Giấc Mơ Đi Biển

Huy hieu tuan duong ham Tran Quang Khai HQ.2.jpg

Nguyễn Hùng Sơn

Chiến hạm đang đặt trong tình trạng chuẩn bị công tác. Tàu đã về neo tại Vũng Tàu được 2 ngày rồi. Cũng như thường lệ, sau hơn 3 tháng tuần dương dài đăng đẳng. Chiến hạm đang đặt trong tình trạng chuẩn bị công tác. Tàu đã về neo tại Vũng Tàu được 2 ngày rồi. Cũng như thường lệ, sau hơn 3 tháng tuần dương dài đăng đẳng, tàu về nhận tiếp tế trong vài ngày, rồi tiếp tục lên đường… Chúng tôi đứng trên đài chỉ huy, dői mắt vào chiếc duyên tốc đỉnh PCF của Hải Đội III Duyên Phòng, đang loay hoay cặp vào chiến hạm. Trời tháng 10, biển có nhiều sóng, chiến hạm phải thả thêm 2 trái độn lớn để chiếc PCF được an toàn hơn. Từ con tàu nhỏ chòng chành, nghiêng ngả, các SQ, HSQ và nhân viên thuộc chi đội đi bờ, măn phép, lần lượt trở về chiến hạm. Trong nhóm những người ấy, tôi thấy có 2 tân thiếu úy. Họ trong tư thế thật nghiêm trang, đặt túi quân trang xuống sàn tàu, đứng nghiêm, thẳng người, quay mặt về hướng quốc kỳ phía sau lái, rôì đưa tay chào thật hùng dũng, đúng quân cách. Nhìn nét mặt rạng rỡ đầy hãnh diện của họ, giấc mơ của một thời tuổi trẻ, bất chợt bùng lên trong tôi.

https://i2.wp.com/www.navsource.org/archives/09/43/09433422.jpg

Giấc mơ của tôi thật đơn giản, “được đi biển”! Hình ảnh của con tàu và biển cả luôn là ước vọng trong suốt khoảng đời mới lớn của tôi. Ngày ấy tôi mê say đóng những con tàu nhỏ xíu bằng cây, rồi xếp đám lính đồ chơi bằng nylon lên boong tàu. Chúng tôi chia 2 phe, mỗi phe một chiếc tàu và dùng dây thun bắn vào đám lính đồ chơi của nhau. Đám lính của phe nào ngă hết trước thì phe ấy thua. Cuộc chơi chỉ có chừng đó, nhưng chúng tôi chơi mãi không biết chán… Giấc mơ cứ thế lớn dần.

Xong Tú Tài II, tôi vội vã thi vào trường Hàng Hải Phú Thọ nhưng bị loại. Mức độ chiến tranh càng lúc càng tăng. Lệnh tổng động vięn lại được ban hành. Tôi không còn một chút hy vọng nào để bước chân vào trường Hàng Hải, đành phải nương náu hoãn dịch ở một đại học không thi tuyển. Mặc dù vậy, giấc mơ con tàu và biển cả vẫn còn đó trong tôi.

Các chuyến xe GMC âm thầm rời trường Bộ Binh Thủ Đức, đưa chúng tôi về lại BTL/HQ trước khi khóa 1/70 SQTB ra trường. Không có lễ măn khoá, không trống kèn, không đại lễ diễn hành, không cung kiếm. Cũng chẳng có một nghi thức gắn lon, trao bằng tốt nghiệp nào cả. Cởi ra bộ quân phục SVSQ Bộ Binh mà chúng tôi đã mặc trong suốt 9 tháng thụ huấn. Khoác vào bộ quân phục Hải Quân với cặp lon chuẩn úy mới tinh, tự gắn. Lòng tôi nghe nhen nhuốm cay đắng. Một cảm giác khó chịu dấy lên trong lòng. Nỗi bùi ngùi về thân phận, về cái xuất thân kỳ quái của mình… Tình nguyện vào khóa 20 SQHQ/Nha Trang, bị tái khám về sức khỏe, rồi được xếp vào tài nguyên của khoá 21. Nhưng rốt cuộc Hải Quân lại đưa chúng tôi đi thụ huấn K1/70 SQTB tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Trong hoàn cảnh phải chấp nhận và không được giải thích này, tôi đă mang một mặc cảm bị bỏ rơi! (Mãi đến sau này, tôi tự tìm hiểu và được biết, vì nhu cầu khẩn cấp gia tăng quân số, HQ không đủ cơ sở huấn luyện, phải gởi một số tân binh và SVSQ đi thụ huấn tại các quân trường hoặc TTHL khác, để đáp ứng với hoàn cảnh Việt Nam Hoá chiến tranh).

Đơn vị đầu tiên của tôi là Giang Đoàn 57 Tuần Thám, đồn trú tại Nhà Bè. Đây là một căn cứ quân sự của Hải Quân Hoa Kỳ, nằm trong lãnh thổ Đặc Khu Rừng Sát, thuộc tỉnh Gia Định, vùng III chiến thuật. Cấp bậc của tôi, bây giờ được kèm thêm hai chữ “Chiến Binh”. Tôi không thích danh xưng “Chiến Binh” ấy và tự hỏi, tại sao lại gọi là chiến binh? Để phân biệt chăng? Nhưng phân biệt để làm gì?! Khi tất cả đều cùng chung một lý tưởng phục vụ?! Cũng may, nỗi buồn rồi qua mau khi tôi gặp lại hai người bạn cùng khoá 1/70 đến trình diện trước đó một ngày. Không kể CHT và CHP, sĩ quan của đơn vị gồm mười hai người. Trong đó, có đến chín người là”Chiến Binh”, cấp bậc từ chuẩn úy đến thiếu úy. Xuất thân các khóa 3/69, 6/69, 1/70 TĐ. Ngoài ra, còn có hai chuẩn úy Đoàn Viên và một chuẩn úy OCS. Chúng tôi không gặp nhau thường xuyên vì được phân tán theo các toán công tác khác nhau. Hoạt động tuần tiểu, hành quân trong các trục và khu vực cũng khác nhau.

Lúc ấy, đơn vị còn đang trong giai đoạn cuối của chương trình huấn luyện tại chỗ (OJT). Chúng tôi thực tập qua những chuyến công tác trên chiến đỉnh Mỹ. tất cả đều xa lạ. Mặc dù vậy chúng tôi cũng đă cố gắng để sớm hội nhập vào môi trường sống mới, quen dần các sinh hoạt, cũng như rất ngưỡng mộ tinh thần kỷ luật, thái độ lịch sự, tôn trọng cấp bực của mỗi một quân nhân Hoa Kỳ mà tôi gặp gỡ.

Địa danh Nhà Bè, không xa lạ gì đối với người dân thành phố. Nhà Bè, một quận lỵ nhỏ gắn liền với Rừng Sát. Vùng nước lợ, đất thấp ngập nước, sình lầy, sông rạch chằng chịt, rậm rạp dây leo và cây thấp. Nhiều muỗi, rắn rết và cá sấu. Trong quá khứ Rừng Sát đã được biết đến qua các cuộc hành quân tiểu trừ loạn quân Bình Xuyên, thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Rừng Sát. trải rộng 405 dặm vuông. Từ ranh giới Cát Lái, dọc quốc lộ 15 đi Vũng Tàu, suốt chiều dài sông Thị Vải, vòng qua vịnh Gành Rái, Cần Giờ, Long Thạnh, cửa sông Đồng Tranh, rồi bọc vòng lại Nhà Bè với sông Soài Rạp. Đôi khi địa bàn hành quân mở rộng đến vùng cửa sông Vàm Cỏ, lãnh thổ của tỉnh Long An và Vàm Láng thuộc tỉnh Gò Công. Các đơn vị đồn trú và tham chiến Việt Mỹ, gồm đủ cả Hải Lục Không Quân. Nhưng nỗ lực chánh vẫn là các lực lượng trấn giữ của Đặc Khu Rừng Sát. Riêng về HQVN, ngoài giang đoàn 57 TT, còn có 27 Xung Phong, 93 Trục Lôi và đôi khi có thêm một hay hai phân đội của giang đoàn 52 TT từ Cát Lái đến tăng cường. Đặc biệt hơn là các đơn vị Tình Báo, Biệt Kích, Thám Sát, Người Nhái, vẫn thường xuyên, âm thầm hoạt động.

Những trận đánh rất thường xảy ra, nhưng không ở mức độ lớn. Đại quân của CS nếu có thể, chỉ ở phía bên kia núi Thị Vải, Bà Rịa. Địa thế Rừng Sát, cây thấp, nước ngập, sông rạch chằng chịt không phải là nơi tập trung quân tốt. Nhưng lại là một vị trí chiến lược quan trọng. Địa thế rất thuận lợi cho lối đánh du kích, giao liên, nơi ẩn náu của các toán đặc công phá hoại CS, nhằm xâm nhập, khủng bố quấy rối Saigon. Đây cũng là vị trí yết hầu mà CS luôn ước muốn bóp nghẽn, cắt đứt thủy lộ huyết mạch Lòng Tào để ngăn chận nguồn tiếp vận vào thủ đô.

HQ Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng giang đoàn là một người uy quyền, ông nói tiếng Anh khá thạo nên tạo được sự kính nể của ban cố vấn Hoa Kỳ, nhờ vậy vấn đề tiếp liệu, sửa chữa các chiến đỉnh được đầy đủ, chu đáo. Ở một cấp bậc thấp, tôi thật ngưỡng mộ kiến thức kỹ thuật, tài tháo vát điều hành của ông. Nhưng lối đối xử đôi khi thiếu tôn trọng nhân phẩm đối với thuộc cấp của ông, đã làm cho tôi rất khó chịu. Có lần tôi bạo dạn, yêu cầu ông đừng nói ĐM và mày tao với tôi vì Hải Quy không quy định như vậy. Thú thật khi yêu cầu như thế thì tôi rất lo lắng và chờ đợi một phản ứng trừng phạt của ông. Nhưng ông đã lắng nghe và sau gần một năm phục vụ, ông đă đưa tôi từ vị trí một SQ trưởng toán tuần tiểu lên trưởng khối giang đỉnh và rồi SQ hành quân.

