá của CIA, Trung Cộng sẽ không trực tiếp can thiệp và đồi đầu ngay với quân Mỹ nếu xảy ra tình huống ấy.

https://i2.wp.com/www.c3iopscenter.com/currentops/wp-content/uploads/2015/05/7MayCitadelCoverRBMart1977.jpg

Một báo cáo của CIA cuối tháng 3, mười ngày sau khi Việt Minh mở trận tấn công Điện Biên Phủ, có nhiều đánh giá sai về tình hình quân sự. CIA tin là quân Pháp ở Điện Biên Phủ có thể cầm cự mặc dầu quân Việt Minh tấn công rất mạnh và có thêm những vũ khí do Trung Quốc cung cấp gồm trọng pháo 105 ly và cao xạ phòng không vì Pháp đã chuẩn bị trận đánh từ 4 tháng trước. CIA cũng cho là sau những trận đánh đầu tiên, thành công nhưng chịu tổn thất nặng, Việt Minh sẽ chưa tổng tấn công và bằng lòng với việc vây hãm lực lượng Pháp bất động ở Điện Biên Phủ trong khi chuyển hướng tấn công tới các mục tiêu trong miền đồng bằng.

Sau đó, CIA cũng cho là nếu thất trận ở Điện Biên Phủ, Pháp vẫn còn khả năng chiến đấu và không dự đoán được là Pháp sẽ bỏ rơi Đông Dương bằng việc ký Hiệp Định Paris. Có thể là những lượng giá như thế góp phần vào quyết định của Mỹ không thực hiện chiến dịch không quân Vulture oanh tạc Điện Biên Phủ, ngoài những lý do chính trị ngoại giao khác.

Sau Geneve, CIA cho là Pháp và chế độ Bảo Đại sẽ không thể nào xây dựng chính quyền đủ mạnh để đứng vững ở miền Nam và nếu có cuộc tổng tuyển cử tổ chức năm 1956 như dự tính, Cộng Sản Bắc Việt sẽ chiếm toàn thể Việt Nam. Thời kỳ những năm tiếp theo do đó là sự leo thang can dự của Mỹ vào Việt Nam từ trợ lực hình thành chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho đến viện trợ quân sự và cuối cùng là trực tiếp đem quân đội Mỹ tham chiến.

Suốt cuộc chiến Việt Nam, bên cạnh mỗi quyết định của chính phủ Mỹ, luôn luôn người ta đều thấy có những báo cáo, lượng giá, dự đoán về phản ứng và chủ trương của phía Trung Quốc. Nói cách khác, hai đối tượng chính là Bắc Việt và Trung Quốc không phải luôn luôn được Mỹ coi như là một thể thống nhất trong đường hướng đối phó.

Các báo cáo của CIA nhìn nhận là rất ít thông tin tình báo về Bắc Việt kể cả chính trị, kinh tế, quân sự nhưng dự đoán giới lãnh đạo tin tưởng vững chắc triển vọng chiếm được miền Nam, thống nhất đất nước. Tuy nhiên sự rạn nứt Liên Xô-Trung Cộng ngày càng sâu sắc là một khó khăn trở lực không dự kiến được.

https://i0.wp.com/www.theeastisred.com/images/posters/PIC%2000201wtmk.jpg

Theo cái nhìn của CIA, mặc dầu tình hình và những diễn tiến trong thực tế đưa Bắc Việt dần dần đến gần Trung Cộng, nhưng tâm lý lại thúc đẩy các nhà lãnh đạo muốn duy trì quan hệ bền vững với Liên Xô hơn chừng nào hoàn cảnh cho phép.

Tổng Bí Thư Trường Chinh thân Trung Cộng thất thế bị buộc phải từ nhiệm năm 1956. Tướng Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng quốc phòng, là người vẫn bất bình chống việc Trung Cộng can dự vào quân đội. Tân Tổng Bí Thư Lê Duẩn khôn khéo không để lộ quan điểm thân Liên Xô hay Trung Quốc và Hồ Chí Minh giữ được vai trò lãnh đạo tối cao bằng sự dung hòa những khác biệt trong đảng.

Vai trò chủ đạo của CIA trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cùng quan điểm của cơ quan tình báo này có ảnh hưởng đến các quyết định ở Washington như thế nào sẽ được đề cập trong những bài sau.

Hà Tường Cát

http://hung-viet.org/p22826a23128/giai-mat-ho-so-cia-moi-can-du-cua-my-o-viet-nam-deu-co-yeu-to-trung-quoc

Bốn đại đơn vị Quân Đoàn/Quân Khu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

VÙNG 1 CHIẾN THUẬT – QUÂN ĐOÀN 1

QD I VNCH.jpg

Vùng 1 chiến thuật – Quân đoàn 1 thành lập ngày 1/6/1957, bao gồm các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi. Sở chỉ huy Vùng 1 chiến thuật đóng tại Đà Nẵng. Các khu chiến thuật trực thuộc vùng 1 là khu chiến thuật 11 {sở chỉ huy đóng tại Huế} gồm các tiểu khu Quảng Trị và Thừa Thiên; Khu chiến thuật 12 {sở chỉ huy đóng tại Tam Kỳ} gồm các tiểu khu Quảng Ngãi, Quảng Tín và biệt khu Quảng Nam – Đà Nẵng.

Bo tu lenh QD1-QK1.jpg

Tư lệnh Vùng 1 chiến thuật – Quân đoàn 1 từ 1957 đến 1975:

* Trung tướng Trần Văn Đôn: 15/10/1957 đến 07/12/1962

* Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm: 07/12/1962 đến 21/8/1963

* Thiếu tướng Đỗ Cao Trí: 21/8/1963 đến 11/12/1963

* Trung tướng Nguyễn Khánh: 11/12/1963 đến 30/01/1964

* Thiếu tướng Tôn Thất Xứng: 30/01/1964 đến 14/11/1964

* Trung tướng Nguyễn Chánh Thi: 14/11/1964 đến 14/03/1966

* Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuẩn: 14/03/1964 đến 09/04/1966

* Trung tướng Tôn Thất Đính: 09/04/1966 đến 15/05/1966

* Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao: 15/05/1966 đến 20/05/1966

* Thiếu tướng Trần Thanh Phong: 20/05/1966 đến 30/05/1966

* Trung tướng Hoàng Xuân Lãm: 30/05/1966 đến 03/05/1972

* Trung tướng Ngô Quang Trưởng: 03/05/1972 đến 30/04/1975

VÙNG 2 CHIẾN THUẬT – QUÂN ĐOÀN 2

QD II VNCH.jpg

Vùng 2 chiến thuật – Quân đoàn 2 thành lập ngày 01/10/1957, hoạt động tác chiến ở toàn bộ vùng cao nguyên miền Trung và vùng duyên hải Nam Trung Bộ, bao gồm các tỉnh Kon Tum, Plây Cu, Phú Bổn, Bình Định, Phú Yên, Đắc Lắc, Khánh Hoà, Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Bình Thuận. Trong vùng 2 chiến thuật có vùng chiến thuật đặc biệt bán tự trị, gọi là Biệt khu 24 đóng tại thị xã Kon Tum do trung đoàn độc lập 24 đảm nhiệm, bao gồm toàn bộ khu biên giới giáp Lào {thành lập 07/1966 và giải thể 04/1970}. Sở chỉ huy Vùng 2 chiến thuật đóng tại Plây Cu bao gồm khu chiến thuật 22 {sở chỉ huy ở Quy Nhơn} có các tiểu khu Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn ; Khu chiến thuật 23 {sở chỉ huy đóng tại Buôn Ma Thuột} gồm các tiểu khu Đắc Lắc, Tuyên Đức, Quảng Đức, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Bình Thuận và Ninh Thuận.

 

Tư lệnh Vùng 2 chiến thuật – Quân đoàn 2 từ 1957 đến 1975:

* Thiếu tướng Trần Ngọc Tám: 01/10/1957 đến 13/08/1958

* Thiếu tướng Tôn Thất Đính: 13/08/1958 đến 20/12/1962

* Trung tướng Nguyễn Khánh: 20/12/1962 đến 12/12/1963

* Trung tướng Đỗ Cao Trí: 12/12/1963 đến 15/09/1964

* Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có: 15/09/1964 đến 25/06/1965

* Trung tướng Vĩnh Lộc: 25/06/1965 đến 28/01/1968

* Trung tướng Lữ Lan: 28/01/1968 đến 28/08/1970

* Trung tướng Ngô Dzu: 28/08/1970 đến 30/10/1974

* Thiếu tướng Phạm Văn Phú: 30/10/1974 đến 01/04/1975

VÙNG 3 CHIẾN THUẬT – QUÂN ĐOÀN 3

QD III VNCH.jpg

Vùng 3 chiến thuật – Quân đoàn 3 thành lập ngày 01/03/1959, chính thức hoạt động vào ngày 20/05/1960 bao gồm các tỉnh Phước Long, Bình Dương, Biên Hoà, Bình Long, Long Khánh, Phước Tuy, Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An. Sài Gòn Và Gia Định thành lập chi khu quân sự riêng. Vùng 3 chiến thuật có Khu chiến thuật 31 {sở chỉ huy đóng tại Tây Ninh} gồm các tiểu khu Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An; Khu chiến thuật 32 {sở chỉ huy tại Bình Dương} gồm các tiểu khu Bình Long, Phước Long, Bình Dương; Khu chiến thuật 33 {sở chỉ huy tại Biên Hoà} gồm các tiểu khu Long Khánh, Bình Tuy, Phước Tuy, Biên Hoà, Biệt khu Thủ Đô {SG-GĐ}

 

Tư lệnh vùng 3 chiến thuật – Quân đoàn 3 từ 1959 đến 1975:

* Trung tướng Thái Quang Hoàng: 01/03 đến 11/10/1959

* Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ: 11/10/1959 đến 05/05/1960

* Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm: 05/05/1960 đến 07/12/1962

* Thiếu tướng Tôn Thất Đính: 07/12/1962 đến 05/01/1964

* Trung tướng Trần Thiện Khiêm: 05/01/1964 đến 04/04/1964

* Trung tướng Trần Ngọc Tâm: 04/04 đến 12/10/1964

* Thiếu tướng Cao Văn Viên: 12/10/1964 đến 11/10/1965

* Thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị: 11/10/1965 đến 09/06/1966

* Thiếu tướng Lê Nguyên Khang: 09/06/1966 đến 05/08/1968

* Trung tướng Đỗ Cao Trí: 05/08/1968 đến 23/02/1971

* Trung tướng Nguyễn Văn Minh: 23/02/1971 đến 30/10/1974

* Trung tướng Dư Quốc Đống: 30/10/1974 đến 02/1975

* Trung tướng Nguyễn Văn Toàn: 02/1975 đến 24/04/1975

VÙNG 4 CHIẾN THUẬT – QUÂN ĐOÀN 4

QD IV VNCH.jpg

Vùng 4 chiến thuật – Quân đoàn 4 thành lập ngày 01/01/1963, hoạt động tác chiến trên toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long, chiếm gần 1/2 dân cư và đất canh tác Miền Nam Việt Nam, gồm các tỉnh Gò Công, Kiến Tường, Định Tường, Kiến Hoà, Kiến Phong, Sa Đéc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Châu Đốc, An Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, Chương Thiện, Bạc Liêu và An Xuyên. Vùng chiến thuật đặc biệt bán tự trị 44 nằm trong vùng 4 chiến thuật có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho khu vực phía Tây Bắc đồng bằng sông Cửu Long, dọc biên giới Việt Nam – Campuchia, hoạt đông đến năm 1973 thì giải thể. Vùng 4 chiến thuật có khu chiến thuật 41 {sở chỉ huy ở Mỹ Tho} gồm các tiểu khu Châu Đốc, An Giang, Sa Đéc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình; Khu chiến thuật 42 {sở chỉ huy ở Cần Thơ} gồm các tiểu khu Kiến Giang, Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, An Xuyên; Khu chiến thuật Tiền Giang {sở chỉ huy ở Định Tường} ggồm các tiểu khu Định Tường, Kiến Tường, Kiến Hoà Gò Công.

 

Tư lệnh vùng 4 chiến thuật – Quân đoàn 4 từ 1963 đến 1975:

* Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao: 01/01/1963 đến 04/11/1963

* Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có: 04/11/1963 đến 04/03/1964

* Trung tướng Dương Văn Đức: 04/03/1964 đến 15/09/1964

* Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu: 15/09/1964 đến 20/01/1965

* Trung tướng Đặng Văn Quang: 20/01/1965 đến 23/11/1966

* Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh: 23/11/1966 đến 29/02/1968

* Trung tướng Nguyễn Đức Thắng: 29/02/1968 đến 01/07/1968

* Trung tướng Nguyễn Viết Thanh: 01/07/1968 đến 01/05/1970

* Thiếu tướng Ngô Dzu: 01/05/1970 đến 21/08/1970

* Trung tướng Ngô Quang Trưởng: 21/08/1970 đến 04/05/1972

* Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi: 04/05/1972 đến 30/10/1974

* Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam: 30/10/1974 đến 30/04/1975

OVV

Quân Đội có lừa gạt không?