Trong bối cảnh chiến tranh càng lúc càng gia tăng, phải đương đầu với vất vả, nguy hiểm hằng ngày. Sự căng thẳng sống chết đă biến những người lính trở nên lì lợm, bướng bỉnh. Họ là những chiến sĩ can trường, nhưng cũng là những con ngựa bất kham! Họ cũng như chúng tôi, mang một thân phận “bất phùng thời”. Có những người là thủy thủ tập sự hay cải tuyển đã hai, ba năm mà chưa được đi học chuyên nghiệp. Có những người đă tử trận mà vẫn chưa thành thủy thủ. Còn lại một số đã từng mặc hai ba sắc áo lính trong chiến trận. Những ngày đầu ra đơn vị đầy thử thách. SQ trưởng toán không có lính cơ hữu. chỉ mang trách nhiệm điều động 2 giang đỉnh trong một chuyến công tác mà thôi. Người có quyền hạn trực tiếp đối với các thủy thủ trên chiến đỉnh là HSQ thuyền trưởng. Đó là vấn đề rất tế nhị trong lănh vực chỉ huy. Các thuyền trưởng nhận lệnh từ SQ trưởng toán. Nhưng thủy thủ đoàn lại phục tùng thuyền trưởng hơn là SQ trưởng toán. Nếu không khéo, SQ trưởng toán có thể bị cô lập và ngược lại, nếu vì sợ bị cô lập, không dám chứng tỏ quyền hạn chỉ huy của mình để hoàn tất công tác, thì vị SQ trưởng toán ấy phải nhận trách nhiệm đối với CHT. Khi nhìn những vết xâm, vết thẹo chằn chịt trên ngực hay trên cánh tay của hầu hết các thủy thủ và một vài thuyền trưởng, tôi thật có nhiều ái ngại! Một gã học sinh, ngơ ngẩn vào lính. Cái lon chuẩn úy trên vai quả thật nhẹ bổng, non choẹt đối với những người lính dày dạn chiến trận. Điều tôi lo lắng không hẳn chỉ với quân thù mà chính là làm sao để điều động được những người lính này. Làm sao để khiến họ phục tùng khi giáp trận. Khó khăn rồi cũng qua đi. Khi những chiếc huy chương nhỏ được cài lên ngực áo, thì cũng chính là lúc mà tôi thông cảm và ngưỡng mộ sự hy sinh vô cùng lớn lao, xứng đáng của những người lính xâm mình lì lợm ấy.

huy-hieu-giang-doan-57-tuan-tham

Chiếc huy hiệu tam giác nền xanh lá cây ở giữa nổi bật hình chiếc giang tốc đỉnh PBR đang cắt sóng với hàng chữ Giang Đoàn 57 Tuần Thám. Đă bắt đầu cho tôi niềm hănh diện khi đeo nó trên ngực áo. Hai chữ “Chiến Binh” vẫn còn đó, nhưng dường như không ai màng đến. Trước các cuộc hành quân và tuần tiểu liên miên, trước cảnh sống chết mỗi ngày, chúng tôi chỉ còn rất ít thời gian để gặp gỡ. Và tình chiến hữu bỗng dưng trở nên gắn bó, sâu đậm như anh em. Cụm từ “huynh đệ chi binh” đă không còn là những khẩu hiệu, những nhắc nhớ trong âm nhạc mà chính là tinh thần sống của chúng tôi. Một giang đoàn tác chiến!

Cuối năm 1971, bất ngờ tôi được thuyên chuyển về BTL/HQ/KQH làm Trưởng Tiểu Ban Huấn Luyện Liên Quân thuộc Phòng Điều Huấn. Công việc của tôi là liên hệ, điều hành thủ tục các khóa huấn luyện bên ngoài HQ. Đặc biệt là lo thủ tục cho các SQHQ dự thi tuyển và vào học tại các trường Kỹ Sư Phú Thọ. Công việc tham mưu văn phòng, nhàn hạ, an toàn, có thể là một hấp dẫn của nhiều người. Nhưng với tôi, ngày càng thêm căng thẳng, bởi có quá nhiều đụng chạm. Tất cả những bước cứu xét tuyển chọn khóa sinh, đều phải dựa trên những điều kiện qui định bởi các văn thư của BTTM hay BTL/HQ. Thế nhưng sau khi báo cáo danh sách tuyển chọn, tôi thường xuyên phải đương đầu với những cú gọi đầy áp lực của một số SQ cao cấp trong hoặc ngoài BTL/HQ, gởi gấm, nhờ giúp đỡ cho thân nhân, đàn em của họ, những người không đủ điều kiện, nằm trong danh sách bị loại. Có khi đó là những lời “Toi, Moi” lịch sự nhả nhặn, có khi là hằn giọng hăm he. Tôi thất vọng, chán nản, xin trở lại giang đoàn tác chiến hay ra khỏi quân chủng. Đại Tá TMP/QH là một cấp chỉ huy mà tôi hằng kính trọng. Ông là người trí thức, bao dung nhân hậu. Trong tâm tình của người anh, ông an ủi và khuyên nhủ tôi nhẫn nại, chịu đựng, trở lại làm việc…

Bạn bè cho tôi là người hay lý tưởng hóa vấn đề, thiếu thực tế ! Điều đó đúng, tôi biết rő. Nhưng tôi không thể thoát ra được quan niệm công bằng trong tương quan cuộc sống. Phải chăng công bằng chỉ là một ước vọng?! Vừa định làm đơn xin trở lại giang đoàn tác chiến một lần nữa, thì được biết có khóa 1ĐB/SQHQ/NT dành cho các SQ Chiến Binh, tôi mừng quá ghi danh ngay

Tuần Dương Hạm HQ.2 Trần Quang Khải

Mãn khóa, tôi về tuần dương hạm HQ2 cùng với 3 người bạn. Đây là một chọn lựa mà chúng tôi đă hănh diện trước tràng pháo tay của các bạn đồng khóa.

HQ2 đă biến giấc mơ “Đi Biển” của tôi thŕnh sự thật. Tôi thích ứng ngay đời sống trên chiến hạm… Cho dů sóng to gió lớn, lạnh buốt sương mù hay những ngày êm ả nắng ấm… Biển cả luôn là một hấp lực, cuốn chặt tôi vào những say mê riêng tư. Tôi tha thiết với những ngày tháng trùng khơi sóng gió ấy, học hỏi rất nhiều trên đủ mọi lãnh vực. Từ chuyên môn đến chỉ huy. Tôi trân quý các kiến thức “Đi Biển” lượm lặt được từ những người đi trước, bạn bè và sách vở. Sóng và gió biển đă làm cho huy hiệu trên mũ và cặp lon trên vai của tôi đen xanh lại. Kinh nghiệm biển cả cũng nhờ đó lớn dần. Tôi dạ dẫm từ một SQ trưởng khẩu đại bác 127 ly, SQ hải pháo, cho đến Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Chiến Báo, rồi Trưởng Khối Hành Quân. Có lẽ vì đi biển là sở thích, nhưng cũng có lẽ từ một mặc cảm sâu thẳm nào đó của quá khứ, tôi luôn luôn buộc mình phải cố gắng. Tôi muốn thử nghiệm khả năng của một gã mang thân phận “Lưu Đày”.

https://i1.wp.com/www.navsource.org/archives/09/43/09433427.jpg

Khác xa với không khí cởi mở, gần gũi “huynh đệ chi binh” như ở giang đoàn tác chiến, đời sống trên chiến hạm thật quy cũ, nguyên tắc và kỷ luật. Truyền thống ấy dựa trên quyền lực của Hạm Trưởng và các sĩ quan chỉ huy. Một kỷ cương có lẽ đã lâu đời trong lịch sử hàng hải Tây Phương, của những thời thuyền buồm. Mang dáng vẻ phong kiến mà ở đó SQHQ là giai cấp chỉ huy hoàng tộc và thủy thủ là giai cấp phục tùng bình dân. Trong khuôn khổ kỷ luật như vậy, quả thật đã trấn áp được nhiều cuộc nổi loạn của thủy thủ trong quá khứ. Đă chứng tỏ được sức mạnh của phục tůng tuyệt đối trong các cuộc hải chiến giữa các hạm đội hay với hải tặc xưa kia. Nhưng xem ra, nguyên tắc lănh đạo như thế quá khô khan, gò bó! Cả 4 gã “Lưu Đày” chúng tôi đều phải cố gắng gò mình trong cái khuôn khổ mới. Tuy vậy, đối với các SQHQ (truyền thống) dường như đó là điều tự nhiên.

“Lưu Đày” không có thói quen ấy, không đặt nặng ranh giới giữa SQ, HSQ và Đoàn Viên. Sự hoà mình trong quan niệm chỉ huy có lúc trở nên một vấn đề bị chỉ trích trên chiến hạm. Có lần tôi bị Hạm Trưởng than phiền rằng: “Anh làm đục nước Hải Quân” khi ông thấy tôi có mặt trong một quán nhậu chung với các thủy thủ. Hạm Trưởng rất đúng trong phương cách tạo sự cách biệt, důng uy quyền để chỉ huy. Nhưng chúng tôi không được huấn luyện như vậy. Trường Bộ Binh dạy chúng tôi lối chỉ huy của một SQ Bộ Binh, biết vận dụng sức lực của con người qua tâm lý “đồng tâm cộng khổ”, “huynh đệ chi binh”, cái nhìn chỉ huy mang tính cách liên đới “tình cảm” trong đó có trách nhiệm của người anh và bổn phận của đàn em. Cái nhìn gắn chặt “đội hình”, nghĩa là toàn đội và đồng bộ. Bởi vì rất dễ hiểu, khung cảnh sống của binh sĩ Bộ Binh không bị cô lập như các thủy thủ trên một con tàu giữa đại dương. Vã lại, “uy quyền” của một trung đội trưởng Bộ Binh tác chiến không đủ để áp lực, buộc các thuộc cấp xung phong thí thân xuyên thủng phòng tuyến địch nếu không có sự liên hệ tình cảm trước khi tuân phục. Muốn vậy, người SQ vừa là cấp chỉ huy nêu gương dũng cảm lại phải vừa là người anh được sự thương mến, gần gũi của đàn em.

Thời gian trước Hiệp Định Paris 1973. Chúng tôi rất bận bịu, hải pháo ngày đêm, tuần tiểu không thấy ngày về bến. Thường thì nhận tiếp tế ngoài biển. Nhưng đôi khi cũng có ghé vào một vài căn cứ vùng duyên hải. Rồi lại đi ngay, chẳng có chi đội nào được đi bờ. Những lúc ấy thật là thiếu vắng cái không khí sinh hoạt của đất liền. Tôi thèm lắm màu xanh lá cây, thèm lắm một chút xe cộ, bụi đất và cũng nhớ lắm hình ảnh xum họp gia đình. Biển cả đâu phải chỉ có những ngày rì rào nắng ấm, con tàu đâu phải chỉ êm đềm rẻ sóng trùng dương. Đã bao lần chiến hạm phải đặt trong tình trạng kín nước, đương đầu với sóng gió băo táp, sương mù. Mũi tàu như cắm vào biển cả và chân vịt như gầm gừ giữa khoảng không. Những cái lắc nghiêng ngả, xô đẩy, răn rắc của vỏ tàu… và những chàng Thủy thủ bơ phờ xiểng niểng, vài chàng mắt mũi lem nhem, tay bám thành tàu, tay xách thùng sô ói mửa… Chiến hạm trân mình xuyên qua từng đợt sóng dữ dội, hất té những con chuột say mèm sóng gió xuống sàn tàu, quay cuồng rồi lăn tòm xuống biển. Tôi mệt mỏi, bơ phờ, nhưng đầy thích thú.

Vào năm 1972. Một phái đoàn “Nghiên Cứu Phân Chim” của Bộ Quốc Phòng (?) gởi tháp tùng chiến hạm ra đảo Hoàng Sa. Trong buổi chiều, trước giờ hoàng hôn, biển bắt đầu động nhẹ, chúng tôi vài người còn nán lại ở sân mũi, chuyện trò. Bất ngờ, một vị Trung Tá Phòng 7 TTM thuộc phái đoàn, bước ra và nhập bọn với chúng tôi. Trong câu chuyện vui vẻ, ông nói : “HQ mấy anh sướng quá! Ăn cơm ngồi bàn, muỗng nỉa. Ngủ giường nệm trắng, tắm nước nóng. Chẳng bù với chúng tôi, muỗi mòng, vắt đỉa, sình lầy, gạo sấy, mưa nắng vất vả”! Đang nói, bất ngờ ông lợm giọng, ói một ngụm xuống biển (cho cá ăn!). Chúng tôi biết ngay là ông đang say sóng, nhưng không ai nói ra, chỉ đề nghị ông vào phňng nghỉ ngơi. Ông không chịu! Cho đến ngụm thứ 3 thì ông từ giả, “Có lẽ tôi bị trúng gió. Thôi chào các anh em nhé!”. Dáng ông nghiêng ngả theo nhịp lắc của con tàu . Chúng tôi nhìn theo cùng cười và thông cảm. Những ngày sau đó, chúng tôi không hề thấy ông, kể cả giờ cơm ở phòng ăn SQ. Thời gian công tác rồi cũng qua, tàu về neo ở cửa Tiên Sa Đà Nẳng. Chúng tôi tiển đưa phái đoàn qua PCF để vào bờ. Vị Trung Tá P7/TTM hôm ấy, đă đến bắt tay tôi, nụ cười thật tươi như sắp thoát khỏi một hoạn nạn. Ông nói, “Tôi nghĩ đi lính Bộ Binh sướng hơn!”.

https://i1.wp.com/www.navsource.org/archives/09/43/09433607.jpg

Đời lính thủy đâu có phải chỉ đương đầu với sóng gió. Phía sau giấc mộng hải hồ là cả một thử thách, những khứng chịu của sự cô đơn, của tách rời, của thèm khát mà một người trong đời sống bình thường không thể nào có thể cảm nhận và thông cảm được. Tôi chợt nhớ đă đọc được trên lưng chiếc Jacket của một anh Hạ Sĩ Giám Lộ, “HQ2 cù lao sắt”, hoặc là hàng chữ xâm trên tay của một chàng Thủy Thủ Vận Chuyển, “Xa quê hương nhớ mẹ hiền” . Hay những dòng chữ nguệch ngoạc “Ôi biển cả bây giờ ta mới biết. Mộng hải hồ giết chết cuộc đời ta!” trên một giường bố nào đó, trong phòng ngủ đoàn viên. Tôi hiểu rất rõ sự khứng chịu ấy và hòa nhập hoàn toàn vào những cảm xúc thiếu vắng của họ. Đời thủy thủ là như thế đó. Nhưng bổn phận, trách nhiệm và kỷ luật đã gắn chặt tất cả chúng tôi với biển cả bằng một sức chịu đựng chân thŕnh.

Về Sài Gòn. Quả như cánh cửa thiên đàng mở rộng, lòng chúng tôi hân hoan vô kể. Những bộ tiểu lễ được đem ra mặc và nhiệm sở dàn chào thật nghiêm trang, đầy hãnh diện. Lâu lắm, chúng tôi mới được trở lại thủ đô mến yêu. Tàu có 3 chi đội, nhưng đâu phải được đi bờ 100%. Chúng tôi luân phiên, một chi đội rời tàu đi bờ. còn lại 2 chi đội, ứng trực và trực phải có mặt trên tàu 24/24. Một lần tàu về Sài Gòn. Gặp lúc chi đội của tôi trực, nhưng anh em vẫn vui vẻ, náo nức chờ xuống phiên rồi sẽ đi bờ ngày hôm sau. Bất ngờ được lệnh nhận tiếp tế đạn tại chỗ và ra khơi công tác vào ngày mai. Lúc ấy vào buổi trưa, trời nóng bức. Tôi phải điều động cả 2 chi đội còn lại khoảng 20 người để chuyển 2000 viên đạn đại bác 127 ly từ một chiếc LCU cặp ở vị trí kế bên vào hầm đạn của chiến hạm. Lệnh công tác ban ra, chúng tôi như tiêu tan hết năng lực làm việc. Sau hơn 6 tháng xa gia đình, anh em ai cũng muốn về nhà. Ước mong tàu sẽ nghỉ được vài ngày. Nào ngờ chỉ mới một ngày, lại có lệnh đi!

Vì sự an toàn, đạn 127 ly có 2 phần rời, đầu và thân đạn. 2000 vięn đạn có nghĩa là 4000 lần chuyển đạn chia đều cho 20 người hôm đó. Trong trách nhiệm một SQ trực, tôi hiểu ngay sự khó khăn sẽ phải đương đầu đối với một hoàn cảnh tâm lý không thuận lợi như vậy. Tôi quyết định cởi áo, cůng với anh em ra khiêng đạn. Sau cùng chúng tôi hoàn tất trong hạn định. Tôi mệt lã, mồ hôi như tắm, mặt mày lem luốc, bước vào phòng ăn SQ để uống nước. Hạm Phó đă về chiến hạm từ năy giờ. Ông có mặt trong phòng ăn SQ lúc ấy. Thấy tôi, nét mặt ông bỗng trở nên hầm hầm, ông quát lớn :”ĐM, anh không biết chỉ huy! Không có tác phong. Anh bảo tụi nó làm chứ anh không phải làm! Thằng nào cải lệnh thì đá đít nó. Anh hiểu chưa?” Câu quát tháo ấy làm cơn giận của tôi suýt nổ bùng! Tôi hiểu tôi đă phạm qui định, vào phòng ăn SQ mà không ăn mặc chỉnh tề. Nhưng tôi lại nghĩ, đây là trường hợp bất khả kháng. Tôi cố gắng trình bày,”thưa HP, tôi đã hoàn tất nhiệm vụ được giao phó.”

Theo tôi, một người chỉ huy phải biết ước đoán, tiên liệu. Tůy theo hoàn cảnh, năng lực của thuộc cấp để đạt được mục đích là thi hành và hoàn tất lệnh của thượng cấp. Việc dùng uy quyền, la hét, đá đít thuộc cấp. Không nhất thiết và không phải là một cung cách chỉ huy hữu hiệu. Hai cái máy, nếu mở cùng một tần số thì nó sẽ hát như nhau. Nhưng nếu là 2 con người thì không thể áp dụng một “công thức” đối đăi như nhau được. Hơn thế nữa, buổi sáng sẽ khác buổi trưa. Chuyển đạn rồi được đi bờ sẽ khác với phải ra khơi… Người lính cũng là con người, và tôi cũng thế. Tôi nghĩ nhiều về thân phận của chính tôi, của những bạn bè đồng cảnh ngộ, của nhân viên thuộc cấp, lý tưởng và mục đích của cuộc chiến. Một ý niệm về trách nhiệm phục vụ rộng mở, không còn bị đóng khung hạn hẹp ở màu cờ sắc áo nữa. Trong cái nhìn xa hơn. Tôi tìm thấy được niềm tự hào góp phần phục vụ quê hương dân tộc.

Sân mũi báo cáo, neo đă về lại vị trí. Nhiệm sở kéo neo được giải tán. Chúng tôi vào nhiệm sở hải hành… Chiếm hạm rẻ sóng ra khơi. Qua làn khói đen từ ống khói, thành phố Vũng Tàu mờ dần ở phía sau. Một cảm giác bồi hồi lại dâng lên trong lòng. “Ra khơi”, từ ngữ thật lãng mạn, cái lãng mạn đầy ắp tính chất văn chương thơ phú! Ra khơi với đại dương mênh mông, với hoa biển, mỹ nhân ngư và ngàn sao lấp lánh… Tất cả đă một thời gợi trong tôi thật nhiều mơ tưởng. Giấc chiêm bao của tôi về con tàu và biển cả lớn lắm! Lớn như một ước vọng được tung hoành… Tôi bất chợt cảm thấy buồn cười và thương hại cho chính mình. Thực tế đã đập vỡ tất cả những giấc mơ bay bổng của tôi. Cuộc dấn thân thật sự, không giống như 2 tân thiếu úy vừa đến chiến hạm. Cái xuất thân phức tạp, đă làm mất đi niềm tự hào trong tôi. Bước đầu quân ngũ, đầy nặng nề, choáng váng trước những cú thôi sơn thực tế. Giấc mơ biển cả như tan tành! Tôi đă có ý định ra khỏi Hải Quân. Nhưng rồi cũng chính trong trạng huống đổ vỡ ấy, tôi nhận ra được cái giá trị và ý nghĩa của quan niệm phục vụ. Con người, một cách rất tự nhiên, luôn mong muốn, cố gắng tìm kiếm cho mình một chỗ đứng để được ngưỡng mộ. Muốn thế, thành tích, phong cách và tên tuổi phải được đánh bóng. Để rồi từ đó, xuất thân và truyền thống được đề cao. Thật ra niềm tự hào, tự nó, mang một ý nghĩa tốt đẹp qua việc phục vụ chung. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp nào đó, niềm tự hào rất có thể trở thành nguyên nhân của nhiều mặc cảm. Gây nên sự so sánh, mất đoàn kết.

Đi biển, một giấc mơ. Hải Quân, niềm hănh diện phục vụ. Lưu Đày một thân phận bẽ bàng! Tôi muốn thả lỏng tâm hồn. Tất cả chỉ còn là dấu vết của một đời người. Cho đến bây giờ. Sau hơn 30 năm, cuộc chiến đă chấm dứt. Bao nhiêu bạn bè đã ra đi? Bao nhiêu người là “Chiến Binh”, bao nhiêu người là “HQ Lưu Đày”, bao nhiêu người là “HQ Truyền Thống NhaTrang” , bao nhiêu người là “HQ OCS Hoa Kỳ” hay Úc Đại Lợi ?! Họ đă tự hào, đă xông pha chiến đấu và đă hy sinh. Trong cuộc chiến ấy, đạn quân thù nào có phân biệt được ai?!… Tôi nghĩ về những vị CHT hay HT đầy uy quyền, và thông cảm được sự cô đơn của họ. Những vách ngăn, rào cản do quyền bính, chức vụ tạo thŕnh, chắc hẳn đă làm cho họ nhiều trăn trở. Tôi nghĩ về những SQ, những con người nhiệt huyết, hăng say đă chôn vůi tuổi trẻ của họ cho lý tưởng tự do. Và tôi cũng nghĩ về những người lính, những anh em, bạn bè của tôi. Những người đích thực xả thân! Xả thân và xả thân… Một khối thương yêu chợt ập đến, đè nặng tâm hồn.

Tôi ngồi đây trong hình hài một người đàn ông 60. Trang sử đă lật qua. Tuồng hát đă hạ màn. Tôi rời sân khấu. Nhưng những dư âm dường như còn đâu đó. Như một hoàng hôn hạ kỳ năm nào trên biển cả, tôi thấy tôi, các bạn tôi, cả thủy thủ đoàn và con tàu đang xẩm dần trong màn đêm. Khi đčn hải hành được thắp lên, sau lái chiến hạm, màu trắng xóa của bọt biển chợt lấp lánh một thứ ánh sáng lân tinh. Ánh sáng ấy kéo dài, xa dần, tan dần, đưa tôi vào dòng ký ức. Bắt đầu lại một giấc mơ biển cả, tôi ngồi đóng những con tàu gỗ nhỏ, những sợi thun được bắn thật chính xác vào đám lính đồ chơi của phe bên kia. Giấc mơ tuổi trẻ bay bổng thật xa, không ranh giới và phân biệt.