Cảm nghiệm của một đại tá tuyên úy hải quân Hoa Kỳ tại chiến trường Iraq, Linh mục Nguyễn Văn Tùng.

Sau thảm họa đã kể, tháng 12 trôi qua trong sự êm đềm tương đối vì thương binh, tử sĩ vẫn chuyển đến, và qua, bệnh viện trong căn cứ. Những thương binh nặng sẽ được chuyển ngay đến một bệnh viện lớn ở phía bắc của thủ đô Bagdad; nặng hơn nữa thì được chuyển về Landstuhl ở Đức hoặc nếu bị phỏng nặng thì sẽ được chuyển về một bệnh viện chuyên khoa ở Texas để chữa trị. Giáng Sinh qua đi với “cú bất ngờ ngoạn mục” là việc rửa tội Công giáo cho hoa hậu không vương miện Melody, chúng tôi thự sự hướng về tết Tây. Hội trường, cũng là nhà nguyện Hi Vọng được trang trí đẹp mắt cho cuộc lễ. Buổi tối mừng giao thừa nhiều quân nhân cũng như dân sự đã đến chung vui, nhưng dĩ nhiên là không có bia rượu, chỉ có dàn nhạc và khiêu vũ.

Cuộc vui đang dở chừng, thình lình một viên thượng sĩ vào và quát lên, “Mọi người về nhà của mình hết!” Không hiểu chuyện gì nhưng đa số đã rời hội trường tức khắc. Sau đó anh ta giải thích cho tôi rằng địch quân vừa pháo một quả tên lửa 122 ly vào căn cứ và chỉ nổ cách hội trường khoảng không đầy 100 thước. Âm thanh của dàn nhạc được mở khá lớn nên chúng tôi chẳng nghe thấy gì trong khi địch quân hiển nhiên đã biết trước cuộc vui này và ít nhất là phá quấy, nếu không muốn nói là họ có thể gây đại họa cho chúng tôi.

Tháng giêng, 2006 đến, đánh dấu tháng thứ 5 tôi phục vụ ở Iraq và đã bắt đầu nghĩ đến ngày trở lại Mỹ. Nhưng trước khi tôi bắt đầu đếm từng ngày thì ông đại tá tuyên úy trên bộ tư lệnh, cũng là cấp trên của tôi, đến hỏi nếu tôi muốn tình nguyện ở lại phục vụ thêm mấy tháng nữa không, vì lúc đó bệnh viện ở Landstuhl, Đức, đang cần một tuyên úy Công giáo. “Tốt quá” tôi nghĩ, “hai tháng nữa chắc địa phận vẫn chưa thể tìm cho mình một giáo xứ mới để phục vụ, tại sao không tình nguyện ở lại thêm. Vả lại nước Đức là nơi khá tốt, mình có thể đi thăm mấy người anh họ ở đó và bà bác ở Đan Mạch, ngoài ra còn có nhiều bạn bè quanh Châu Âu.” Thế là tôi ký giấy tình nguyện ở thêm và chờ đợi để về Châu Âu phục vụ.

Nhưng đời mấy ai học được chữ ngờ, nhất là trong quân đội “luôn phải chuẩn bị đón nhận cái bất ngờ.” Khoảng một tuần sau đó, tôi nhận được giấy báo từ “cấp cao,” đại khái viết, “Cám ơn tuyên úy đã tình nguyện phục vụ thêm một nhiệm kỳ nữa, tuy nhiên, chúng tôi cần tuyên úy ở Djibouti hơn là ở Landstuhl. Vậy xin tuyên úy chuẩn bị để nhận sự vụ lệnh mới.”

https://static.dvidshub.net/media/thumbs/photos/1411/1651581/1000w_q95.jpg

“Trời đất!” Tôi đau khổ kêu lên, “Làm sao có chuyện này được? Mà Djibouti là chỗ quái nào, cái tên đó chắc không phải ở Châu Âu rồi! Hay quân đội đã lừa gạt tôi?” Vị tuyên úy cấp trên ở bộ tư lệnh “chia buồn” và giải thích rằng không phải quân đội đã gạt tôi đâu mà đó là quyết định từ cấp trên, có lẽ từ chính Đề Đốc (tướng hai sao của Hải Quân) Tuyên Úy Trưởng hay còn được gọi là Giám Đốc Nha Tuyên Úy Hải Quân, muốn tôi đi Djibouti, và dĩ nhiên ý của ông này vượt trên tất cả các dàn xếp khác!

Djibouti là một tiểu quốc trong vùng Sừng của Châu Phi, phía Đông Bắc của lục địa này, ngay bên bở biển nhỏ hẹp của Hồng Hải (xem hình.) Vị trí của nước này mang tính chiến lược quan trọng đến độ khi trao trả độc lập cho dân địa phương, người Pháp vẫn phải để lại một đội quân để giữ an ninh cho cả vùng. Sau thảm họa của quân khủng bố 11/9/2001, chính phủ Mỹ đã xin nhà cầm quyền ở đây cho phép lập một căn cứ để yểm trợ nỗ lực chống khủng bố trong cuộc “Hành Quân Gìn Giữ Tự Do” bên Afghanistan.

“Hừm” Tôi tự an ủi, “Biết nói gì bây giờ! Thôi chấp nhận một cuộc mạo hiểm nữa vậy!” Nhưng sau này nghĩ lại tôi mới nhận ra đó là một đặc ân Chúa đã gửi đến cho tôi!

http://vietland.net/showthread.php?t=3200&page=483&s=2271342bf013747c46474dc488f9d668

Thư cuả Tiến Sĩ Bill Laurie Gửi Sử Gia Erik B.Villard

HoangsaParacels: Sử gia Bill Laurie, người bạn thân thiết cuả những người lính Việt và dân tộc Việt Nam.  Ông luôn luôn tranh đấu cho công bằng, lẽ phải cho một quân đội đã bị lãng quên.  Sau đây là những cảm nghĩ cuả ông gửi gắm đến sử gia Villard về Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà mà ông đã từng sát cánh chiến đấu bên họ, nhân dịp Tiến sĩ Villard đến quân Cam để phỏng vấn các chiến sĩ QLVNCH.
Bill Laurie

Dr. Villard,
      Bill Laurie here.   Viet Nam ’71-’72, ’73-’75.  Saw notice of  your project with Max Hastings to interview former RVNAF personnel.    I have sent notice of project to RVNAF friends with hopes they might be able to help.
     If I may, allow me to submit thoughts that came to mind.   I worked, on a daily basis, with RVN military people and civilians.   Had language school and had extensive contact with VN people, military & civilian.   During my time in VN became very aware of absolutely outstanding units and impeccably honest and capable military leasers.    Here are some examples:
     ARVN 7th Infantry Division, Mekong Delta, under command of BG Nguyen Khoa Nam.    During the time I was the the 7th was not simply “good,” they were outstanding, and reflected the skills and integrity of their commanding general Nguyen Khoa Nam.   Nam came up through airborne ranks.   He was revered by VN military and civilians all of whom recognized his militant honesty.
     The 7th was, until now perhaps, impugned by their lackluster performance at Ap Bac in January ’63, as described in Neil Sheehan’s BRIGHT SHINING LIE.    That certainly wasn’t the case when I was there.  Quite the opposite.    7th known not only for its tactical proficiency but also civil treatment of villagers.
    7th Division elements were reportedly involved with resistance movements after Saigon’s fall.   Gen. Nam, appointed to commanding general of MR IV, took his own life on 1 May ’75.   He is, to this day, revered by VN military veterans.
Hau Nghia Province Regional Forces:  The “RF” were province infantry operating in company and battalion formations.   Hau Nghia was an important province as it was the only barrier between Cambodian border and Saigon.   Thieu HAD to appoint capable province chiefs for this province.    In ’65 Hau Nghia was virtually under VC control.  Daytime road traffic was hazardous.   Members of U.S. advisory teams in two provinces were pulled out at nightfall.
     Sometime in perhaps ’69, Col. Nguyen Van Thanh was appointed Hau Nghia province chief.    He was a no-nonsense capable military leader AND known to be 100% honest with no involvement –none—in corruption.   He was respected and held in highest regard.
    Under his leadership the Hau Nghia RF became very proficient, so much so that they humiliated three NVA regiments during the ’72 offensive.   Had these NVA forces broken through they would have had a clear shot to Saigon, 25 miles away.   Col. Thanh was too good for his own good.   The VC specifically targeted him for assassination and he was killed in summer of ’72.    The story of the the Hau Nghia RF, Col. Thanh, are spelled out in Col. Stuart Herrington’s SILENCE WAS A WEAPON (republished as STALKING THE VIET CONG).
    I went to Hau Nghia in ’73 or ’74 with then Capt. Herrington.   He too was greatly admired by Hau Nghia RF who remembered him from his advisor days.    Several of them came up to Stu and implored him to go on an operation with them, to “kick VC/NVA ass.”    They were a proud, capable, motivted force, far, far different than the dismal picture painted by U.S. “news” (sic) people.
18th ARVN Division.   I’m sure you’ve heard of the 18th’s defiant stand at Xuan Loc in ’75.   The 18th’s CG, Gen. Le Minh Dao, spent 17 years in reeducation camps.    He now lives somewhere on the east coast.   He is an eloquent, intelligent, admirable man held in highest regard by his former troops, by U.S. who served with him.
81st Airborne Battalion commandos.    Very highly regarded outfit.   During attack on Phuoc Long-Song Be in Dec. ’74-Jan ’75 a company (maybe 2?) of 81s were airlifted in to defend vastly overwhelming NVA forces.     They, and other defenders, put of a valiant fight but were overwhelmed. The 81st is known for its combat proficiency.    Here is their website, with English language entries on the right.
   See if you can find anyone who served with Col. Ho Ngoc Can.  Col. Can was province chief of Chuong Thien, always among the worst provinces in RVN, bordering the U-Minh Forest. Col. Can would not surrender and fought on with some of his troops until they ran out of ammunition and were captured.    Col. Can was to be executed.   Reliable  reports were that he was stood up against a wall to be shot and he excoriated and reviled his captors, calling them puppets of a foreign ideology.   Rather than listen to his indictments they stuffed a lemon in his mouth, then they shot him.   To this day Col. Can is held in highest regard by VN military.
    These are only examples of capable RVNAF units.   Their existence does not negate or attempt to screen or conceal poorly-led units, corruption, etc.   Still, existence of latter does not justify exclusion of the former.
    I left Viet Nam in April of ’75, a few days before it was conquered by Hanoi’s legions.   To this day most Americans, and most of world audience for that matter, have no idea of how things evolved as they did.   Some express amazement that RVN fell so quickly yet the real question is how they continued fighting as they did from mid-’74 on.   Aid cutbacks were insidious and greatly restricted RVNAF operations.    Lack of spare parts forced moth-balling river patrol boats, trucks, tanks, helicopters, etc.    There are some supposed authors who aver RVNAF had sufficient munition, material, etc.    That is wrong, 100% so.   In addition 25% unemployment impoverished a military and citizenry already battered by 50% inflation.    The situation was horrible.   A Defense Attache Office (DAO) study in’74 indicated 80% -or similar order of magnitude- of RVNAF troops could not feed their families, even with commissary food.
    I can attest to this as I was in daily contact with RVNAF people, their families, etc.   IT was a horrid, wretched, disgusting situation.
     I hope you can get some people from the units cited above.    For all its’ shortcomings RVNAF was far, far better than most people realize, even today’s military personnel and others pretending to be historians.   RVNAF improved immensely from ’65 to ’75.   In ’65 VN light infantry were defeating ARVN regulars (most of the time…but not ALL the time).   By ’72 RVNAF province and district RF and PF were holding their own against NVA regulars, so the entire ballgame had changed.
    Many Americans are proud to have served with such outstanding human beings as Major. Nguyen Minh Chau:
To ignore and impugn such people, as far too many pseudo-historians have done, is inexcusable.
Thank you for undertaking this project and for attempting to set the record straight.    These people deserve their place in history.
                     Bill Laurie

Mai Kim Phụng: Những chuyện kể năm xưa

Huy hieu HD5DP. TVQ Collection

BCH/HĐ5DP đóng ở Mỹ Tho, có các chi đội hoạt động ở Vũng Tàu, Tân Châu, và Năm Căn. Sau một chuyến thanh tra thường niên của BTL/HQ và vì có sự “bất hòa” giữa BTL/HQ và BCH/HĐ5DP nên tất cả HĐ5DP bị điều động về Năm Căn hết. Được ít lâu thì tôi được chỉ định làm thuyền trưởng cho một chiếc khác. Năm Căn có tiếng là muỗi “khá nhiều” nên vào buổi tối khi chúng tôi ngồi phải để chân lên ghế cho dễ đập muỗi. Cũng may là khi mặt trời lên thì muỗi chúng nó rủ nhau đi ngủ nên thấy cũng tàm tạm sống được. Chúng tôi đụng trận cũng nhiều, có khi tịch thu cả AK47, dàn phóng B40 và đạn dược nhưng chưa bao giờ tôi nhận được huy chương khen thưởng cả!