LĐ. Nguyễn Hùng Sơn

http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?216987

PHNOM PENH, NGÀY ẤY CÒN ĐÂU?

kim thanh

Giữa tháng 7 năm 1971, tôi đang dẫn một trung đội tăng phái hành quân theo chiến dịch Phượng Hoàng tại một quận lỵ thuộc Tiểu khu Khánh Hòa thì nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu về Sài Gòn trình diện. Đối với một sĩ quan cấp nhỏ, trung úy như tôi, đó là một tin vui lớn. Không cần biết về làm gì. Ít nhất được xa chiến trường một thời gian.

https://i2.wp.com/batkhuat.net/images/trunguy-nguyenkimquy.jpg

Về Sài Gòn, tôi được Bộ Tổng Tham Mưu cho biết phải đi Phnom Penh làm thông dịch viên Pháp ngữ cho Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự. Từ ngày VNCH đưa quân sang xứ Chùa Tháp, nhiệm vụ của Phái Đoàn, như tên gọi, rất cần thiết trong việc liên lạc giữa hai quân đội bạn. Nhận sự vụ lệnh, tôi nghĩ đến nỗi thất vọng của ba mẹ tôi luôn mong ước tôi được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, nhàn hơn, thọ hơn chăng. Cam Bốt, lúc ấy, cũng đang tơi bời khói lửa.

I. Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự :

Ở chơi Sài Gòn ba ngày, tôi đi Phnom Penh bằng C47, chuyến bay đặc biệt chở đồ tiếp tế cho Phái Đoàn. Hơn một giờ sau, đến phi trường Pochengton. Trời nóng không thua gì Sài Gòn. Một thiếu úy còn trẻ, kém tôi độ vài tuổi, mặt mày trắng trẻo, mang súng ru-lô xệ ngang hông như cao-bồi Texas thứ… giả, trên mép gắn hờ điếu thuốc chưa đốt kiểu James Dean, một chân gác, nhịp nhịp, trên cây cản phía đầu xe jeep trắng, mang bảng số ẩn tế. Một tốp quân nhân, trong số có một thượng sĩ già, bước xuống máy bay, lên xe. Thấy tôi còn đứng lóng ngóng, anh thiếu úy không chào, chỉ hất hàm hỏi, “ông về Phái Đoàn hả, lên luôn, mắc cỡ gì nữa”. Dĩ nhiên, tôi thấy khó chịu, nhưng tự nhủ, đừng nóng, sẽ tính sau. Một chiếc xe dân sự khác chở đầy vật dụng đem xuống từ máy bay.

https://i2.wp.com/www.expat-advisory.com/sites/default/files/southeast-asia/cambodia/article_images/chinese-cambodian-community-swing-pendulum_rue-n-13_march-20-2012-1119am.jpg

Xe chạy bon bon trên những đường phố vắng, và đặc biệt rất sạch, có những hàng cây thẳng tắp hai bên đường cành lá sum suê, và những vườn hoa rực rỡ sắc màu. Vừa lái, anh thiếu úy tự giới thiệu, Nguyễn An Hòa, và sau này, tôi biết thêm anh là con của Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tham mưu trưởng Liên quân, ở trong Phái Đoàn, giữ một chức mà chính anh gọi đùa là “trưởng ban cà nhỏng”, muốn làm gì thì làm.
Sau hơn nửa giờ, đến trụ sở Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, một building đồ sộ trên đường Norodom. Tôi được đưa thẳng lên lầu hai trình diện Trưởng phái đoàn, Đại tá Tô Văn Kiểm. Ông dáng gầy, tầm thước, rất ít nói, nét mặt khắc khổ, nhưng hiền lành, đôi mắt biểu lộ một tấm lòng nhân hậu. Lần đầu gặp ông, tôi thấy có cảm tình ngay và an tâm. Rồi ông dẫn tôi đến một phòng lớn, toàn là sĩ quan cấp tá đang ngồi làm việc, và giới thiệu:

-Trung úy Nguyễn Kim Quý, thông dịch viên mới của Phái Đoàn.

Có đủ các Phòng Ban, các ngành Hải, Lục, Không quân. Tôi còn nhớ bên Hải quân có Thiếu tá trẻ tên Khôi (quên họ), Không quân có Trung tá phi công già Trịnh Hảo (Văn?) Tâm. Có Trung tá Nguyễn Kiên Hùng, TQLC, người hùng trong vụ đảo chánh cụ Diệm năm 1960, ở phòng 2 hay 4. Đặc biệt có Trung tá Nguyễn Văn Nam, trưởng phòng 5, chồng của nghệ sĩ Mộng Tuyền, dáng dấp hào hoa phong nhã. Trung  tá Nam bước đến vỗ vai tôi, bắt tay, thân mật, nói liền một câu tiếng Pháp, giọng khàn khàn:

– Bienvenu, mon frère!

Dân CTCT có khác, tôi khen thầm. Đại tá trưởng Phái Đoàn cho tôi nghỉ ba hôm, để quen nước quen cái. Ngủ trong dãy phòng sĩ quan cấp úy, gồm các phi công, sĩ quan hải quân, và bộ binh biệt phái công tác ngắn hạn, nghĩa là mới thấy đã biến đâu mất. Ăn tại “phạn xá”, dành cho sĩ quan cơ hữu, nghĩa là làm việc thường trực tại Phái Đoàn. Mỗi người góp tiền hàng tháng cho hai binh sĩ “hỏa đầu quân” đi chợ và nấu ăn chung.

Nguyễn An Hòa đưa tôi đi thăm một vòng building: phòng truyền tin, tiếp liệu, nhà bếp, nhà tắm, phòng ngủ của các hạ sĩ quan, binh sĩ. Tất cả đều chào đón tôi vui vẻ, niềm nở. Phòng Y tế có một bác sĩ và một y tá. Y sĩ trưởng là Thiếu tá Trương Kim Thành rất cởi mở, dễ mến. Sau này, khi rảnh việc, tôi hay mò đến phòng Y tế không phải để xin thuốc, vì lúc ấy còn trẻ đâu cần, nhưng để tán gẫu với anh về đủ chuyện, kể cả văn chương, nghề của tôi, và chữa bệnh hoa liễu, nghề của… chàng.

Tôi được chia văn phòng với Thiếu tá Son Sanjivith, sĩ quan liên lạc của quân đội Cam Bốt tại Phái Đoàn VNCH, sáng đến chiều đi, luôn mặc quân phục kaki vàng ủi thẳng nếp, mang cấp bậc trên cầu vai như lon Pháp, đeo kính trắng, dáng dấp quan văn hơn quan võ. Son Sanjivith nói anh là con của cựu Thủ tướng Cam Bốt Sơn Ngọc Thành –thủ tướng năm 1945 và 1972, bị ám sát hụt, đày về Việt Nam, rồi sau 1975 bị Việt Cộng bắt và chết trong khám Chí Hòa năm 1977– và cháu của chính trị gia Sơn Ngọc Minh. Tôi cũng không hỏi thêm. Anh không nói được tiếng Việt. Buổi sáng đầu tiên tôi vào nhận việc, anh pha cà-phê mời tôi uống, nói chuyện bù khú với nhau gần một giờ xài nhiều tiếng lóng Pháp, cười thích thú, bên khung cửa sổ, nhìn xuống con đường phía sau, song song với đại lộ Norodom. Rồi ai về bàn nấy. Anh ngồi cuối phòng, còn tôi gần cửa ra vào.

Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự không có thông dịch viên khá lâu, vì người tiền nhiệm của tôi, mãn hạn ba tháng, chưa có ai thay, nên giấy tờ ứ đọng. Giấy tờ không có gì “mật”, cũng thường thôi, của quân đội –đôi khi của chính phủ– Cam Bốt, viết bằng tiếng Pháp, gửi Phái Đoàn, nhờ chuyển cho Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn. Trước khi đến bàn thông dịch viên, văn thư đã được đọc bởi Đại tá Kiểm. Thư nào cần dịch ra tiếng Việt, và ngược lại, ông ghi “à traduire”. Thư trả lời, ông viết bằng tiếng Việt, mặc dù rất giỏi Pháp ngữ, cũng như các trưởng phòng, nhưng ông muốn có một bản dịch do một “chuyên viên” chính thức chịu trách nhiệm. Đôi khi ông gợi ý cho tôi trả lời thẳng bằng tiếng Pháp những bức thư không quan trọng. Ông rất hài lòng về những bản dịch của tôi, khen tôi trước các sĩ quan khác, và để tưởng thưởng, ông cho phép tôi, sau khi nộp bản dịch trong ngày, được đi chơi tùy thích, không phải ngồi “làm cảnh” ở văn phòng. Tôi thầm cám ơn Thượng Đế cho tôi thêm một vị chỉ huy quá tốt, giữa những vị chỉ huy quá tốt khác trong suốt đời lính.

Được phép, nhưng tôi lại không ra ngoài, thích ở văn phòng đọc sách, trừ khi Hòa đến rủ. Mà Hòa thì khoái đi lắm. Đúng hơn, khoái đi với tôi, có lẽ vì đồng trang lứa, đồng cấp úy, có lẽ vì tôi dễ tính, lôi đi đâu cũng được. Quen nhau, tôi thấy Hòa là một người bạn tốt, thẳng thắn, dễ thương, không bao giờ nói hoặc chơi xấu ai, dù bề ngoài có vẻ ngang tàng, bất cần của một công tử Con Ông Cháu Cha. Bên ly rượu, giữa hai làn khói thuốc, Hòa thường tâm sự về cuộc đời, ái tình, sự nghiệp của mình, và tôi được biết anh rất đắt đào, trong số có một ca sĩ cải lương trẻ đang lên mà anh xem như bồ ruột –đôi lúc dự tính “rước em dzìa dzinh luôn”, anh vui miệng kể.

Ra phố, Hòa và tôi diện áo quần dân sự, nhưng không quên lận lưng cây súng, juste dans le cas où… Hòa thường khoe cây mini-Colt dẹp, đẹp, nhỏ xíu, như cái hộp quẹt ga, tôi không chắc bắn có chết ai không. Ngoài những chiều Chúa Nhật dự thánh lễ tại nhà thờ Chánh tòa, nơi gặp gỡ của thành phần thượng lưu Cam Bốt cũng như ngoại quốc, nhất là Pháp, tôi xuống phố, một mình hay với Hòa, cũng chỉ để vào những tiệm ăn Tây, gần trụ sở Phái Đoàn gọi món poulet à la marengo hay civet au lapin, nhấm nháp vài ly rượu vang Bordeaux chánh hiệu. Hoặc lòng vòng quanh Chợ Trung ương (Marché Central) gần đại lộ Monivong và de Gaulle, ăn hủ tiếu Nam Vang –gọi là chính gốc Nam Vang, mà dở tệ hơn mì gói trụng nước sôi. Hoặc lượn trước cửa Lycée Preah Norodom, ngắm các tiểu thư mặc đồng phục váy màu xanh đậm, mặt hoa da phấn, ríu rít tan trường, mà lòng bồi hồi tưởng nhớ những bóng hình xưa cũ. Đôi khi Thiếu tá Son Sanjivith mời về nhà dùng cơm. Vợ anh là người Cam Bốt, xinh đẹp, quý phái, lịch sự. Đáp lễ, thỉnh thoảng tôi mời hai vợ chồng đi ăn những tiệm họ chọn. Theo lời khuyên của anh, tôi tránh vào những bars rượu, có bia ôm dĩ nhiên, vì người Miên, nhất là lính Miên hành quân trở về, súng ống đầy mình, không ưa Việt Nam. Một lần, lỡ bước vô, Hòa và tôi bị họ nhìn với cặp mắt cú vọ, khiêu khích, như chúng tôi đã nhìn lính Mỹ trong các quán bars ở Sài Gòn. Ngồi uống bia kiểu đó mất hứng và mất sướng. Ôm em trong tay mà hồi hộp không biết ăn đạn lúc nào.

Thỉnh thoảng, Trung tá Nguyễn Văn Nam cũng rủ tôi đi chơi riêng với ông. Khi thì ông gặp một người Miên lai môi giới hỏi mua chiếc xe Mustang rẻ, đem về Việt Nam miễn thuế, bắt tôi ngồi bên để ông lái thử xem máy chạy có tốt không. Khi thì đến ăn tối tại nhà một chị Việt Kiều quen ông. Khi thì đi thăm Chùa Prasat Prak, còn gọi là Chùa Bạc Chùa Vàng (sàn lót bằng hàng ngàn mảnh bạc và có một tượng Phật khổng lồ đúc vàng), hay vào hoàng cung lộng lẫy son vàng, mái lầu cong vút, bất ngờ nhìn thấy công chúa Bopha Devi, con vua Sihanouk, nguyên trưởng đoàn múa ballet hoàng gia, năm ấy 28 tuổi, ba đời chồng, đẹp mê hồn, bị giam lỏng cùng với gia đình và nhiều mỹ nữ.

Ngoài lương căn bản trong quân đội, do đơn vị gốc giữ hộ, các sĩ quan Phái Đoàn được lãnh thêm tiền phụ cấp công tác hàng tháng bằng đô la xanh. Tôi cấp nhỏ, độc thân, lãnh khoảng $180, đổi ra tiền riel, vật giá lại rẻ, cũng đủ xài hết tháng, một cách đế vương, có khi còn dư chút đỉnh.
Ban đêm, Phái Đoàn tự lo an ninh. Tất cả sĩ quan luân phiên trực trại, tuần tra bên trong tường building cùng với hai binh sĩ trang bị M16 và lựu đạn. Buổi sáng, nếu không có chuyện gì, ghi vào sổ “rien à signaler”, vô sự. Một vài đêm cuối tuần, không biết làm gì để giết thời gian, các sĩ quan, chờ cho Đại tá Kiểm đi ngủ, gầy sòng phé đánh giải trí. Tôi và Hòa được rủ tham gia. Ai không chơi, ngồi ngoài chầu rìa, tình nguyện đóng vai “thầy bàn”. Tôi mang danh “thầy cúng”, vì thua triền miên. Trung tá Nam đánh rất bạo, mới nước thứ hai đã tố xả láng, tapis (Mỹ gọi là “all in”) liền, thua hết tiền, đứng dậy, tỉnh queo, nhưng thường thường ông thắng, vì đa số nhát, không dám bắt dù đoán ông tháu cáy. Một đêm, đang sát phạt, Đại tá Kiểm bất thần xuất hiện. Ông ghét cay ghét đắng cờ bạc, nên la mắng tận tình, từ cấp trung tá trở xuống, ai nấy ngồi yên, chịu trận. Nhưng qua hôm sau, ông vui vẻ trở lại, coi như không có chuyện gì xảy ra. Những trận phé chui, vì thế, vẫn tiếp diễn trong hồi hộp.

Nói lại công việc dịch. Thực ra, lúc đầu, tôi cũng vất vả với những danh từ quân sự và khuôn mẫu xã giao, cả Việt lẫn Pháp, mặc dù nội dung không có gì khó khăn, gây cấn. Vài lá thư thường xuyên than phiền về việc làm của một, hai đơn vị QLVNCH trong làng xã gần biên giới. Vài thư chia sẻ tin tức quân sự, báo cáo, tổng kết công tác phối hợp. Một số ít thư qua lại mang tính cách ngoại giao như mừng Ngày Quân Lực VNCH, chia buồn vụ Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, hoặc, ngược lại, những lễ lớn của quân đội Cam Bốt. Son Sanjivith cho tôi một quyển cẩm nang về cách viết công văn bằng tiếng Pháp với những câu xã giao có sẵn. Cứ thế mà ráp vào. Sau hai tuần, tôi quen, và bất kỳ văn thư dài ngắn, tôi chỉ đăm chiêu suy nghĩ một hồi, gõ máy chữ (lúc ấy chưa có computer) hai mươi phút là xong. Rồi thay đồ dân sự. Tự do như gió.

Đôi khi tôi đến sân tennis, gần phi trường Pochengton, múa vài đường banh cho giãn gân cốt, kiểu trưởng giả học làm sang, chứ không mong ăn cái giải gì. Nhờ vậy, một ngày đẹp trời, nhân đi xem một trận đấu quốc tế tôi được gặp tại đó một bạn JECU (Thanh Sinh Công Đại Học) cũ, xinh đẹp, vô cùng dễ thương, Yvette Trương Tấn Trung, cựu sinh viên Dược Sài Gòn. Tha hương ngộ cố tri là một trong tứ… vui. Cả hai hết sức ngạc nhiên, ôm chào nhau mà miệng cùng lúc hỏi nhau một câu giống y chang: “Mais qu’est-ce que tu fais ici?” (Nhưng mà toa làm gì ở đây?). Yvette lấy chồng người Cam Bốt, bạn học trường Dược ở Paris, về Phnom Penh mở một tiệm thuốc Tây, cũng gần đó. Hỏi thăm nhau nhiều chuyện mới, ôn lại nhiều kỷ niệm cũ. Yvette ghi địa chỉ và số điện thoại mời “toa hôm nào đến nhà tụi này chơi.” Tôi hứa, rồi lại quên, cho đến ngày trở về Việt Nam, lên phi trường Pochengton, mới sực nhớ, nhưng trễ quá, không làm được gì nữa. Sau 1975, thỉnh thoảng tôi tự hỏi không biết Yvette và chồng con có thoát được nạn Khmer Đỏ. Năm 1988, tôi ở Paris, tìm trong niên giám điện thoại tên Yvette Trương. May quá, gọi được. Tôi nói, xin lỗi đã không đến thăm ở Phnom Penh và mừng vì Yvette và gia đình trở lại Pháp trước 1975. Lúc ấy, tại Paris, Yvette làm trong một hãng bào chế thuốc.

Một hôm, bà Mộng Tuyền qua Phnom Penh thăm chồng. Thực sự, tôi chỉ nghe tên bà, chứ chưa hề diện kiến dung nhan và cũng chẳng biết bà hát tân nhạc hay cổ nhạc nữa. Quả thật, danh bất hư truyền. Bà rất đẹp, nước da trắng như trứng gà bóc, lại lịch thiệp, gọi tôi bằng “chú” (em). Nhân dịp, Trung tá Nguyễn Văn Nam rủ tôi cùng đi với ông bà, và vài sĩ quan khác, thăm trại Việt Kiều Phnom Penh, gần bến tàu, dưới quyền kiểm soát của chính phủ Miên. Năm 1970, sau khi Lon Nol, với sự trợ giúp của hoàng tử Sirik Matak lật đổ vua Sihanouk (Sirik Matak thuộc dòng chính, đáng lẽ lên ngôi vua, nhưng Pháp chọn Sihanouk, nên rất hận ông này), những người Việt Nam, dù sinh trưởng tại Cam Bốt đã lâu đời, đều bị bắt giết dã man trong thảm nạn “cáp duồng”. VNCH phản ứng chậm, và hàng ngàn người đã chết, như báo chí Việt Nam thời ấy tường thuật. Một số được hồi hương. Một số đang chờ tàu hải quân chở về Việt Nam, như trại tập trung Việt Kiều mà chúng tôi đến thăm. Xem như đi công tác CTCT và sợ bị “cáp duồng” bất tử, chúng tôi được lệnh mặc quân phục và mang theo hai cây M16.

Trại nằm trong khuôn viên một ngôi chùa lớn, trên một sân rộng, có hàng dây kẽm gai vây quanh và rải rác cả trăm lều vải. Hầu hết là những gia đình, đầy trẻ em nheo nhóc, làm ruộng hoặc đánh cá, không nói hoặc nói ít tiếng Việt. Da ngăm đen, trông không khác người Miên, tay chân khẳng khiu vì thiếu dinh dưỡng. Cảnh sống quá thảm thương. Tôi bước theo ông bà Trung tá Nam và Thiếu tá Khôi Hải quân, thăm hỏi một số đồng bào. Một cô trẻ đẹp, khoảng mười tám, da trắng, môi thắm tự nhiên, ngồi một mình buồn bã ở một góc lều. Chúng tôi dừng lại. Thấy tôi, cô nghẹn ngào khóc:

– Anh cứu em với.

– ?

– Cả gia đình em ở Kompong Thom bị giết chết hết. Em chạy trốn được xuống đây. Em chưa có chồng, anh lấy em đi, em mới thoát được chỗ này.

Tôi biết cô nói thật, và có thể với nhiều người khác, vì quá tuyệt vọng. Trung tá Nam nhìn tôi, rồi nhìn cô, an ủi:

– Tàu Hải quân sắp lên đón đồng bào về Việt Nam. Cô đừng lo.

Còn tôi móc bóp, tặng cô một trăm riel, tương đương năm đô. Cô lắc đầu, không lấy, khóc nức nở thành tiếng. Tôi đặt số tiền dưới chân cô, chào và đi thẳng. Viết đến đây, tôi thầm hỏi, cô giờ này ở đâu, còn sống hay đã chết, hỡi cô gái tỵ nạn không biết tên, nạn nhân của chiến tranh ngu ngốc và độc ác của loài người –một Barbara trong thơ của Prévert?

II. Soriya :

“Sweet Helen, make me immortal with a kiss”
(Christopher Marlowe, XVIth c., Faust)
“You gods […] ought to be ashamed of yourselves! You are always jealous…”
(lời Calypso nói với thần Hermès, trong The Odyssey của Homère, quyển V)

Tòa đại sứ VNCH gần Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, trên đường Norodom, nếu tôi nhớ không lầm. Tôi chỉ đến hai lần. Lần đầu vào đầu tháng tám, 1971, khi ông Đại sứ Trần Văn Phước mở một tối tiếp tân, tôi không nhớ nhân dịp lễ nào. Cả Phái Đoàn được mời tham dự. Đèn hoa treo rực rỡ, sáng trưng. Có một số đại diện đồng minh, như Mỹ, hay Lào, Nhật, Thái Lan, Miến Điện… Ăn theo kiểu self-service, rượu vang và champagne uống thả giàn. Một cô Cam Bốt, tay cầm ly rượu, tay cầm đĩa thức ăn, đến bàn tôi, xin ngồi cùng. Và tự giới thiệu, Soriya, thư ký đả tự của Tòa đại sứ Việt Nam. Cô nói tiếng Pháp lưu loát, giọng trong vắt. Trong câu chuyện, cô hỏi tôi có phải là Trung úy thông dịch viên, nghe danh Trung úy lâu rồi, hôm nay mới được làm quen, v.v… Cô dáng cao gầy, nước da bánh mật, có chiếc răng khểnh xinh xinh, nhưng lúc ấy rượu vào, lại được ngồi cạnh người đẹp, tôi thấy cô quyến rũ khác thường, còn hơn cả tiên nữ giáng trần. Lòng lâng lâng yêu đời, tôi bắt đầu trổ tài tán dóc, nghĩa là nói nhiều, nói dai, nói giễu hơn thường lệ. Cô kể, em quê ở Battambang, học tới Bac II, rồi đi làm, hôm nào mời anh đi về quê em chơi… C’est promis? –C’est promis. Tôi hứa đại.

Lần thứ hai tôi đến Tòa đại sứ, mười ngày sau. Tìm gặp Soriya, một buổi trưa, không hẹn trước. Cô đang đánh máy, thấy tôi, vội vàng chạy ra cửa, ôm hôn theo kiểu Đầm, mỗi má hai chiếc. Tôi mời cô tối ra phố ăn cơm. Trong tiệm, một lúc nào đó, tôi nói:

– Tên em đẹp quá. Soriya có nghĩa gì vậy?