PCH HQ3811 Một lần khác, có một chiếc PCF bị mắc cạn và sóng đánh giạt vào sát bờ. CHT đã huy động dân làng vào đó đốn cây để có chỗ đáp cho trực thăng câu mấy khẩu súng về. Tàu tôi được lệnh vào gần bờ để tìm cách kéo chiếc PCF đó ra, những chiếc khác còn lại nằm phía ngoài xa vì ở gần bờ nước rất cạn. Hai chiếc trực thăng của Mỹ có nhiệm vụ câu súng. Một chiếc đang câu khẩu 81 ly lên, thì bất ngờ sóng đánh tạt ngang vào khẩu 81 làm cho chiếc trực thăng này mất thăng bằng và bị lật rơi xuống, một chút xíu nữa thì trúng ngay chiếc xuồng cao su hay xa hơn một chút nữa là trúng vào chiếc tàu của tôi! Nếu tôi nhớ không lầm thì đàn anh K.18 Lê Bá Chư là người đã chui và bơi ra khỏi chiếc trực thăng đầu tiên. Anh pilot người Mỹ bị thương và được nhân viên trên chiếc xuồng cao su cứu vớt, đưa sang tàu tôi. Chúng tôi đã chở hắn vào sông Bồ Đề, tìm chỗ trống, ủi bãi để chiếc trực thăng còn lại chuyển thương. Sau đó chúng tôi đã trở lại chỗ cũ để tiếp tục tìm cách kéo chiếc PCF bị mắc cạn ra. Trong lúc đang loay hoay kéo neo đàng trước thì bất ngờ dây kéo phía đàng sau bị chùng và bị cuốn vào một chân vịt của tàu tôi. Tôi hoảng quá, ra lệnh cho nhân viên cắt dây và chạy ra ngoài xa, bỏ lại CHP vẫn còn ở trên bờ! Ông tức giận ra lệnh cho tôi quay lại đón ông, nhưng tôi không chịu, viện dẫn lý do là tàu tôi chỉ còn một “giò”, rất khó xoay trở, rất dễ bị mắc cạn, yêu cầu CHP ra lệnh cho chiếc khác. Tối hôm đó trong cuộc họp, ông đã “sỉ vả” tôi không tiếc lời, nào là tôi “thiếu khả năng, thiếu thiện chí, thiếu…đủ mọi thứ!” Lúc đó CHT mới nói: tôi không nghĩ là ông thiếu úy Phụng thiếu khả năng hay thiếu thiện chí đâu, ông ấy chỉ có thiếu kinh nghiệm khi kéo tàu.”

PCF HD5DP Ngày hôm sau thay vì ở nhà thì tôi lại để Thuyền phó lo việc cắt dây ở chân vịt tàu mình ra, còn tôi thì theo tàu của quan Phạm văn Cần ra chỗ cũ coi xem tại làm sao mà đã không kéo chiếc PCF ra được? Tàu chạy ra tới Ngã Ba Tam Giang, vào gần vừa thấy bờ thì…”ĐÙNG” một phát, đạn nổ trúng ngay tàu. Chúng tôi đã bị trúng ngay phát súng đầu tiên của VC. Tôi bị thương ngay lúc đó, người tôi bị sức công phá nẩy văng lên, hổng sàn rồi rớt xuống! Tôi bị tức ngực, ho ra máu! Một cục máu bầm bằng đốt ngón tay út từ trong cuống họng tôi “phọt” ra theo cơn ho. Tôi bị thương nơi cổ. Tầu về căn cứ, tôi được chuyển thương lên bệnh xá, và trực thăng đưa tôi về Bệnh Viện Quân Đội ở Cần Thơ ngay chiều hôm đó.
Tại bệnh viện trong lúc chờ trống phòng giải phẫu, tôi nằm tạm trên một chiếc giường, đến khoảng 11 giờ đêm thì tới phiên tôi được lên bàn giải phẫu. Nhân viên y tá mang chiếc giường có bánh xe để chuyển vận anh thương binh là tôi vào phòng phẫu thuật. Tôi ngồi “rột” dậy, và leo xuống đất để tính leo lên nằm trên chiếc giường họ mới mang tới. Nhân viên y tá vội hỏi là tôi có đi được hay không? Tôi đã trả lời là có, và họ bèn để tôi tự túc đi lên phòng mổ. Tới phòng mổ tôi lại phải ngồi chờ xem bác sĩ mổ người khác! Tích tắc, tích tắc… hơn nửa tiếng sau mà họ vẫn thấy tôi ngồi coi tỉnh queo, không thấy có vẻ đau đớn rên la, càu nhàu chi cả nên bảo “thôi ông về phòng nghỉ đi rồi ngày mai tính!” Nhân viên bệnh viện đưa tôi đi nhận giường nằm. Ngày hôm sau bác sĩ vào khám, có hỏi tôi là đã được mổ để gắp mảnh đạn ra chưa? Tôi nói chưa… và được đi chụp hình X-Ray. Kết quả của X-Ray là phổi “tốt”! Chụp X-Ray lại nơi cổ xem sao? Vẫn không thấy tăm hơi cái miểng đạn quái ác nó nằm ở nơi nào! Khi đó tôi mới nghĩ là cái miểng đạn đã tự động được vọt ra ngoài theo cục máu bầm rồi. Vẫn còn may mà tối hôm trước nếu tụi nó cứ đè tôi ra mà mổ để tìm mảnh đạn “lạc” thì chắc là bây giờ tôi á khẩu rồi! Nghỉ được vài tháng rồi tôi trở lại đơn vị cũ ở Năm Căn.

Phu hieu  LLDNTB211. TVQ Collection

Sau đó tôi được thuyên chuyển về Lực Lượng Thủy Bộ, phụ tá cho Thiếu tá Vinh, SQ Đại Diện HQ thuộc Sư Đoàn 21 BB đóng ở Chương Thiện. Nằm ở Chương Thiện, chúng tôi ăn đạn pháo kích của VC như cơm bữa, nhưng con người nó có số cả, Trời kêu ai thì người ấy dạ thôi. Được một ít lâu, tôi được về lại BTL/LLTB ở Bình Thủy.

https://i2.wp.com/www.navsource.org/archives/10/16/1016082114.jpg
Tôi được thuyên chuyển về LST HQ800 được vài tháng trước tháng 4 năm 1975. Chúng tôi có được một vài chuyến công tác là đúng nghĩa, còn lại thì chỉ toàn chỉ là di chuyển tái phối trí rồi lại tái phối trí về phía miền Nam, nay viết lại cũng thấy mà buồn!

http://www.denhihocap.com/ds2006/ncknx789.html

Chỉ có Trung Cộng mới có quyền xung đột tại Biển Đông!?

Paulus Lê Sơn (Danlambao)Một khi mà Trung Cộng có được trọn vẹn biển Đông thì cái mớ hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn ở Biển Đông mà ông Trần Đại Quang nói đến chỉ là thứ hòa bình hoang tưởng như thế giới đại đồng của chủ nghĩa cộng sản. Xung đột tại biển Đông tất cả đều thua, chỉ có Trung Cộng thắng, mà thực ra thì Việt Nam đã thua từ lâu lắm rồi. Thua vì bạc nhược, hèn, bất trung với tiền nhân…
“Nếu chúng ta cho phép bất ổn xảy ra, đặc biệt là trong trường hợp xung đột vũ trang, sẽ không có người thắng hay kẻ thua, mà tất cả đều sẽ thua”. Đó là câu nói của ông Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tại chương trình Đối thoại Singapore lần thứ 38 do Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) tổ chức.
Ngày 30.8.2016, theo AFP đưa tin, ông Trần Đại Quang cảnh báo rằng sẽ không có ai thắng cuộc nếu xảy ra xung đột vũ trang vì tranh chấp chủ quyền trên biển Đông. Ông Quang cho rằng biển Đông không chỉ đem lại nhiều lợi ích quan trọng cho các nước trong khu vực mà còn là tuyến đường thiết yếu đối với vận tải hàng hải và hàng không của thế giới.
Ông Quang nhất quán trong tư duy nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn ở Biển Đông.
Vậy hòa bình, ổn định, an toàn ở biển đông mà ông Quang coi trọng đó là gì? Trong khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với hầu hết diện tích Biển Đông bằng “đường lưỡi bò” tự vẽ ra, chồng lấn lên vùng biển các nước láng giềng. Nước này đã xây dựng đảo nhân tạo, đường băng có khả năng chứa máy bay quân sự cùng nhiều cơ sở khác trên các đá, bãi ngầm ở khu vực.
Các đảo nhân tạo Trung Quốc xây ở các bãi đá chiếm của Việt Nam tại Trường Sa nhằm mục đích áp đặt việc thực thi cái gọi là đường lưỡi bò để chiếm trọn Biển Đông.
Thực ra, việc Trung Quốc xây dựng và cải tạo công trình ở các bãi đá chiếm đóng của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa không phải là mới. Bắc Kinh đã bắt đầu tiến hành công việc này tại Đá Vành Khăn không lâu sau khi chiếm đóng nó vào năm 1995. Và khi Trung Quốc chiếm một số đảo và bãi đá ở Trường Sa những năm 1980, hầu hết những nơi đó là bãi đá và rạn san hô nằm dưới mực nước biển, chỉ nổi lên khi thủy triều xuống, cùng vài bãi đá nổi.
Với tư duy chưa đánh mà thua hay là nhu nhược đó mà cho đến bây giờ Hoàng Sa, Trường Sa gần như bị chúng chiếm trọn, đường lưỡi bò của chúng liếm sâu vào thềm lục địa của Việt Nam.
Với Trung Quốc thì thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử (COC) chỉ là chuyện hoang đường, một sự “hòa bình van nài” mà Hà Nội đeo đuổi bao năm nay. Chúng có thực hiện không? có ngăn chặn chúng xâm chiếm Việt Nam được tấc biển, mét vuông hải đảo nào không? Hãy nhìn vào phán quyết mới đây của Tòa Trọng Tài PCA phán quyết Trung Cộng thua về đường lưỡi bò, chúng có chấp nhận không, có thực hiện không?
Ông Quang nói giải quyết hòa bình hay là mỹ từ ru ngủ dân tộc Việt Nam để Trung Quốc dễ bề thâu tóm nốt những gì còn lại tại biển Đông?
Đối với cái “tầm nhìn hòa bình” của Quốc tế thì Trung Quốc lúng túng khi không thể ngăn cản Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ liên tục vi phạm ADIZ Trung Quốc áp đặt ở Biển Hoa Đông, và đó cũng là khả năng của lực lượng không quân Trung Quốc có căn cứ ở đất liền.
Trong bối cảnh Quốc tế đang cô lập Trung Quốc thì họ đang rất sợ và bực tức liên minh Mỹ, Úc, Nhật, Nam Hàn và Ấn Độ hợp lại đi tuần tra trên biển Đông nên tìm đủ mọi cách chống lại. Thời điểm này là rất tốt cho mọi quốc gia chống lại, phản đối việc bọn Trung Cộng xâm chiếm biển Đông.
Một khi mà Trung Cộng có được trọn vẹn biển Đông thì cái mớ hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn ở Biển Đông mà ông Trần Đại Quang nói đến chỉ là thứ hòa bình hoang tưởng như thế giới đại đồng của chủ nghĩa cộng sản.
Xung đột tại biển Đông tất cả đều thua, chỉ có Trung Cộng thắng, mà thực ra thì Việt Nam đã thua từ lâu lắm rồi. Thua vì bạc nhược, hèn, bất trung với tiền nhân.
Giặc trước hiên nhà, giặc xâm phạm cõi bờ, dân Việt yên làm sao được đây, nói chi đến hai tiếng hòa bình. Yêu chuộng hòa bình là nền tảng nhân văn của loài người nhưng trước kẻ thù hiện hữu là Trung Quốc làm sao có thể hòa bình được đây? Triết lý chẳng có sai muốn có hòa bình thì phải chuẩn bị cho chiến tranh.
Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng, Đống Đa vẫn mãi gọi tên các thế hệ cháu con, tổ quốc này là của chung chứ chẳng phải riêng của cộng sản. Cộng sản nhu nhược sợ hãi, hèn nhát trước Trung Cộng nhưng dân Việt sẽ hy sinh để bảo vệ tổ quốc thân yêu này.
30.08.2016