– Mặt trời. Mặt trời sưởi ấm những trái tim lẻ loi. Anh có tin là em cô đơn?

Tôi siết nhẹ tay cô:

– Có. Bien sûr. Người ta không nói dối khi nói mình cô đơn. On ne ment pas quand on dit qu’on est seul. Hình như câu đó của James Jones trong Tant qu’il y aura des hommes.

Rồi bỗng cô ngập ngừng, hỏi:

– Sao anh lại chọn nghề này, em muốn nói, nghề lính, bắn giết nhau, hay ho gì?

Tôi nhìn sâu vào mắt cô, để tìm xem có ẩn ý nào không, rồi chậm rãi trả lời:

– Trong lúc đất nước chiến tranh, tôi không có sự chọn lựa. Đi lính càng không phải là một chọn lựa. Có lẽ tại số. Trước khi biệt phái sang đây, tôi là lính chiến, đã bắn và bị bắn trả. Huề. Có một điều bí mật tôi muốn chia sẻ với em mà em chưa được học từ bài học philo hay littérature nào. Đó là loài người chúng ta thường bị ganh tị bởi những vị thần linh bất tử…

Cô im lặng, chưa hiểu. Sau một hớp rượu, tôi tiếp:

– Tôi đọc ở đâu đó, trong L’Iliade hay L’Odyssée của Homère, tôi không nhớ chắc, rằng các vị thần linh trong thần thoại vì là bất tử nên thường hay ganh tị với loài người, ils nous envient, tu sais, bởi chúng ta ai cũng phải chết một ngày, sớm hay chậm hơn, mười năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Cho nên, mỗi một ngày trần thế của chúng ta, của em, của tôi trở thành đẹp vô ngần, quý giá hơn cả ngọc ngà, châu báu. Cũng trong L’Iliade, có đoạn viết rằng các vị thần đứng đầu là Zeus, tức Jupiter, chia làm hai phe trong cuộc chiến giữa thành Troie và Hy Lạp. Họ thèm được đánh nhau như loài ngưòi. Tôi suy diễn, thèm được chết như loài người. Vois-tu, Soriya, les dieux qui sont immortels et ceux qui se croient immortels n’ont pas le lugubre plaisir, ou plutôt l’agréable malheur, d’être condamnés à mourir, à attendre la mort à chaque instant… comme nous tous, comme moi, comme toi, d’ailleurs. Thần linh bất tử không có cái diễm phúc bi thảm, nỗi đau thương dịu dàng được chết, được chờ đợi cái chết đến, từng phút, từng giây, không có thảm kịch bị án phải chết bất cứ lúc nào, như kiếp người mong manh. Như những người lính xông pha ngoài chiến địa… Không bao giờ tôi thấy đời đẹp, và em đẹp hơn là lúc này, khi biết đâu ngày mai ta không còn thấy nhau nữa. Em hiểu tôi chứ?

Soriya suy nghĩ, trầm ngâm, hồi lâu, rồi nói:

– Em hiểu và biết thêm nhiều điều lạ. Merci, mon cher ami.

Trước khi chia tay, cô lại nhắc chuyện đi thăm Battambang. Promis? –Promis. Tôi lại hứa.

Mãn hạn ba tháng, tôi xin Đại tá Tô Văn Kiểm cho về Việt Nam, mặc dù ông –và cả Nguyễn An Hòa và Trung tá Nguyễn Văn Nam– cố thuyết phục tôi tiếp tục làm việc tại Phái Đoàn, thậm chí đề nghị cho nghỉ phép một tháng với gia đình, rồi trở lại cũng được. Mặc dù rất nhiều người thích qua Phnom Penh, thay chỗ của tôi. Tôi cũng không hiểu tại sao muốn về Việt Nam, trong khi không có vợ con, người yêu để mà vướng bận. Có lẽ vì chán khung cảnh thành phố hàng ngày đơn điệu, trống rỗng, và thấy nhớ núi rừng và mùi hương cau, hương bưởi của những ngày hành quân qua các thôn nghèo và cánh đồng cằn cỗi, những trẻ em và phụ nữ bị thương vì mìn Việt Cộng. Không còn ước mơ được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn nữa.

Tôi không từ giã Soriya. Lời hứa đi thăm quê nàng bay theo mây khói. Mười ba năm sau, 1984, tại trại tỵ nạn Bataan, Philippines, chợt nhớ Soriya quay quắt, và ân hận vô vàn, tôi đến khu người Cam Bốt, tìm nàng và hỏi thăm tin tức. Soriya. Không ai biết. Không chừng, năm 1975, Soriya đã bị giết bởi bọn Khmer Đỏ, một người bảo tôi, vì là nhân viên của Tòa đại sứ VNCH. Battambang “quê em” mỗi ngày một xa lắc lơ, biết bao giờ đến được? Tôi bỗng nhớ lời tôi đã nói với nàng trong tiệm ăn năm xưa: “Những vị thần bất tử thường hay ganh tị chúng ta…”
Soriya có lẽ đã bị giết như hai triệu người Cam Bốt đồng hương. Như, có lẽ, Thiếu tá Son Sanjivith. Như, chắc chắn, Sirik Matak, cựu thủ tướng của họ.

III. Sirik Matak :

“My soul, do not seek immortal life, but exhaust the realm of the possible”
(Pindar, 518-438BC, Pythian Odes, III, 109)
Đại sứ Mỹ Sirik Matak
John Dean rời Phnom Penh đến Thái Lan (1914-1975)
Hình lấy từ The Fall of the South, 1985 Hình lấy từ Internet

Một hôm, Đại tá Kiểm bảo tôi ăn mặc chỉnh tề, lên chiếc xe Limousine hay Mercedes, tôi không nhớ, của Phái Đoàn, đi với ông đến dinh Hoàng thân Sirik Matak, quyền Thủ tướng trong thời gian Lon Nol chữa bệnh ở Hawaii. Để họp, ông giải thích, cùng với những nhân vật quan trọng khác. Tôi biết Đại tá Kiểm không cần sự thông dịch của tôi, mà không hiểu sao vẫn dẫn tôi theo, có lẽ vì lòng thương mến dành cho tôi, tôi chủ quan nghĩ như vậy. Trong khi các vị họp hành, bàn luận, tôi tìm chỗ ngồi phía dưới cùng, lắng nghe, quan sát.

Sirik Matak có nét mặt xương xương, người gầy, dong dỏng, vẻ thông minh, nhã nhặn, nói tiếng Pháp sành sỏi. Qua bài diễn văn ngắn của ông (tôi không nhớ chính xác câu nào, mà chỉ những allusions, liên tưởng xa xôi, bóng gió bằng ngôn ngữ ngoại giao, với những động từ chia ở mode conditionnel hay subjonctif, như nous ne croirions pas que…, tout nous aurait indiqué que…, quoi qu’on puisse en dire, nous aurions de bonnes raisons pour…) tôi đánh hơi cảm nhận nơi ông một sự hoài nghi về những lời cam kết và lòng trung thành của người Mỹ đối với Cam Bốt và sự dị ứng cá nhân đối với người Việt Nam, dù Quốc gia hay Cộng sản. Nhưng ông nói rõ, ông cần sự hỗ trợ của Mỹ và Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Cộng sản Bắc Việt, kẻ thù của đất nước ông, đang được đỡ đầu bởi Trung Cộng (lúc ấy có tòa đại sứ, hay lãnh sự, tại Phnom Penh). Đó là lần duy nhất tôi thấy ông. Từ đó, tôi không bao giờ nhớ đến Sirik Matak nữa.

Cho đến những năm gần đây, tên ông bỗng trở về trong ký ức. Quả vậy, cứ mỗi dịp tưởng niệm ngày 30/4, đồng hương lại đem đăng tải và dịch trên báo lá thư từ chối đi Mỹ của ông gửi đại sứ John Gunther Dean. Để tôn vinh ông như một anh hùng. Trong bức thư quá nổi tiếng ấy –mà nhà báo và bình luận gia chính trị Gabriel Schoenfeld xem như một trong những tài liệu quan trọng nhất của cả thời kỳ chiến tranh Việt Nam– có một cụm chữ mà không ai dịch đúng, từ dịch giả Phạm Kim Vinh (trong Tháng 4 đen, Vietnam xuất bản, 1988) đến những bản dịch trên mạng, trong câu: “But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad [tôi nhấn mạnh] because we are all born and must die one day”. Tiếng Pháp: “Mais, notez-le bien, si je meurs ici, dans mon pays que j’aime, tant pis, car nous sommes tous nés et nous devons mourir un jour” (Olivier Todd, Cruel Avril, nxb Robert Laffont, 1987, tr. 274).

Phạm Kim Vinh dịch cụm từ too bad và tant pis thành: “cũng chẳng sao” (sđd, tr. 225). Chết cho quê hương mình yêu dấu đâu phải là chuyện nhỏ, mà “cũng chẳng sao” ư? Còn trên mạng thì được dịch: “đó là điều tệ hại”, hoặc tương tự. Chết cho đất nước như thế, tại sao lại là “điều tệ hại”? Chứng tỏ người ta không hiểu rõ tâm tư của tác giả, Sirik Matak, và lý do khiến ông, mặc dù nói cứng như vậy, vào phút chót đã chạy vào lãnh sự quán Pháp để rồi bị đẩy ra nộp giao cho bọn Khmer Đỏ và sau đó bị giết.

Quả vậy, too bad và tant pis, theo nghĩa thông thường và cảnh huống (contexte) của bức thư phải được dịch là “mặc kệ tôi”: “… Nếu tôi phải chết ngay tại đây, trên đất nước của tôi mà tôi yêu mến, thì cũng mặc kệ tôi, bởi vì tất cả chúng ta được sinh ra và phải chết một ngày…” “Mặc kệ tôi” hàm chứa một sự bất cần, và nhất là, ở đây, một sự uẩn ức, đối với đối tượng của bức thư, tức là chính phủ Mỹ –đã quyết định bỏ rơi Cam Bốt. Nghĩa là, tôi có chết thì cũng mặc kệ tôi, các người đừng thương tiếc làm gì, đừng nhỏ giọt nước mắt cá sấu, v.v… Điều này rất “người” (humain), nghĩa là hợp với tâm trạng chán chường, bất lực và ngôn từ bực bội của một nhà lãnh đạo một nước yếu đang thấy mình bị phản bội bởi một đồng minh mạnh hơn. Giận người đã đành, mà còn giận chính mình đã cả tin vào người Mỹ: “I have only committed the mistake of believing in you, the Americans”. Câu đó làm tôi nhớ bài diễn văn năm xưa của ông đã được nghe trong buổi họp. Ông đã đúng khi nghi ngờ người Mỹ. Người Mỹ đã phản bội ông, quốc gia của ông thật sự. Rõ ràng, trắng trợn. Cũng như đã phản bội kháng chiến quân Cuba năm 1961 trong vụ Bay of Pigs, Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, quốc vương Shah của Iran năm 1979, và Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, đồng minh lâu đời, tháng 2/2011… Ví dụ còn nhiều. Cũng vì vậy mà Sirik Matak mới từ chối đề nghị giúp đỡ ra đi bởi chính phủ Mỹ trong một lá thư riêng gửi cho nhân dân Mỹ qua ông đại sứ Mỹ. Vấn đề chỉ là cá nhân giữa ông và Mỹ. Như thế, không có nghĩa, và không có đoạn nào ám chỉ, ông sẽ từ chối mọi sự giúp đỡ, nếu có, nếu cần, của những tòa đại sứ khác, chẳng hạn. Thế thôi. Có như vậy người ta mới hiểu tại sao ông đã xin tỵ nạn trong lãnh sự quán Pháp.