NGHĨ VỀ MỘT KẺ THÙ KIỆT LỰC

Bộ huy hiệu TD2ND.jpg

Phan Nhật Nam

Xe chạy, bỏ Sài Gòn về An Phú Đông lòng không chút hứng thú. Sài Gòn thành phố nóng bức bụi bặm không xứng đáng gợi nên một chỗ xuất quân. Xe lính đi vào trận đánh ngang qua đường phố, đám đông hững hờ xa lạ, chẳng ai lưu ý đến đoàn người gươm đao. Những cau mày bực dọc… Xe nhà binh bụi quá! Mới Mậu Thân đây, máu của chúng tôi đã đổ ra cho Thủ đô bạc bẽo này. Về phần tôi vì một chuyện lầm lẫn, phải đổi về đơn vị mới không thích hợp, tôi muốn trở về tiểu đoàn 7 Nhẩy dù, đơn vị đầu tiên, nhưng bây giờ phải ở với tiểu đoàn 2, lòng thật khó chịu. Không phải tôi chê gì tiểu đoàn này, đây là tiểu đoàn đánh giặc hách nhất của sư đoàn Dù, đánh ác liệt như tiểu đoàn 5 trong năm 1965, nhưng vì ở đây tôi không có bạn thân, yếu đuối là điểm nầy, luôn luôn phải có người thân sống cùng bên cạnh tôi mới linh hoạt được. Hơn nữa tiểu đoàn này đóng ở Sài Gòn, thành phố tôi ghê sợ đến đến xương cốt.Xe chạy trên đường lồi lõm đá, hai bên hàng dừa xanh, đến xã Thạnh Lộc vòng xuống để vào An Phú Đông.

https://c2.staticflickr.com/6/5625/20546242762_62dcd92894_c.jpg

Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng quân bên cạnh đường liên tỉnh lên Lái Thiêu, các đại đội chia nhau rải đều khu vực. Tuần lễ đầu qua, các đại đội tuần tiễu lục soát, sáng đi chiều về chỗ đóng quân, tối lập hội, hội nhậu rượu. Từ bao lâu nay tôi đã luyện được biệt tài về tổ chức ăn nhậu, dù thiếu thốn cực khổ đến thế nào, rảnh rỗi tôi vẫn tổ chức được những cuộc ăn nhậu nổi đình đám bằng tất cả khôn khéo và thông minh – Nghề của chàng!!! Trong đời về mục ăn uống, tôi nghĩ chỉ thua mỗi mình ông Tản Đà, vì ngay những ngày tang thương rách rưới ở Bồng Sơn, bữa tiệc cũng có đủ tiết canh vịt, vịt trời hầm đu đủ, cá chép hấp. Quảng Điền, với những màn heo sữa quay, sườn chó nướng được thực thi đến mức tối đa cùng chục lít rượu nếp cẩm. Trong thống khoái hơi men với sự nhốn nháo một đám bạn bè, người cởi trần ngồi dưới một hàng mướp xanh, tôi thỏa thuê như con cá trong giòng nước. Những lần say rượu dưới chân núi Ngũ Tây, hòn núi đằng trước ngọn Ngự Bình Huế, gió thổi tiếng thông reo… Cơn say của mùa đông ở quận Phong Điền, trèo lên mái nhà cởi áo đứng hát trong đêm, hát thật to nhưng nghe buồn buồn những câu… Đại bác ru đêm… Trong khi Hiến “Chó xù” ngồi gảy đàn buồn chảy ra nước, gió miền Trung cuối năm lạnh giá và đại bác từ quận bắn đi xa… A! Những cơn say tuyệt đỉnh trên dòng sông Hương, đêm trung thu mờ mịt mưa giăng, ánh đèn dưới cầu Gia Hội chênh vênh vàng vọt, nằm trong khoang thuyền bồng bềnh tưởng người như tan biến vào cơn mưa. Này cơn say thần tiên ở Darkto, đêm mù mù sương muối, căn phòng đầy những tiếng hát buồn phiền khê nặc vang lên như một tiếng kêu thê thảm. Những ngày ở An Phú Đông này tôi lập lại những cơn say. “Đời là cơn say dài” — Từ khi tôi phán ra câu này, chúng “anh hùng” lấy làm một sự cảm phục. An Phú Đông, chiều trong hàng dừa, hàng chục chai bia ướp lạnh được uống vào với tận cùng thoả thuê, cá lóc nướng, tôm luộc, những cọng ngò gai thơm phức, những lá mùi xanh mát. Tôi đẩy mạnh cơn say lên tột đỉnh thênh thang.

Những ngày bình yên đã hết. Tiểu đoàn nhận thêm khu vực trách nhiệm ở phía tây và bắc xã Thạnh Lộc, dọc theo rạch Bến Cát. Việt cộng một phần của chủ lực đã tấn công vào Sài Gòn trong dịp Mậu Thân cùng với lực lượng mới được tăng cường (xâm nhập từ vùng An Điền, Lái Thiêu tới) đang ẩn trốn ở vùng này, lực lượng này phải cố bám vùng ven đô để sau này dẫn đường cho những đơn vị khác tấn công vào dịp công kích đợt hai. Tiểu đoàn bắt đầu đụng địch. Sáng đi vào phía tây, cách con rạch khoảng năm trăm thước chạm ngay, súng nổ, lực lượng địch không đông nhưng vì không thể rút đi họ phải đóng chốt, trụ lại. Sau lưng là rạch Bến Cát, rạch Sơ Rô bên trái, dọc phải, một chiếc rạch lớn khác, Việt cộng như con thú bị kìm chân, phải đào hầm thật sâu, phòng thủ kiên cố và cố gắng tránh né chúng tôi tối đa. Nhưng các đại đội chúng tôi đã đến quá gần… Năm thước, bảy thước, họ bắt buộc phải nổ súng. Lính đứng lên xung phong, không được, sình ngập đến háng không thể rút chân để bước thêm một bước, người bị thương nằm cách gang tấc không thể rút về. Ta với địch cách nhau chiếc mương ba thước! Lùi ra xa dội bom. Bom đánh không trúng. Vào lại, anh Khiêm chết. Khiêm, người sĩ quan khóa 17, gã đàn anh tôi chịu nhất trong đám huynh trưởng, thông minh, phóng khoáng và khôi hài hóa tất cả mọi chuyện. Điểm này hợp với tôi quá, tưởng tượng một cảnh tranh luận nào đó, chỉ cần Khiêm với tôi cũng dư sức quạt ngã bất cứ một loại mồm loa mép giải nào.

Nhưng anh Khiêm đã chết, chết như thể một câu khôi hài của thường ngày, chết như một cơn đùa trong buổi nhậu. Tôi nghe qua máy truyền tin tiếng của Khiêm:

– Trình đích thân (Tiểu đoàn trưởng), tụi nó bắn tùm lum chưa lên được, đích thân để tôi “nhẩn nha” thì tôi mới tóm được… Súng tụi nó bằng sắt cơ mà!

Thế rồi im bặt, người hiệu thính viên run run báo cáo:

– Đại đội trưởng tôi bị… thương… Chết rồi!

Tôi đem xác Khiêm về sau, mắt anh đã nhắm… Những chiếc râu xanh lởm chởm ở cằm người chết linh động như của đời sống đang còn thở. Nhưng anh chết thật. Rút quân ra ngày mai vào lại.

Quân vượt qua chiếc rạch nhỏ, dàn hàng ngang lội thật nhanh, hết chiếc rạch đến bên kia là vườn cau, gắng lên! Ba người lính lên bờ trước đứng dậy. Một loạt đạn nỗ dòn… Hai bị thương. Tôi đang ở trong rạch lúng túng băn khoăn, cả đại đội nằm trong nước bùn im lặng, một cây nhỏ lung linh, người lính đeo máy nằm bên cạnh tôi trở mình, loạt đạn bay đến, những nhánh dừa nước rơi tung tóe. Bực mình quá tôi nổi liều, cầm trái M.72 đứng lên… Chiếc hoả tiễn công phá được phóng đi, một tràng đạn đáp lễ lại xé rách chiếc quần… Đ.m… Hầm tụi nó phá không nổi! Hỏi ý kiến Đại uý Liên, tiểu đoàn phó. Cho rút lui vòng tay phải đánh lên? Đồng ý. Tôi cho đại đội lui từng người một. Lẩm bẩm chửi thề.. Mẹ cha chúng mày còn một tí người cũng đòi dở chuyện. Vòng phía phải thật nhanh qua khu vườn mía, bao quanh đánh vào, Việt cộng bỏ chạy để lại ba xác chết nằm thẳng cẳng.

Đúng như tôi ước đoán, Việt cộng ở đây chỉ còn khoảng một đại đội, nhưng một đại đội rải rác khắp một vùng rộng lớn được phân tán thành những tổ nhỏ, có nhiệm vụ phải bám thật chặt các bờ kinh, bờ rạch.Họ có đủ súng trang bị cho cả tiểu đoàn, cối 82 ly, 60 ly, đại liên 12 ly 7 vũ khí của lực lượng lớn nhưng quân số chỉ còn lại khoảng một đại đội, phân tán chui rúc vào những chiếc hầm kín đáo ngập đầy nước, trên có nắp, ngụy trang thật kỹ, ba lỗ nhỏ nhìn ra ba phía, lối vào hầm phủ đầy lá cây, thân dừa nước. Việt cộng chỉ còn có thế, nhưng họ không được lùi, không được thoát, phải bám thân chặt chiếc rạch để chết, cái chết chắc chắn sẽ xẩy đến theo thời gian! Tại sao? Có gì đâu… Họ kiệt lực, trăm phần trăm kiệt lực. Trung đoàn 101 đánh vào tiểu đoàn 5 Nhảy dù ở Tân Thới Hiệp, Hóc Môn suốt ba ngày không nuốt trôi được tiểu đoàn này, nhả ra và chạy về đây. Thành phần tấn công Gò Vấp, Xóm Mới hôm Tết, thất trận cũng chạy về đây… Tan nát, thiếu thốn, suy sụp nhưng họ biết rút về đâu nữa? Đường giao liên phải vượt sông Sài Gòn, một mục tiêu lộ liễu dưới phi cơ và tàu hải quân quan sát tuần tiễu thường trực. Cán bộ nằm vùng, dân chúng có cảm tình đã bị lùa ra khỏi vùng. Họ bơ vơ, lang thang, lếch thếch như một đám ma đói khát tuyệt vọng. Nhưng lệnh trên đã bắt buộc:phải bám sát địch, bảo toàn lực lượng để chuẩn bị tổng công kích đợt II! Tham vọng và nhu cầu chính trị đã quên mất con người trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Súng cối, đại liên được moi lên từ vườn dừa, đám ruộng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng, đại đội trưởng súng nặng bị bắt, hồi chánh hay bị tử thương. Việt cộng bị chúng tôi ép vào một thế đường cùng.

Nhưng tháng Năm, Việt cộng cũng mở tổng công kích đợt hai, và kết quả như đã xẩy ra. Các anh bên kia, tôi muốn nói thật với hết cả chân tình trong lòng: Các anh đã hết sức. Sức mạnh huyền hoặc củaa Điện Biên thuở xưa không còn giá trị lúc này nữa. Các anh ôm mộng giải phóng, nhưng giải phóng cho ai? Các anh lao đầu vào cái chết với mục đích gì? Để chiến thắng? Ôi cái aỏ tưởng đó, giờ này các anh vẫn coi là sự thật sao? Các anh lấy gì để chiến thắng? Vũ khí, nhân mạng bị thiệt hại đến độ vô chừng. Nhưng các anh vẫn chiến đấu, điều đó đã xảy ra và đang xảy ra thật đau xót. Vì những người chỉ huy củaa các anh, những Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh vẫn nghĩ rằng các anh đang thắng, những người đó muốn chứng tỏ mình là một thứ ngoại hạng, tay kiệt liệt, tinh hoa của dân tộc, kết tụ của thông minh và thiên bẩm, loại “thiên tài chỉ huy” của cả dòng dân tộc un đúc. Ôi chính vì những người chỉ huy “thần thánh” đó tin rằng có chiến thắng và các anh đã phải chiến đấu. Các anh còn phải chiến đấu để cho đám phù thủy chính trị đặt những lá bài tháu cáy lên canh bạc hòa đàm – Những món tiền giấy trả bằng xương và máu của các anh. Lá bài tráo trở bảo chứng bởi quả tim hồng mơ ngày dân tộc được giải phóng. Các anh giải phóng hay làm điêu linh tổ quốc và hủy hoại cuộc sống? Các anh thật đáng tội nghiệp.