Phải công nhận bức thư của Sirik Matak, dù được viết trong bối cảnh nào, quả là tuyệt vời. Bức thư với giọng nhẹ nhàng, lịch sự mà vô cùng cay đắng, kiêu hãnh của một nhà lãnh đạo anh hùng, có khí phách, có trách nhiệm, không đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Một bản cáo trạng hùng hồn về sự phản bội, qua những câu bình dị, nhưng làm nhức nhối tâm can.

Bức thư tuyệt vời, so với bài diễn văn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Chúng ta, những người lớn tuổi, còn nhớ buổi tối 21/4/1975, trong giờ tổ quốc lâm nguy, ông đã lên tivi, lúc thì đanh thép lúc thì nghẹn ngào, để tố cáo Mỹ như thế nào về việc cúp viện trợ cho Việt Nam, nghĩa là bỏ rơi Miền Nam, nào là “Hoa kỳ nuốt lời hứa. Bây giờ còn ai tin lời của người Mỹ?”, nào là “chúng ta không thương lượng với Mỹ để có vài triệu đô la giống như chúng ta đi trả giá ngoài chợ cá”, v.v… (xem các báo cũ Việt Nam và Mỹ như The New York Times, Los Angeles Times, v.v…). Đặc biệt, câu cuối cùng: “Tôi từ chức, nhưng tôi không đào ngũ. Tôi sẽ trở về với quân đội, chiến đấu sát cánh với các chiến hữu.” Năm ngày sau, ông rời khỏi Sài Gòn trong một chiếc Mercedes bịt kín, do một đoàn xe CIA hộ tống dưới quyền chỉ huy của Frank Snepp (cf George J. Church, “Saigon: The final 10 days”, Time Magazine, 4/24/1995), ra phi trường, có đại sứ Martin đứng chờ, để đi Taiwan trên chiếc máy bay C-130 sơn đen, với 15 tấn hành lý, và nếu ta tin lời Gabriel Kolko (The Guardian, Oct 2, 2001) “có hai va-li lớn đầy vàng”, hoặc David Lamb của tờ Los Angeles Times, “với số vàng trị giá 15 triệu dollars” (and USD 15 million in gold).

Một số phận, hai nhân vật. Bức thư của Thủ tướng Sirik Matak tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Cho nên đã được Henry Kissinger đọc cho Quốc Hội Mỹ, để họ nghe thấm thía thêm nỗi nhục nhã và hối hận, biết đâu! Cho nên được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như một tài liệu quan trọng, trong khi ở đó không có bức ảnh nào của ngũ tướng tuẫn tiết VNCH (tại sao, mặc dù vì niềm tự hào truyền thống không ai trong chúng ta đòi hỏi phải có?). Cho nên đã được người Việt tỵ nạn hàng năm đem ra đăng lại để tô rạng ngời thêm tấm gương dũng liệt của một lãnh tụ ngoại quốc, một đồng nạn nhân của sự tráo trở, phản trắc.

Nhưng, tiếp theo bức thư tuyệt mệnh ấy, vào ngày 17/4/1975, ông hoàng, cựu Thủ tướng Sirik Matak đã chạy vào lãnh sự quán Pháp, cùng với hai cận vệ –điều mà ít ai biết, chú ý hay còn nhớ– và những viên chức cao cấp của chế độ: Ung Boun Hor, chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, Long Boret, thủ tướng đương nhiệm, công chúa Mam Manivane, gốc Lào, vợ thứ sáu của Sihanouk, con gái, con rể, và hai cháu ngoại của bà, và nhiều người khác, không dưới 100. Dù không được mời. Dù bị xua đuổi thẳng thừng, thô bạo, và giao nộp cho Khmer Đỏ ba hôm sau, để tất cả bị giết sạch, kể cả đàn bà con nít, bởi loài thú hung hãn mang hình người.

Tấn thảm kịch này được kể lại, kèm theo hình ảnh, bởi nhiều nhân chứng, tác giả Pháp, Mỹ, Miên, từ Olivier Todd, François Bizet (Le Portail, La Table Ronde, 2000), đến Henry Kamm (Cambodia: Report from a Strickenland, Arcade Publishing, 1998), v.v…, và những ký giả quốc tế. Kể lại bởi những phiên tòa quốc tế xét xử bọn Khmer Đỏ. Và nhất là bởi vụ kiện được thụ lý từ tháng 4/2008 tại tòa án Créteil, Paris, do bà góa phụ Billon Ung Boun Hor, tác giả quyển Rouge barbare (Ed. Respublica, 2009), khởi tố chính phủ Pháp đã ra lệnh nộp chồng bà cho Khmer Đỏ –vụ án mà tất cả báo chí Pháp tường thuật, đang làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Pháp, cũng như bức thư của Sirik Matak, từ 36 năm trước, đã làm thức tỉnh và hỗ thẹn lương tâm người Mỹ.


Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.

Chính phủ Pháp không xấu, nhưng trong vấn đề chính trị, thường phá bĩnh, chọc gậy bánh xe, ganh đua với người Mỹ, vì mặc cảm hay hội chứng de Gaulle –chịu ơn Mỹ, nhưng vẫn ghét Mỹ. Tại Việt Nam, người ta chưa quên hành động lăng xăng của ông Jean-Marie Mérillon và Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn giữa Dương Văn Minh và bọn Giải phóng Miền Nam và Cộng sản Bắc Việt trong những ngày cận kề 30/4, tự nguyện làm trung gian cho một chính phủ trung lập, để rồi bị bọn xâm lăng miền Bắc sau khi chiến thắng đuổi chạy có cờ. Thật ngây thơ, như muôn đời họ vẫn. Và riêng ở Phnom Penh, tháng 4, 1975, con cháu của những anh hùng Charlemagne, Jeanne d’Arc, và Napoléon đã quá hèn nhát, một cách độc ác, tồi tệ.

Nhưng thôi, có ai học được chữ ngờ? Tôi xin ngưng ở đây. Việc này hãy để công lý, lịch sử và thời gian xét xử, và không là chủ đích bài viết của tôi.
Điều tôi muốn bàn tiếp là tôi lấy làm tiếc, rất tiếc cho Sirik Matak –một người tôi đã thấy, đã nghe, đã đọc. Giá ông vẫn ngồi đó, tại bàn làm việc, và nhận phát đạn của Khmer Đỏ hay của chính mình! Bề nào thì cũng chết cho quê hương mà ông yêu dấu, như ông đã viết trong thư. Giá ông đừng chạy vào lãnh sự quán của Jean Dyrac! Để làm gì, nếu không mong bảo toàn sinh mạng và được cấp một trong 300 tờ hộ chiếu mà luật sư Patrick Baudoin của bà Billon Ung Boun Hor nói Jean Dyrac đã mang về Pháp còn trắng trơn? Như vậy, xin nhắc lại, việc Sirik Matak từ chối lời mời của John Dean chỉ là vấn đề cá nhân giữa ông và nước Mỹ. Từ chối lời mời của một đồng minh đầy quyền lực nhưng hai mặt, và gõ cửa một người bạn mình tưởng tử tế, nhưng quá hèn mạt, xua đuổi mình trong lúc hoạn nạn, hành động nào đúng hơn? Và trước khi bị giết, ông cựu thủ tướng có nghĩ rằng ông đã phạm một lỗi lầm nữa, đó là tin vào người Pháp, cũng như trước kia ông đã tin vào người Mỹ (chỉ cần đổi chữ the Americans thành les Français trong câu: “je n’ai commis qu’une erreur, ce fut de vous croire et de croire les Français”)?

Tôi không có ý phê phán Sirik Matak, vì tôi không là cái gì cả để dám xét đoán một vĩ nhân. Một lần nữa, tôi chỉ tiếc cho ông. Bức thư tuyệt diệu kia đã đưa ông lên ngôi vị anh hùng, héros, trong lòng tôi và dưới mắt hàng triệu người. Việc ông chạy lánh nạn tại lãnh sự quán Pháp đã đem ông xuống hàng mà tôi tạm gọi là “bán anh hùng”, demi-héros. “Bán anh hùng”, tức một nửa anh hùng, nhưng vẫn hơn người phàm tục, như tôi, như biết bao kẻ khác, gấp bội. Vẫn hơn những “đồng nghiệp” của ông bên kia dòng sông Mê Kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và một số lỉnh (dấu hỏi) tướng Việt Nam… Vẫn hơn “đồng hương” Lon Nol lúc ấy còn tắm nắng trên bãi biển Hawaii, và Sihanouk đang mở yến tiệc linh đình tại Bắc Kinh.

Tuy nhiên, cựu thủ tướng Sirik Matak có lẽ chưa biết gương tuẫn tiết của những anh hùng trong lịch sử Việt Nam cận đại: Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, đã không tìm đường thoát thân dù bị vây khốn, và quyết chết theo thành. Của Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ cố vấn Ngô Đình Nhu, dù nếu có phạm khuyết điểm gì đi nữa, đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo cao cả, can trường, bằng cách khước từ lời Cabot Lodge mời đến một nơi an toàn (cf Thomas Boettcher, Vietnam, The Valor and the Sorrow, sđd) và cũng không chạy vào bất cứ tòa đại sứ nào, trên bước đường cùng, để rồi bị sát hại dã man mặc dầu đã đầu hàng (hai ông bị trói và xác bị đâm nát) bởi bọn phản tướng. Của năm vị tướng Tư lệnh của Quân Lực VNCH, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, đã tử tiết trong khi có đủ phương tiện ra đi. Của nhiều vị sĩ quan và quân dân cán chính vô danh khác đã âm thầm tự kết liễu đời mình để khỏi sa vào tay giặc. Hay, ít ra, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương, qua bài viết mới đây bởi sử gia Trần Gia Phụng (cf “Lịch sử phán xét”, Toronto, 29/1/2011, trên website):

“Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: ‘Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.’

Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: ‘Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.’ Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu ‘Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó’ (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355).

Những câu trên đầy khí tiết, quả cảm, kiêu hãnh, mặc dù chỉ qua lời người thứ ba kể lại, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương cũng tuyệt vời, đâu thua gì bức thư của Hoàng tử Sirik Matak, cựu thủ tướng Cam Bốt?

Ngày 30/4/75, trong lúc Cộng quân tràn vào thành phố Sài Gòn, một sĩ quan Cảnh sát VNCH bước đến trước tượng đài Chiến Sĩ Trận Vong, sau khi đứng nghiêm chỉnh chào, đã tự bắn chết (nằm dưới chân tượng). Hình và chú thích lấy từ quyển The Fall of the South, Boston Publishing Company, 1985.

Bởi vì, nếu biết, có thể Sirik Matak đã phải suy nghĩ rất nhiều trước khi chạy vào lãnh sự quán Pháp. Hoặc có thể ông không chạy đi đâu cả. Để qua đó, mãi mãi, hàng năm, cứ mỗi 30/4, khi đọc lại bức thư khẳng khái của ông, tôi và đồng hương và những thế hệ con cháu được hãnh diện trọn vẹn về ông –một lãnh tụ khác chủng tộc, nhưng đồng hội đồng thuyền trong nỗi đau mất nước. Để qua đó, chúng tôi hy vọng thấy ông trong những miếu thờ tại một nơi nào trên đất Cam Bốt, cũng như các bậc đại anh hùng của tổ quốc chúng tôi trong những miếu thờ ở Việt Nam.