Sau này tôi còn chứng kiến thêm nhiều lần các anh “thừa thắng xông lên”, những cao điểm, những chiến dịch Đông – Xuân, Hè – Thu mà thực ra chỉ là một loại lịch trình đã soạn thảo do một thứ chỉ huy u tối mê muội ảo tưởng của quá khứ và sách lược chính trị bỏ quên con người. Làm sao để có thể gọi là cuộc tấn công lớn của một cao điểm khi một đại đội của các anh chỉ còn trên dưới bốn chục người, mặc dù đủ vũ khí, bốn mươi người của các anh phải bố trí trên một trận tuyến dài hơn cây số, ba người một chiếc hầm, chui rúc ẩn trốn, gạo rang nước lã, bị thương cắn răng xuống chịu đựng, tự buộc vết thương bằng miếng vải rách và dòng máu tươi chảy ra, mặt xanh tái nhợt, nhạt sức sống từ từ tắt lịm khi bàn tay mở dần, mở dần phơi dưới ánh mặt trời những đường chỉ tay bất hạnh.

Các anh chiến thắng ở đâu? Khi xác chết của các anh nằm lêu bêu vất vửơng suốt một vùng từ An Phú Đông lên đến Thạnh Lộc qua Tân Thới Hiệp, những xác chết trần truồng, co quắp, tênh hênh, chương sình thối tha đầy dòi bọ bên gốc dừa, sau liếp cửa, trong đụn rơm… Các anh chết ở đâu nhiều quá, lũ chó hoang tha hồ thỏa thuê với những phần đùi còn tím máu, chiếc đầu bị cấu xé dành giựt, từng tảng tóc xanh kéo lê lết trên khắp một vùng. Các anh đã chết trên một địa danh thật mỉa mai: An Phú Đông… An phú Đông nơi rừng dừa xanh vang tiếng súng… An Phú Đông nơi sử Việt viết trên máu hồng. Địa danh này các anh đã một lần thần thánh hóa, địa danh các anh đã xếp vào huyền thoại như sông Lô, Điện Biên. Các anh ở bên kia ơi, dòng đời đã thay đổi, những chiến thắng người Pháp thuở xưa đâu phải là yếu tố làm nên thắng lợi hôm nay. Bây giờ các anh đối diện với chúng tôi, một lũ “ngụy” nô lệ đánh giặc mướn, tay sai ngoại bang… A! Nhưng các anh có tự do nào? Đầu óc đầy thù hận cuồng tín được dẫn dắt vào một mục tiêu không tưởng, vô vọng. Mục tiêu được thiết kế, hoạch định từ trí não những lãnh tụ bị bao cứng bởi hào quang quá khứ, những người có lòng tin tưởng què quặt rằng, chính mình, một loại siêu nhân mà lịch sử dân tộc cần đến… Chúng tôi chiến đấu trong bi đát nhưng vẫn còn tự do nơi trái tim, trong khi các anh chỉ là một lũ người máy mê muội sâu vực đen của ảo tưởng. Tệ hơn nữa – Một lũ người máy bất lực.

Tháng 3/1968. An Phú Đông – Gia Định.

 

Những đêm dài… Iraq

Cảm nghiệm của một đại tá tuyên úy hải quân Hoa Kỳ tại chiến trường Iraq, Linh mục Nguyễn Văn Tùng.

Cuộc sống ở trại Fallujah, đối với những người ở đó ít nhất vài tháng đã trở thành nề nếp. Hãy lấy điển hình một ngày của người làm việc ca ngày. Anh/ Cô ta sẽ phải thức hơi sớm để dùng điểm tâm lúc sáu giờ rưỡi sáng và nửa tiếng sau thì bắt đầu công việc. Vào khoảng mười một giờ rưỡi họ dùng bữa trưa trong khỏang một tiếng và sau đó Anh/Cô ta sẽ tiếp tục công việc cho tới năm giờ rưỡi chiều hay trễ hơn một chút trước bữa tối. Điều đó có thể kết luận một ca làm việc từ 10 đến 12 tiếng.

https://i2.wp.com/media.defense.gov/2005/Aug/19/8271/-1/-1/0/050819-M-0000A-004.jpg

Có lẽ vì một vài thỏa thuận không bằng văn bản hay lời nói hoặc nó phát sinh bởi một truyền thống lâu dài. Tất cả những nơi công cộng như DFACs (phòng ăn tập thể), NEX (tiệm tạp hóa của Hải Quân), tiệm hớt tóc… hay ngay cả nhà nguyện của chúng tôi trong trại, tất cả đều được sắp xếp, qua nỗ lực riêng của những người phụ trách, họ trang trí mọi nơi mục đích để binh lính cảm nhận càng giống ở nhà càng tốt. Đặc biệt vào những ngày lễ truyền thống của dân Mỹ như : Lễ lao động, Đêm hội Halloween, Lễ Tạ ơn, Giáng sinh, Năm mới, Phục sinh v.v…
Ngay cả việc đón nhận thương binh và liệt sĩ ở bệnh viện dã chiến cũng đã trở nên “bình thường.” Bệnh viện trung bình sẽ nhận những người bị thương và đã hi sinh hai lần trong tuần. Trong nhiệm kỳ của tôi triển khai tới Iraq, các lực lượng vũ trang của Mỹ mất khoảng 75 binh sĩ trong một tháng và Thủy Quân Lục Chiến đã phải chia sẻ một phần lớn tổn thất vì tỉnh Anbar, khu vực thuộc trách nhiệm của họ, đã được coi là nơi căng thẳng và là tỉnh lớn nhất trong tòan Iraq. Như đã đề cập trước đó, bệnh viện dã chiến có một Tuyên Úy cùng trực với họ do đó ngoại trừ có một nạn nhân công giáo họ sẽ không thông báo cho tôi.

Trong khi đó, binh lính và các nhân viên khác liên tục được thay đổi, những người mới sẽ tuần tự thay thế những người mãn nhiệm kỳ ở đó và nỗ lực của cuộc chiến này luôn được tiếp tục duy trì trong bất cứ khoảng thời gian đòi hỏi nào. Trách nhiệm duy trì an ninh tại tỉnh Anbar thuộc về hai MEFs (Lực lượng viễn chinh Thủy Quân Lục Chiến) I và II có căn cứ lớn đáng ngưỡng mộ ở trại Pendleton, California và trại Lejeune, Bắc Carolina. Mỗi MEF sẽ phụ trách tỉnh này trong vòng một năm, như vậy những quân nhân và cả dân sự làm việc trong các văn phòng thuộc bậc cao sẽ phải phục vụ trọn năm. Điều đó bao gồm cả nhiệm vụ của tôi, Tuyên Úy trưởng của trại Fallujah, vì lý do người tiền nhiệm của tôi phải rời Iraq sớm nên tôi chỉ đến Iraq cho phần còn lại của việc triển khai MEF II.

Những binh sĩ thuộc các văn phòng hay đơn vị thấp hơn, như ở cấp tiểu đoàn, chỉ phục vụ 6 tháng một lần. Khoảng vài tuần trước khi tiểu đoàn A đã hoàn thành nhiệm vụ ở Iraq và trở về căn cứ của họ, một thảm họa đã giáng xuống những binh sĩ của tiểu đoàn. Một ngày không ai mong đợi, nhưng tôi dường như có linh cảm trước khi điều đó xảy ra!

Chiều mùng 1 tháng 12 năm 2005, khi tôi đang dâng thánh lễ trong nhà nguyện nhỏ dành riêng cho Công Giáo, cạnh hội trường của căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở Fallujah-Iraq, thì thấy cô Sarah, trợ lý tuyên úy, thấp thoáng ngoài cửa. Lát sau, cô ta lại xuất hiện lần nữa ở giữa cửa, biết có việc quan trọng tôi nhìn cô và nhẹ gật đầu như cho biết đã hiểu cô muốn gì, nhưng tôi vẫn tiếp tục dâng thánh lễ cho đến xong. Anh vừa bước ra khỏi cửa thì cô ta nói ngay:

– “Tuyên Úy, bên quân y viện vừa cho biết, có nhiều thương vong (mass casualty)”

Thay áo thật nhanh, vơ vội túi đựng sách kinh và dầu thánh, tôi cùng Sarah hối hả chạy qua quân y viện trong căn cứ.

Nếu ai đã từng xem qua bộ phim truyền hình M.A.S.H. (Mobile Army Surgical Hospital: Y Viện phẫu thuật lưu động của Lục Quân) trên truyền hình Mỹ của những thập niên 70 và đầu 80, thì có thể hình dung được quân y viện này, mặc dù không hoàn toàn kết hợp bằng những lều vải nhưng các tòa nhà xây sơ sài trong doanh trại của Saddam Hussein bỏ lại, cũng không khá hơn gì. Có các máy lạnh đặt ở cửa sổ nhưng toàn là… đồ cổ. Ngày nay quân đội Mỹ đã có những loại bệnh viện dã chiến bằng các lều vải, bịt kín, trông như những bong bóng, có lối đi thông với nhau bên trong và có hệ thống máy lạnh, nhưng căn cứ Fallujah đã không dùng loại đó.

Các TQLC bị thương vong chưa về tới, tám tuyên úy khác và cũng bằng đó phụ tá đã từ các đơn vị nhỏ trong căn cứ đã tề tựu trước cửa y viện. Những bác sĩ và y tá đã tự chia ra thành các toán, nên tuyên úy và phụ tá cũng chia nhau đứng vào với họ. Thường thì họ sẽ phân loại thương binh: những trường hợp quá nặng không còn hy vọng, những trường hợp bi thương nặng và bị thương nhẹ, để từ đó phân chia nhiệm vụ cứu thương cho họ. Dĩ nhiên, tôi sẽ “xức dầu” cho tất cả những thương binh, dù họ là Công Giáo hay không, vì lúc đó không ai còn có thời gian để tìm hiểu hay “xét” thẻ đính bài (dog tag) của họ nữa; thẻ đó có khắc tên, số quân, binh chủng, loại máu và tôn giáo của chủ nó. Hiện tại, các TQLC không còn đeo tấm thẻ kim loại này trên cổ, nhưng họ luồn nó vào giữa dây giày, chỗ “an toàn” nhất cho tấm thẻ trên thân xác người chiến binh.

Trong khi chờ đợi, tôi đã tìm hiểu và được biết đơn vị bị nạn là một trung đội thuộc tiểu đoàn A, vừa chuyển vùng đảm nhiệm trước đó không lâu. Cũng như những tiểu đoàn tác chiến B và C, tôi đã đến thăm và dâng lễ tại các đơn vị tiền đồn (cấp đại đội, hình số 1) của tiểu đoàn A nhiều lần, cũng như dâng lễ tại căn cứ của ban chỉ huy tiểu đoàn hàng tuần. Như đã nói, đáng ra, tôi không phải làm việc này vì tôi là tuyên úy trưởng của căn cứ Fallujah, điều hợp 7 tuyên úy khác. Trại Fallujah cũng là bản doanh của bộ chỉ huy của vị tướng hai sao, tư lệnh lực lượng TQLC ở tỉnh Anbar, Iraq, với khoảng 30 ngàn quân trên toàn tỉnh, một vùng lớn và “dữ dằn” nhất nước.

Chỉ trong thành phố Fallujah và vùng phụ cận cũng đã có đến 5 ngàn lính nhưng bất hạnh thay chỉ có một mình tôi là tuyên úy Công Giáo. Các tiểu đoàn trưởng của những tiểu đoàn khinh binh tác chiến, dù cùng cấp bậc với tôi (Trung Tá), nhưng họ đã phải nài xin tôi ra thăm lính của họ, nhất là những TQLC theo Công Giáo. Dĩ nhiên là tôi không thể từ chối lời yêu cầu khẩn thiết này, tôi đã xin phép cấp trên và được tự do đi lại thăm các đơn vị tiền đồn (Forward Operational Bases, FOBs) trong khu vực, bất cứ lúc nào.

Trước đây, có hai tiểu đoàn tác chiến, rải quân để giữ an ninh trong thành phố, thêm một tiểu đoàn khác đảm trách vùng ngoại ô. Nhưng khoảng hơn tháng trước đó, tiểu đoàn A đã được lệnh chuyển ra ngoại thành, nhường vùng hành quân của họ cho một đơn vị bộ binh của chính phủ Iraq mới được thành lập. Tôi đã tỏ ý rất lo ngại với Đại úy, Tuyên úy (Tin Lành) của tiểu đoàn này: “Ra ngoại ô, ‘sân nhà của địch’ lại luôn phải di chuyển hành quân, sẽ lành ít, dữ nhiều.” Cách đó vài tháng, cũng ở vùng ngoại ô, một Đại úy đại đội trưởng của tiểu đoàn C và viên hạ sĩ quan quân y của ông ta đã tử trận vì xe Humvee của họ bị trúng mìn.

Chiến trường Iraq là như vậy, người ta sẽ yên ổn nếu chỉ ở trong vòng rào của căn cứ, tuy thỉnh thoảng cũng có pháo kích nhưng thường chẳng gây thiệt hại gì. Tuy nhiên, nếu phải ra ngoài thì cái chết có thể xảy đến bất cứ lúc nào: bằng xe bom, bằng mìn tự chế chôn hay đặt ở vệ đường gọi là I.E.D. (Improvised Explosive Device), bom tự sát cá nhân, hay bị bắn sẻ (tỉa.) Hành quân ở ngoại ô, “vùng đất đầy địch” lại toàn là đất sa mạc, rất dễ chôn mìn… thảm họa luôn rình rập đó đã xảy đến với trung đội này, chiều nay.

https://usmcinfantrybrothers.files.wordpress.com/2016/03/rtriemv.jpg?w=676&h=461

Đoàn xe nhà binh tràn vào sân y viện cuộn theo gió bụi như một cơn lốc. Các thương binh được cấp tốc đưa xuống sân. Bác sĩ phân loại, y tá tiêm thuốc, tuyên úy xức dầu, cầu nguyện… người nào việc nấy khá trật tự. Sau đó, họ chuyển các thương binh vào bên trong y viện ngay. Tổng kết: 10 chết, 11 bị thương. Tôi nói thầm: “Trung đội này thực sự đã bị… loại khỏi vòng chiến.” Ngoài sân bỗng nhiên chỉ còn lại các tuyên úy, đơn vị “hậu sự” (Mortuary), các bao đựng xác chết và những TQLC còn sống sót mà trên nét mặt của họ vẫn chưa hết vẻ kinh hoàng. Đơn vị hậu sự, gồm các nhân viên quân y của Hải Quân, đưa các bao vào trong khu nhà của họ để mở ra, phân loại lần nữa, xếp cho đúng những phần thân thể tơi tả đó của người nào vào người ấy…

Một sự yên lặng đến rợn người trở về trên sân y viện, tôi đến bên một người lính, biết chắc anh ta chưa quá 20, nhưng lúc này trông anh như đã già hơn cả chục tuổi. Đặt tay trên vai anh ta, quay lại, có lẽ nhìn thấy cây thánh giá trên cổ áo trái của tôi, anh ta đã thực sự để cho lòng mình thổn thức. Những người lính TQLC, từ thuở còn ở quân trường đã được huấn luyện phải cứng rắn, chịu đựng, họ luôn luôn phải nghe từ miệng cấp trên những câu như “suck it up” hay “tough it out” (thật khó dịch qua tiếng Việt với trọn vẹn ý nghĩa của nó, có lẽ ba chữ “phải phấn đấu” gần với ý nghĩa này nhất.)

Cả buổi chiều nay, họ đã cố dũng đảm, giữ bình tĩnh tuần tự góp nhặt và đưa các bạn bị nạn về đến quân y viện, cho đến lúc này… Tuyên úy không phải là chiến binh cầm súng, nhưng là một vị lãnh đạo tinh thần, một biểu tượng thiêng liêng quan trọng nhất trong cuộc đời chinh chiến. Hơn nữa tuyên úy còn là hình ảnh của người cha trong gia đình mà bất cứ quân nhân nào, từ lính đến sĩ quan trong đơn vị, đều có thể gặp để thổ lộ những điều thầm kín nhất của họ. Các tuyên úy khác cũng lần lượt đến an ủi những người lính còn lại, thì thầm nói chuyện hay cầu nguyện với họ.

Bỗng có tiếng la lớn:

– “Chúng tôi cần máu, nhóm A positive (A+)”

Thấy đúng nhóm máu của mình, không đợi một giây, tôi vội vã vào phòng hiến máu. Y tá quân y (Corpsman), thực ra không nên gọi họ là y tá, vì y tá ở Mỹ (Registered Nurse, RN) phải học 4 năm đại học và sở hữu một kiến thức y khoa khá cao. Trong khi những corpsmen, hạ sĩ quan trợ y… chỉ được học mấy tháng về ngành y rồi được biệt phái qua TQLC, bị đẩy ra chiến trường để cùng sống, cùng chết và để “cứu” các binh lính chẳng may trúng thương. Tuy vậy, lính TQLC vẫn gọi họ bằng một cái tên đầy vẻ yêu mến và quý trọng: “Doc” (viết tắt từ chữ doctor, bác sĩ), nhưng các sĩ quan đã kín đáo gọi họ là “baby-doc” (bác sĩ con) để phân biệt với các bác sĩ chính hiệu.

Một “doc”, mặt còn non choẹt, lấy máu từ tay trái tôi, nhìn cây kim to lớn xuyên vào gân tay và dòng máu tươi phun vào bao ni lông, chứa được khoảng gần nửa lít, đã đem lại một cảm giác không vui vẻ tí nào. Bất hạnh thay, khi máu đã chảy ra được khoảng ¼ bịch thì ngưng lại! Chỉ thấy anh ta “phán” một câu hết sức tự nhiên:

– “Tuyên úy, tôi phải ‘châm’ (stick) ông lần nữa!”

Thế là anh ta xoay qua tay bên kia, và lần này máu ra thêm… tròn một bịch! Tôi đã cho máu nhiều hơn tất cả các quân nhân khác trong phòng.

Sau đó, những tuyên úy không còn trách nhiệm lần lượt ra về, kể cả cô trợ lý của tôi. Bây giờ, chỉ còn vị tuyên úy của y viện, tuyên úy của tiểu đoàn A và tôi. Chúng tôi phải ngồi chờ cho đến khi nhóm hậu sự hoàn tất công việc của họ và đưa các bao đựng xác qua phòng đông lạnh, to như khoang chở hàng của xe vận tải 18 bánh. Những bao này rất dày và có đến hai lớp.

Image result for USMC DEAD IN IRAQ

Ngay trong đêm nay, những xác đó sẽ được đưa về nước Đức (Germany), tẩm liệm cách trang trọng trong các áo quan bằng kim loại, trước khi được chuyển về với gia đình về với quê hương của họ trên đất Mỹ. Khi nào được thông báo, chúng tôi sẽ qua bên phòng đông lạnh để làm phép xác cho họ.

Trời đã dần về khuya, nhưng chúng tôi vẫn đợi chờ… Bỗng dưng cảm thấy khó chịu, đầu nhẹ tênh, tôi vội vỗ vai một “doc” đang ngồi bên cạnh trên một băng gỗ tồi tàn:

– “Doc, tôi cảm thấy khó chịu quá!”

– “Sir, (Ngài) muốn nằm nghỉ một chút không?” Anh ta hỏi.

– “Muốn.” Tôi đáp gọn và gượng đứng dậy, nhưng tôi đã không còn biết gì nữa… hoàn toàn bất tỉnh.

Khi vừa tỉnh dậy, tôi đã nhận ra mình đang nằm trên giường “cấp cứu” và áo ngoài đã được cởi ra, các bác sĩ và nữ y tá đang chuẩn bệnh cho tôi. Họ liên tục nêu những câu hỏi như tên, ngày năm sinh, hôn nay thứ mấy… Biết ngay là họ tưởng tôi bị đột quỵ hay tai biến gì đó nên tôi nói ngay:

– “Có lẽ vì lúc tối tôi đã cho máu.”

Ai đó thở phào và nói:

– “Thảo nào!”

Họ làm thêm một vài điều cần thiết và khuyên tôi nằm nghỉ thêm chút nữa trước khi ngồi dậy.
Nằm trên giường bệnh, tôi suy nghĩ miên man…cái chết nếu đến, có lẽ cũng vậy thôi, chỉ không tỉnh lại, thế là… xong. Tôi nhớ đến lời các bạn đang sống rải rác trên khắp thế giới, như Mỹ, Canada, Úc, Việt Nam và mấy nước ở Châu Âu, cách đây vài tháng; họ đã kín đáo lo lắng khi biết tin tôi sắp qua phục vụ trong cuộc chiến ở Iraq và nhắc đến câu Đường thi: “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.” Tôi đã mạnh dạn trả lời họ và cũng nhắc tới một câu khác trong cùng bài thơ, rằng tôi sẽ cùng uống rượu ngon “bồ đào” và chén “dạ quang” ấy với những người lính TQLC của tôi. Hình như điều đó đang xảy ra, ngay trong đêm nay, ở quân y viện này. Những thương binh đang nằm kia đã đổ máu ngoài chiến địa, còn tôi, đã “đổ máu” ra để góp phần bù lại số máu họ đã mất, máu của tôi đã hòa chung với bầu huyết quản đang lưu thông trong thân xác của họ. Bài thơ Đường “Lương Châu Từ” của Vương Hàn, tôi thuộc từ thuở còn ngồi ở cấp ba, lại vang lên:

“Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.”

Một người bạn của tôi, nhà thơ Bùi Nghiệp, đã dịch rằng:

“Lóng lánh bồ đào chén rượu mê
Muốn say chợt ngựa hối tư bề
Ngà ngà chiến địa anh đừng chấp
Chinh chiến xưa nay mấy kẻ về?”

Lúc sau, bác sĩ vào bảo ngồi lên, tôi gượng dậy nhưng lại bị chóng mặt ngay vì thiếu máu, ông ta liền nói:

– “Để tôi truyền I.V. cho cha.”

https://i0.wp.com/darkroom.baltimoresun.com/wp-content/uploads/2013/03/TE.IRAQ11P1-760x506.jpg

Tôi lại nằm xuống, một “doc” đắp lên tôi cái chăn thật ấm như vừa được hâm nóng. Trong khi chờ đợi tiếp xong bịch nước biển, tôi định thiếp đi một chút, nhưng thình lình, người thương binh ở giường bên cạnh cất tiếng:

– “Ông là Tuyên úy phải không? Đơn vị tôi vừa mất 10 TQLC, bị thương 11, kể cả tôi.”

Tôi đáp:

– “Phải, tôi là Tuyên úy, còn anh, Trung đội trưởng à?” Anh ta đáp:

– “Không, tôi là Đại đội trưởng.”

Tôi cảm thấy máu trong người nóng lên vì đã được kể lại rằng (điều này có thể không hoàn toàn đúng) viên đại đội trưởng này đã phạm một lỗi lầm rất lớn, để cả một trung đội bị thiệt hại hoàn toàn trong một cách hết sức vô lý, qua một lỗi lầm vô cùng căn bản. Tuy nhiên, tôi chỉ nhẹ nhàng nói:

– “Tôi sẽ cầu nguyện cho anh, cho lính của anh và cho gia đình của họ.”

Người ta kể rằng (từ những dữ kiện chưa được kiểm chứng và không phải là kết luận cuối cùng ở lúc đó) đại đội của anh này có mấy TQLC vừa nhận nghị định được thăng cấp, họ xin trung đội trưởng của họ cho đeo lon mới ở chiến trường (một vinh dự lớn cho mọi người lính.) Trung đội trưởng hỏi ý đại đội trưởng, anh này không những cho phép mà còn ra tận nơi để gắn lon cho các binh sĩ! Trong khi đó, trung đội đang hành quân ở một vùng được coi là… hỏa tuyến! Tập trung nhiều lính tại chiến trường trong hoàn cảnh như vậy là một điều tối kỵ, mọi sĩ quan đều đã phải học điểm chiến thuật cơ bản này ở các trường võ bị. Tuy nhiên, cho dù bất cứ diễn biến thật sự nào đưa đến thảm họa đó và trong sự đau đớn tột cùng, sự việc cũng đã xảy ra!

Khu tạm đóng quân là một nhà máy làm sữa bị bỏ hoang, trung đội này đã có lúc dừng quân qua đêm ở đó. Địch quân biết thế nào lính Mỹ cũng sẽ trở lại nên họ đã lập kế để tiêu diệt kẻ thù. Quả bom là một loại IED, gồm 4 đầu đạn đại bác 155mm chập lại, họ chôn khá sâu; đến độ máy dò kim loại của quân Mỹ không phát hiện được. Trong khi kíp nổ là hai sợi dây điện đặt gần mặt đất, nếu có người đạp lên, dây điện chập vào nhau, quả bom sẽ phát nổ!

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/b4/Defense.gov_News_Photo_041108-M-8205V-003.jpg

Trước khi trung đội TQLC nhập khu vực, họ đã cho người vào dò bom, tuy nhiên, máy dò không thấy gì. Trung đội, được lệnh của đại đội trưởng, đứng vào đội hình để làm lễ… thăng cấp! Cuộc lễ diễn ra xuông sẻ, nhưng sau khi có lệnh tan hàng, lính vừa tản ra để về vị trí của họ thì một người đã đạp lên ngòi nổ!!! Chỉ đơn giản là vậy, nhưng tai ương đã thình lình đổ ập xuống bao nhiêu sinh linh, ở cả tiền tuyến lẫn hậu phương…

Phòng đông lạnh là một nhà lưu động (trailer), chỉ to bằng thùng chứa hàng của các xe vận tải 18 bánh, luôn luôn được giữ ở nhiệt độ âm bằng một máy phát điện riêng. Hai bên kê giường 3 tầng mà chiều ngang mỗi giường chỉ bằng chiếc băng ca (stretcher), chứa được khoảng vài chục xác người. Mười bọc đựng xác của các TQLC xấu số đã được đặt gọn gàng trên các giường. Tôi được khuyên không nên mở các bọc ra nữa vì họ sợ điều đó có thể sẽ gây “ảnh hưởng tâm lý” không tốt cho cả tuyên úy! Tôi nói với vị tuyên úy của tiểu đoàn A (một mục sư Tin Lành):

“Với tôi, tất cả những TQLC này đều là Công Giáo, anh cũng nên xem họ như người thuộc giáo hội của anh để làm những gì thấy cần cho họ.” Vị tuyên úy kia lặng lẽ gật đầu đồng ý. Tôi đã đọc lời cầu nguyện làm phép xác và rảy nước thánh trên các bọc này…

Tôi ra khỏi quân y viện thì đã gần nửa đêm, đường đi tối như bưng. Vì lý do an ninh, nên bên trong căn cứ rất giới hạn đèn điện. Người dùng đèn pin cũng phải gắn thêm kính màu để ngụy trang. Những suy tư của tôi cứ miên man giữa quá khứ với hiện tại… Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây; hầu như trong bất cứ cuộc chiến nào, thành phần phải hy sinh nhiều nhất vẫn luôn là những người lính trẻ, những sĩ quan trẻ, chỉ huy trung và đại đội. Có người nói cuộc chiến ở Iraq là chiến tranh của những trung đội (War of the Platoons), vì địch quân chỉ đánh du kích, ít khi ra mặt và hầu như họ không thể tạo được một cuộc phục kích với số quân đông hơn vài chục người. Phía Mỹ và Đồng Minh cũng vậy, ngoài trận đánh tái chiếm thành phố Fallujah thuộc tỉnh Anbar, tháng 11, 2004; mà quân số tác chiến lên đến cấp trung đoàn, cũng như một vài trận khác của bên bộ binh; hành quân với cấp số đại đội đã là nhiều. Nhưng những cái chết “da thịt nát tan” trong phòng đông lạnh kia lại rất ảnh hưởng đến “đường binh nghiệp” của vị tướng đang nghỉ ngơi khá an toàn trong căn nhà kiên cố và được canh gác nghiêm ngặt cách đấy không xa. Người xưa đã chẳng nói đó sao:

“Nhất tướng công thành, vạn cốt khô!”

Hào quang của các ngôi sao trên cổ áo ông tướng, đôi khi đã đẫm máu của những chiến binh dưới quyền! Trong cùng suy tưởng đó, tôi quy trách nhiệm trên những người đang làm chính trị ở Washington D.C., những người đã ra quyết định về cuộc chiến ở đây, đều phải gánh chung trách nhiệm về những cái chết tức tưởi của các người trẻ này.

Image result for usmc in iraq in 2o05

Vào cuối Thu, Iraq đi trước California 11 tiếng đồng hồ. Hiện tại, bên đó mới gần 1 giờ chiều. Có lẽ những bà mẹ già, những người vợ trẻ của các quân nhân đang nằm trong căn phòng lạnh lẽo đó đã bắt đầu nhận được hung tin. Đơn vị gốc của họ sẽ cử một sĩ quan, một hạ sĩ quan và một tuyên úy đến tận nhà mỗi TQLC đã hi sinh để báo tin buồn đến những người thân của họ, để nhân danh cả nước nói lời phân ưu, và đồng thời để trình bày những hỗ trợ khác mà thân nhân của họ có quyền được hưởng.

Câu ca thống thiết từ cõi xa thẳm, hồng hoang nào đó lại bất chợt vang lên bên tai tôi. Lời của một trong những bài hát của Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ huyền thoại, nhưng nhiều người Việt miền Nam, ở cuối thập niên 60s, đã kết tội anh là kẻ phản chiến, hay tệ hơn, chỉ là tên bù nhìn trong hệ thống tuyên truyền của Cộng sản. Không cần biết sự thật nằm ở đâu, lịch sử sẽ tự minh xác điều này; với tôi, Sơn đã cùng biết bao thanh niên nam nữ ở miền Nam sớm nhận ra cái phi lý của cuộc chiến mà anh em hai miền đã tàn sát lẫn nhau đến hằng nhiều triệu người. Từng lời ca của anh đã xoáy thấu tâm can nhân loại.

Một bà mẹ khóc than bên xác con:

“Hai mươi năm…. đàn con đi lính,
đi rồi không về…
Ôi tấm thân này, ngày xưa bé bỏng
Mẹ mang đầy bụng, Mẹ bồng trên tay…”

Tôi chợt nhớ rằng từ sau bữa trưa đến giờ mình đã chưa ăn gì, ngoài một mẩu bánh nhỏ của ai đó đã đưa, sau khi tôi ra khỏi phòng cấp cứu. Tôi có thể ghé qua khu nhà ăn ngay trong lúc này, vì đã đến giờ của bữa ăn khuya cho những người làm ca đêm, mà lính tráng gọi đùa là “Mid-Rat” (Midnight Ration.) Nhưng đôi chân tôi vẫn tiếp tục liêu xiêu bước về khu nhà nghỉ, tôi chỉ mong cái màn u tối thẳm sâu này sẽ chóng qua, để hừng đông lại đến và sẽ không còn nữa, những đêm dài… Iraq.

http://vietland.net/showthread.php?t=3200&page=483&s=2271342bf013747c46474dc488f9d668

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Binh Chủng Biệt Cách Dù QLVNCH

Huy hieu LLDBHuy hieu tham sat Delta BCND
Huy hieu tieu doan 91BCNDHuy hieu Lien doan 81 BCND.

 

Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy Dù (tiếng Anh : 81st Airborne Commando Battalion, 81st ACB) – thường được gọi tắt là Biệt Cách Dù (BCND / BCD) – là một trong bốn lực lượng tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Biệt Cách Dù là lực lượng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu buông vũ khí.

Lịch sử

Tiền thân của liên đoàn là Lực lượng đặc biệt. Lực lượng đặc biệt là một binh chủng thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa thành lập năm 1957 và nằm dưới quyền điều động của Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa để thực hiện những công tác đặc biệt và tối mật:

nhẩy ra Bắc lấy tin tức, trà trộn vào dân chúng hay người sắc tộc, thám sát những hệ thống tiếp vận trên đường mòn Hồ Chí Minh, nhảy sang Lào thám sát hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, đổ bộ và quấy phá vùng biển miền Bắc. Năm 1961, Lực lượng đặc biệt thành lập thêm một số đại đội Biệt cách dù biệt lập để làm thành phần hỗ trợ, ứng cứu cho những toán nhảy qua Lào hay ở những vùng biên giới nguy hiểm.

Năm 1964, các Đại đội Biệt cách dù được kết hợp thành Tiểu đoàn 91 Biệt cách dù, vẫn chịu sự chỉ huy của Lực lượng đặc biệt. Năm 1968, tiểu đoàn được cải danh thành Tiểu đoàn 81 Biệt cách dù. Song song với hoạt động của Tiểu đoàn, Lực lượng đặc biệt còn thành lập Trung tâm Hành quân Delta. Lực lượng đặc biệt được giải thể tháng 8 năm 1970 vì đã hết nhiệm vụ nhẩy Bắc, nhẩy Lào và đổ bộ biển.

Sau khi lực lượng đặc biệt giải thể, binh chủng chỉ còn tồn tại Trung tâm Hành quân Delta và Tiểu đoàn 81 Biệt cách dù, hai đơn vị này sáp nhập lại thành Liên đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, quân số dần dần lên đến 3,000 chiến sĩ và được chia ra làm ba bộ chỉ huy chiến thuật. Mỗi bộ chỉ huy có 4 biệt đội, mỗi biệt đội có 200 chiến sĩ.

Biệt cách dù (Mỹ gọi là airborne ranger) có nghĩa là hành quân biệt lập và cách biệt với mọi binh chủng bạn, bởi nhiệm vụ quá đặc biệt và bí mật của binh chủng này. Nhiệm vụ chính yếu là nhảy toán (mỗi toán thông thường là 6 người), thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch để lấy tin tức, quấy rối, phá hoại căn cứ địch, bắt cóc tù binh, cung cấp tọa độ đánh bom cho không quân, khám phá những kho vũ khí, thực phẩm của địch.

Khi tình thế cho phép thì các chiến sĩ BCD cũng tổ chức đánh địch ngay trong lòng địch. Nói chung, Liên đoàn 81 BCD được hình thành không phải để nhận nhiệm vụ đánh trận địa chiến. Lính BCD được ví von như là những chiếc “chén kiểu” quí giá vô cùng, vì họ được huấn luyện cho những công tác thật đặc biệt. Sở trường của BCD là đánh đêm.

Tuy nhiên, khi tình hình nguy ngập như trong Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ lửa 1972, Phước Long 1974, Bộ Tổng tham mưu đã sử dụng Liên đoàn 81 BCD như là một lực lượng tổng trừ bị tăng viện, tiếp cứu và thanh toán chiến trường. Sau các trận đánh trong Mùa Hè 1972 ở An Lộc và Quảng Trị, Liên đoàn 81 BCD được đưa lên làm lực lượng tổng trừ bị sánh vai với các lực lương thiện chiến bậc nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Viet wiki

Nguyễn văn Đệ: Những chuyện kể năm xưa

https://bienxua.files.wordpress.com/2016/04/huy-hieu-btlhqviii-song-ngoi.jpg?w=262&h=253

Mùa hè năm 1972 tôi được thuyên chuyển từ Hạm Đội về BTL/Vùng 3 Sông Ngòi đóng tại CCHQ Long Bình gần chân cầu Long Bình, Biên Hoà. Chiều chiều trên đường về Sài Gòn, khi đi ngang khu Nghĩa Trang Quân Đội, tôi hay nhìn vào vì thích xem pho tượng Tiếc Thương ngồi buồn, nhìn ra đường, và được dựng ngay ở phía ngoài cổng nghĩa trang. Chiến trường đang hồi đỏ lửa nên những lá cờ “Tổ quốc ghi ân” phủ lên những ngôi mộ mới vàng rực lên đầy một ngọn đồi. Cứ như thế, tuần lễ sau là đã thấy màu cờ vàng hực lên, phủ đầy thêm ngọn đồi kế tiếp; Và đồi kế tiếp…!

Từ đầu năm 1973, BTL/HQ/Vùng 3 Sông Ngòi có thêm 3 chiến đỉnh thặng dư cấp số từ các Giang đoàn Xung phong gửi về. Từ đó các sĩ quan cấp úy thuộc BTL/HQ/V3SN đã phải thay phiên nhau chỉ huy 3 chiến đỉnh đi tuần trên sông Biên Hoà, loanh quanh gần cầu tầu của CC Long Bình (Hoa Kỳ) vào ban đêm để tránh đặc công thủy CS đánh mìn cầu tầu, chiến đỉnh, hay các xà lan đạn neo trên sông hoặc chính cầu Long Bình trên xa lộ Biên Hoà! Chúng tôi thường cho chiến đỉnh chạy lòng vòng mấy tiếng vào buổi tối trước khuya, rồi cột tầu vào mấy xà lan trống đạn neo trên sông ngủ qua đêm, để hôm sau còn sức mà làm việc tham mưu. Thằng em nào đang gác “quart” đúng vào lúc con nước đứng sẽ thẩy xuống sông vài trái MK3 để tránh đặc công thủy “mò” đến gài mìn.

Ngày ký hiệp định Ba Lê năm 1973, đúng phiên tôi làm SQ trực và phải chỉ huy mấy chiến đỉnh! Bẩy giờ chiều, sau khi cơm nước và điểm danh xong, chúng tôi xuống tầu đi tuần. Tôi họp mấy anh em thuyền trưởng lại, bàn và ra lệnh đêm hôm đó phải đi tuần đến quá giờ nước đứng, khoảng nửa đêm mới được về cột neo. Khoảng hơn một giờ khuya, sau khi dòng sông đã đổi thành con nước ròng, chúng tôi chạy đến một xà lan trống đạn để neo ngủ. Chúng tôi kín đáo cột chiến đỉnh vào phía khác bên với bên cầu tầu Long Bình để tránh ánh sáng chói loà từ những ngọn đèn pha trên cầu tầu hắt ra. Nằm trên bệ sắt phía trước phòng lái của chiếc chiến đỉnh monitor, tôi đang sắp sửa thả hồn vào giấc điệp thì một tiếng nổ long trời lở đất đã xẩy ra. Chiếc xà lan rung mạnh, và kêu lên răng rắc! Sức chấn động và sóng dội đẩy nhẹ tầu chúng tôi ra xa. Thằng em đang trực gác giật bắn mình, nả một băng M16 vào khu đất hoang, bờ sông phía trước mặt, ngay khu mấy ngọn đồi BS Tín! Thuyền trưởng cũng chưa kịp ngủ, nhẩy vội lên phòng lái, rồ máy và cho tháo dây cột tầu. Tôi cho “tương bừa” thêm mấy quả MK3 xuống sông cho chắc ăn, liên lạc với hai chiếc kia, và báo cáo tình hình về Trung tâm Hành quân. Chiếc xà lan bị trúng mìn, vào nước nghiêng qua một bên, nhưng không chìm. Thế là chúng tôi hú hồn, và mất ngủ luôn đêm! Té ra là bọn đặc công thủy VC đã điều nghiên giờ giấc tuần tiễu của chúng tôi, và cho gài mìn để mong đánh đắm tàu tuần. May mắn thay cho chúng tôi là đã đi tuần đến quá giờ đổi con nước, nên chiếc xà lan đã chuyển hướng và đưa mặt có gắn mìn qua phía hướng vào cầu tầu Long Bình, đối diện với hướng chúng tôi cập tầu để nghỉ. Nếu chúng tôi về sớm như mọi khi thì đã cột tầu tại ngay nơi chúng gài mìn, và trúng kế của bọn chúng. Lỗ thủng trên xà lan do sức công phá của trái mìn thì to bằng chiếc chiếu lớn, nhưng không đủ làm cho xà lan chìm vì chiếc xà lan có nhiều ngăn chắn nước.HUY HIEU GIANG DOAN 22 XUNG PHONG .

Vào năm 1974, tôi phục vụ tại Giang Đoàn 22 Xung Phong, hoạt động tại ngay Đặc Khu Rừng Sát thuộc Vùng 3 Sông Ngòi với chức vụ sĩ quan hành quân. Đặc Khu Rừng Sát bao gồm hai thủy trình huyết mạch từ Sài Gòn ra biển là sông Long Tào và sông Soài Rạp cùng những vùng phụ cận. Đây là một vùng đầm lầy, đất tân bồi với những cây tràm cây đước mọc chằng chịt. Nước lên thì ngập tràn mênh mông, còn khi nước xuống thì phơi ra những bãi sình lầy đen ngòm, vòng vo những con lạch quanh co uốn khúc.
Trong một cuộc hành quân phối hợp với TĐ-359 ĐPQ vào khoảng cuối tháng 9 năm 1974, chúng tôi đã được lệnh xâm nhập càn quét một mật khu VC trong vùng. Tăng phái cho GĐ22XP gồm có Toán Hải Kích với 6 giang đỉnh do quan Nguyễn Minh Cảnh làm Chỉ Huy Trưởng, và 4 chiếc trung vận đỉnh (LCM-6) thuộc GĐ27XP do quan Nguyễn Hoàng Liêm chỉ huy. TĐ 359 ĐPQ đã được quân xa của Quân Vận chở đến Phước Lễ từ mấy hôm trước, và họ có nhiệm vụ phải lội bộ truy kích tiêu diệt VC và lần ra đến Tắc Ông Kèo, hướng đổ vào sông Long Tào thì sẽ được các chiến đỉnh của Hải Quân đón về. Nhiệm vụ của chúng tôi thấy ra thì có vẻ dễ dàng và nhanh chóng, nhưng Tắc Ông Kèo lại là một vùng mà VC đã coi là khu vực bất khả xâm phạm của chúng. Nếu giang đỉnh của Hải Quân mà xâm nhập là chắc chắn sẽ bị dàn chào bằng những dàn hoả lực dữ dội của các chốt các điểm của Cộng Quân đóng dọc theo bờ sông.

Tien phong dinh Monitor..

Sáng sớm ngày đón quân, quan NMCảnh và NHLiêm chui qua giang đỉnh Monitor chỉ huy của chúng tôi để họp lần chót, TĐ 359 ĐPQ đã kéo quân ra đến bờ Tắc Ông Kèo từ chiều ngày hôm trước, đóng quân trải dài dọc bờ sông. Nhiệm vụ đã được chia ra là sáu chiếc giang đỉnh của Toán Hải Kích sẽ tiên phuông dẫn đường, kế đó là chiếc monitor cuả GĐ22XP, các trung vận đỉnh (LCM 6) của GĐ22XP và GĐ27XP sẽ nối đuôi theo sau. Hai cặp truy kích đỉnh (RPC) và tiểu giáp đỉnh (FOM) chia nhau chen vào giữa đoàn trung vận đỉnh, các tiểu vận đỉnh (LCVP) sẽ đi sau cùng. Các giang đỉnh sẽ vận chuyển cách nhau khoảng từ năm đến mười thước. Các chiến đĩnh của Toán Hải Kích sẽ tiến sâu quá khỏi chỗ đóng quân trong cùng của ĐĐ3 thuộc TĐ359ĐPQ, bắn vào những bụi rậm đáng nghi trên bờ, trong khi đó ba chiếc trung vận đỉnh sẽ vượt lên, ủi bãi, và đón Đại Đội 3ĐPQ. Đồng thời ba chiếc trung vận đỉnh khác cũng sẽ ủi bãi ngay chỗ đóng quân của Đại Đội 2ĐPQ nằm giữa, và hai chiếc quân vận đỉnh còn lại cùng ba chiếc tiểu vận đỉnh ủi bãi ngay chỗ Đại Đội 1ĐPQ còn lại ở phía ngoài cùng. Các giang đỉnh còn lại sẽ “lình xình” (tiếng của HQ Th/Tá Nguyễn Bê, CHT/GĐ22XP) theo hàng dọc, phía ngoài giữa sông để yểm trợ. Sau khi đón xong Đại Đội 3 ĐPQ các trung vận đĩnh này sẽ lùi tầu, quay mũi, hai máy tiến “full” chạy ra ngoài. Kế đến là ĐĐ2ĐPQ, và sau cùng là ĐĐ1ĐPQ. Các giang đỉnh của Toán Hải Kích khi rút lui ra thì sẽ trở thành đi đoạn hậu, và rải đạn vào những bụi rậm trên bờ để tránh VC đánh tập hậu.

Tuan giang dinh RPC HQ7023

Chúng tôi bắt đầu rời sông lớn, và chuyển hướng theo đội hình hàng dọc tiến vào Tắc Ông Kèo. Tôi thường hay ngồi trên chiếc truy kích đỉnh (RPC) mỗi khi đi hành quân, vì chiếc này có hai máy, xoay trở nhanh, tương đối thấp so với tầm bắn của B40, và trang bị một hoả lực mạnh với khẩu 50 ly kép nằm trước mũi. Nhưng lần này, vì hành quân lớn nên có cả CHT đi theo, và ông đã dẫn theo đàn anh khóa 18 Nguyễn Chung mới tân đáo đi cùng để biết thêm về vùng hoạt động, nên tôi phải cùng ngồi chung trên chiếc Monitor. Đại úy Chung ngồi bên trái CHT, còn tôi ngồi bên mặt và cầm ống liên hợp liên lạc với các giang đỉnh. TSI/TT Thà liên lạc hàng ngang với TT Hành Quân cũng như với ĐPQ theo lệnh CHT. HSI/TP Sơn, tài xế CHT, thủ cây ĐL30 nằm phía bên tả. Giang đỉnh của quan NM Cảnh nằm ngay phía trước chiếc monitor của chúng tôi, và thấy quan Cảnh ngồi vắt vẻo trên thành phòng lái, tay cầm ống liên hợp lè nhè chỉ huy mấy thằng em giang đỉnh chạy làng tàng phía trước. Lính Hải kích thật là chuyên nghiệp và nhanh nhẹn khi vào vùng hành quân, họ cuốn gọn các giường chiếu lên, những tấm vải bạt căng chung quanh chiến đỉnh để che mưa cũng được cuốn lên gọn ghẽ. Mọi người đứng khơi khơi trên nóc giang đỉnh, những khẩu 50 ly được hạ thấp nòng, hướng xeo xéo vào phía bên bờ sông. Chẳng phải như ở những Giang Đoàn Xung Phong đóng gần Sài Gòn như chúng tôi, quân số dưới giang đỉnh luôn thiếu hụt và đa số thì lè phè.

Trung van dinh LCM6.

Chúng tôi vượt qua chỗ tạm đóng quân của ĐĐ1ĐPQ không thấy có gì xẩy ra, tôi ra lệnh cho ba chiếc trung vận đỉnh tăng vận tốc, vượt lên để sẵn sàng ủi bãi đón ĐĐ3ĐPQ. khi đi ngang một trong những con lạch nhỏ nằm giữa chỗ đóng quân của ĐĐ2 và ĐĐ3ĐPQ thì tôi thấy nổ một cái ầm thật to, và chiếc giang đỉnh của quan Cảnh rung rinh mạnh, và xịt khói đen ngòm. Nhổm mình nhìn vội vào bờ phía bên trái thì tôi cũng thấy một ánh lửa vừa loáng lên từ phía bụi cây phía trong bờ, ngay đầu con lạch con, và một tiếng nổ ầm sau đó, tầu tôi rung rinh, chao đảo thật mạnh. Một làn hơi thật nóng tạt mạnh vào người, vào mặt tôi! Tôi thấy tối sầm mắt lại. CHT la lên tôi bị trúng đạn rồi! Mặt tôi nóng ran như bị phỏng bởi chảo mỡ đang sôi, tôi lấy tay vuốt mặt, cố mở mắt ra. Mắt tôi mờ đi vì máu. Mắt trái đau nhức, cồm cộm rất khó chịu! Mắt phải tôi nóng nhưng nhìn rõ mọi vật. Tay tôi bụm mắt trái, ra lệnh ba chiếc trung vận đĩnh tiếp tục vượt lên đón ĐĐ3ĐPQ. HSI/TP Sơn đang tiếp tục nhả đạn vào những bụi cây bên bờ, Các giang đỉnh của Hải Kích cũng đang rải đạn vào những bụi cây nằm phía cửa con lạch. Tụi VC đã im tiếng súng. Đại úy Chung có vẻ bị thương nặng, ống quần dưới chân anh nhuộm đầy máu đỏ, một bàn chân anh coi như thấy máu thịt lẫn lộn. CHT thấy có vẻ nặng hơn, hai ống quần đầy máu, mặt nhợt nhạt, ngồi dựa lưng vào vòng trụ phòng lái. Tôi nhìn xuống thấy chiếc bàn ăn dầy mặt, nặng nề nằm ngay phía dưới chỗ chúng tôi ngồi, đã hứng hết miểng đạn cho chúng tôi, bị nát bấy, một vài mảnh gỗ còn lềnh bềnh dưới sông, đôi dép của tôi để trên ấy văng đâu mất tiêu. Ống thoát hơi từ phòng ngủ phía dưới, nằm chếch ngay phía dưới chiếc bàn ăn, trúng đạn trực tiếp bị vạt ngang, văng mất nắp, “toe loe” miệng lỗ. Tôi thấy mắt tôi rất khó chịu, chân tôi tê chồn, lốm đốm vài vết máu, ống quần lỗ chỗ một vài chỗ thủng vì miểng đạn. TSI/TT Thà đang liên lạc xin trực thăng tải thương. Tôi kêu Tr/Úy Điệp, sĩ quan trưởng khối giang đỉnh đang hiện diện trên chiếc tiểu giáp đỉnh nằm phía sau lên thay thế quyền chỉ huy.

Tieu giap dinh FOM

Trực thăng của đặc khu đến tải thương. Tầu chúng tôi ủi bãi, trong lúc những chiếc khác đang tiếp tục đón quân. Tôi khấp khểnh leo lên bờ, và cố chạy ra chiếc trực thăng. HSI/TP Sơn sau khi đưa CHT va Đ/Úy Chung ra trực thăng xong trở lại đón tôi, anh nói: “ông thầy để tôi cõng”, và anh đùa bảo: “ông thầy yên chí, thằng nhỏ không sao”. Tôi rờ rờ bóp bóp nơi đũng quần để kiểm soát lại cho chắc ăn, và cảm thấy không bị đau. Cám ơn anh hết sức, nay vẩn chưa có dịp để được đền ơn anh.

Cũng từ dạo ấy, tôi và đàn anh K.18, HQ Đ/Úy Nguyễn Chung đã trở thành thân thiết gắn bó như anh em ruột vậy. CHT HQ Thiếu tá Nguyễn Bê (K.14) sau khi điều trị vết thương xong, đã trở về “nắm” Ban Thuyên Chuyển Sĩ Quan thuộc TQT/HQ (?) nếu tôi không lầm. Nhờ đó sau khi ra khỏi thặng số vào tháng 2 năm 1975, tôi được về làm Phòng Tư/BTL/HQ, còn Đ/U Chung về Phòng Năm/BTL/HQ. (Xin một lời cám ơn CHT đã nhớ đến đàn em.) Đàn anh K.18 Nguyễn Chung và tôi lại tiếp tục “cặp kè” đi chơi chung trong những ngày hấp hối sau cùng của Sài Gòn, và cũng như sau này trên con đường tỵ nạn thênh thang tại Hoa Kỳ.

http://www.denhihocap.com/ds2006/ncknx789.html