Các bậc đại anh hùng mang hình hài của nhân thế, khác với những vị thần linh Hy Lạp cổ xưa, dù đã trở thành bất tử sẽ không bao giờ ganh tị chúng ta, vì đã đạt đến diễm phúc bi thảm đợi chờ cái chết đến mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút –đặc ân mà chỉ loài người khả tử chúng ta mới được nhận lãnh.

Điều đó, tôi cũng sẽ nói thêm cho Soriya nghe, tiếp nối câu chuyện về thần linh năm nào dở dang, nếu một mai được gặp lại nàng ở kiếp này. Hay kiếp khác.

Portland, cho Tháng Tư Đen 2011
kim thanh

http://batkhuat.net/van-phnompenh-ngayay-condau.htm

Tái chiếm Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Trị

Huy hieu chien thang Quang Tri nam 1972

Lê Quang Liễn

(Với sự đóng góp của Mũ xanh Nguyễn hữu Hào ĐĐP/ ĐĐ 4/ TĐ 2 TQLC)

Anh sinh ngày 4/7/1942 tại Huế. Sau khi đậu Tú tài 2 tại trường Trung học Quốc học (Huế), Anh vào Sài gòn theo học Đại học Dược khoa từ 1961 đến 1963. Tình nguyện gia nhập Khóa 20 Trường Võ bị Quốc gia Việt nam ngày 1/12/1963. Mãn khóa ngày 20/11/1965 và tình nguyện phục vụ Binh chủng TQLC từ năm 1965-1967. Anh được đưa về TĐ1/TQLC giữ chức vụ Trung đội trưởng rồi Đại đội phó. Năm 1969 Anh được du học Khóa Căn bản Sĩ quan TQLC /Hoa kỳ tại Quantico thuộc tiểu bang Virginia. Về nước được thuyên chuyển về làm Đại đội trưởng ĐĐ1/TĐ8 vừa mới thành lập. Năm 1971 Anh tham dự khóa Đại đội trưởng tại Trường Bộ binh Thủ đức. Cuối năm 1971 Anh về làm Đại đội trưởng ĐĐ4/TĐ2/TQLC và tham gia những trận đánh quyết liệt trong mùa Hè đỏ lửa năm 1972.

Sau chiến thắng Cổ thành Anh được thăng cấp Thiếu tá và làm Trưởng ban 3 rồi Tiểu đoàn phó TĐ2/TQLC. Đầu năm 1973, Anh tham dự Khóa học Bộ binh Cao cấp tại Long thành, Thủ đức. Mãn khóa học Anh về làm Tiểu đoàn phó TĐ9/TQLC và là Tiểu đoàn phó TĐ7/TQLC từ tháng 12/1974 cho đến ngày bị bắt tại cửa Tư Hiền (Huế ) 27/3/1975. Anh bị giam trong những trại tù CS từ ngày 27/3/1975 đến 12/2/1988 trong đó có 4 năm 7 tháng 24 ngày bị biệt giam vì tranh đấu tại trại Bình Điền, Huế. (Tứ nhân bang TQLC : Phạm Cang + Lê quang Liễn + Ngô thành Hữu + Lê tự Hào là những người cuối cùng rời trại tù Bình Điền).

Toa hanh chanh Quang Tri nam 1972.jpg

***

Sau khi mãn khóa học Bộ binh Cao cấp cuối năm 1971, tôi về BTL/SĐ nhận Sự vụ lệnh và trình diện TĐ2/TQLC. Tr/tá Tiểu đoàn trưởng Nguyễn xuân Phúc chỉ định tôi làm Đại đội trưởng Đại đội 4. Tiểu đoàn phó lúc đó là Thiếu tá Trần văn Hợp, khóa 19 Võ bị Đà lạt. Chúng tôi đã qua những ngày đông rét mướt, lạnh buốt trên những căn cứ Holcomb, Sarge, Bá Hô..Rồi được về Sài gòn nghỉ dưỡng quân. Chưa được bao nhiêu ngày thì chiến sự bùng nổ lớn tại vùng hỏa tuyến. CSBV đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Genève và xua quân vượt qua vĩ tuyến 17 và vùng phi Quân sự vào ngày 30/3/1972.

Chúng xử dụng một lực lượng lớn gồm hai Sư đoàn 304, 308 và 4 Trung đoàn biệt lập là 31, 246, 270 và 126 đặc công thuộc Mặt trận B5 cùng với sự yểm trợ của khoảng 200 chiến xa thuộc Trung đoàn 203 và 204 và ba Trung đoàn pháo 38, 68 và Trung đoàn 84 Hỏa tiễn địa không. Chỉ trong vòng 4 ngày đầu 11 căn cứ hỏa lực của ta ở vùng giới tuyến đã bị uy hiếp nặng nề trong đó có căn cứ Mai lộc của Lữ đoàn 147 /TQLC. Hai Tiểu đoàn 4 và 8 cũng rời bỏ hai căn cứ Sarge và Bá Hô, Holcomb… Lữ đoàn 369/TQLC cùng với các Tiểu đoàn 2,5,9 cũng được không vận ra phi trường Phú bài và được tăng cường cho mặt trận phía Tây tỉnh Quảng trị. Tiểu đoàn 2 tiến về căn cứ xa nhất có tên là Động Ông Đô (Barbara). Những trận đánh quyết liệt xảy ra tại đây. Đại đội 4 đã tỏ ra vững vàng, tự tin với những trách nhiệm mà Tiểu đoàn đã giao. Nhưng cuối cùng trong thế trận chung: thị xã Quảng trị rơi vào tay giặc. Những cảnh tàn sát đồng bào trên ĐẠI LỘ KINH HOÀNG từ cầu Bến Đá đến chi khu Mai lĩnh thật là đau lòng và Lữ đoàn 369 với sự cương quyết của Đại tá Lữ đoàn trưởng Phạm văn Chung BẢO VỆ PHÒNG TUYẾN MỸ CHÁNH, không cho giặc tràn về phía Nam. Ba Tiểu đoàn 2+5+9 dàn trải thành một tuyến khá rộng, về phía Tây đến đồi Trần văn Lý và phía đông đến ấp Vân trình, một địa danh đã xảy ra những trận đánh sau này. Đại đội 4 được giao nhiệm vụ bảo vệ CẦU MỸ CHÁNH. Một vị trí rất quan trọng trên đường tiến quân của Cộng quân lúc bấy giờ.

Sư đoàn TQLC đã giữ vũng được phòng tuyến Mỹ Chánh và cuộc chiến không ngừng lại ở đây. Có một sự thay đổi nhân sự của Tiểu đoàn. Trung tá Nguyễn xuân Phúc bàn giao chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 cho Thiếu tá Tiểu đoàn phó Trần văn Hợp, Anh về làm Lữ đoàn phó Lữ đoàn 147 /TQLC do Đại tá Nguyễn năng Bảo chỉ huy. Đại úy Phạm văn Tiền làm Tiểu đoàn phó và bàn giao Đại đội 5 cho Trung úy Huỳnh văn Trọn vừa đi học Basic Marine ở Mỹ về.

Ngày 28/6/1972, hai lực lượng Tổng trừ bị là Nhảy Dù và TQLC bắt đầu vượt sông Mỹ chánh và tiến chiếm Quảng trị.

Ngày 11/7/1972 một cuộc đổ quân vào lòng địch của TĐ1/TQLC vào quận Triệu phong nhằm cắt đứt con đường tiếp vận quan trọng của địch là Hương lộ 560. Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 2 là những đơn vị tiếp ứng quan trọng cho cuộc hành quân này. Riêng Tiểu đoàn 2 xuất phát từ Hương lộ 555 tiến về phía Tây, qua các vùng Ngô xá đông, Ngô xá tây, Thâm triều, Bích la hậu, tiến đến bờ đông của dòng sông Vĩnh định để Công binh TQLC bắt chiếc cầu dã chiến cho Thiết đoàn 20 mang M48 sang để đối đầu với tăng của địch tại vùng Chợ Sãi, Triệu Phong. Lộ trình di chuyển không dễ dàng vì bộ binh và Thiết giáp địch đã phục sẵn tại đây. Nếu không phải những con Trâu điên và những con Voi điên Thiết giáp chấp nhận cuộc chiến thì khó lòng mà thắng được. Những anh chàng Quái điểu đã sang bên kia bờ sông Dịch cũng cùng chung số phận của Kinh Kha mà thôi.

TĐ2 tiếp tục gánh vác trách nhiệm của TĐ1 trao lại. Đại đội 4 lại nhận vị trí đóng quân của ĐĐ4/TĐ1 của Đại úy Trịnh văn Thềm.Từ vị trí này ĐĐ4 có nhiệm vụ đánh chiếm cây cầu sắt bắc qua sông Vĩnh định trên Hương lộ 560. Và từ đây đánh dọc lên phía Bắc chiếm chợ Sãi. Đó chính là những con đường huyết mạch dẫn vào thị xã Quảng trị.

TĐ2/TQLC sau 15 ngày đêm đánh chiếm và trấn giữ chợ Sãi thuộc quận Triệu Phong, khu vực được coi là yết hầu của địch, chúng tôi đã thực sự ngăn chặn được một trong ba cửa ngõ xâm nhập, tiếp viện, tải thương của địch từ Đông Hà, Cửa Việt cho thị xã Quảng Trị.

TQLC tai mat tran Quang Tri nam 1872

Hai đại đội ĐĐ4 (Đại úy Lê quang Liễn, ĐĐT) và ĐĐ5 (Trung úy Huỳnh văn Trọn, ĐĐT) được cánh B TĐ2 TQLC (Đại Úy Tiểu đoàn phó Phạm văn Tiền) chỉ huy đã thành công trong nhiệm vụ làm thất bại âm mưu tái chiếm Chợ Sãi của Trung đoàn 101 CSBV mặc dù chúng đã xử dụng đến 3 Tiểu đoàn Bộ Binh có pháo yểm trợ, dùng chiến thuật xa luân chiến để cố đẩy lui hai Đại đội Thủy Quân Lục Chiến này ra khỏi Hương lộ 560.

Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ giao phó nhưng với cái giá phải trả chỉ riêng ĐĐ4 có 23 Quân nhân tử thương trong đó có 2 Trung đội trưởng là Chuẩn úy Dương và Chuẩn úy Hội và hơn 62 Quân nhân bị thương.

Về phía địch, tổn thất nhân mạng rất nặng nề, do dân chúng sau này cho biết CSBV đã tải thương rất nhiều về tuyến sau. Vì cường độ hỏa lực rất ác liệt và hai bên giao chiến rất gần nên Đại đội 4 đã xử dụng tù binh địch để thu gom chiến lợi phẩm hầu tránh thương vong cho quân ta. Sau này, tin tình báo kỹ thuật cho biết tên Trung đoàn trưởng 101 bị mất chức vì thua trận dù y đã xin thêm một ngày nữa để tấn công.

Sau khi hoàn tất nhiệm vụ tái chiến Chợ Sãi, TĐ2 /TQLC đã bàn giao lại cho TĐ1/ TQLC và về tuyến sau để dưỡng quân, bổ sung và có nhiệm vụ bảo vệ Bộ Tư Lệnh SĐ/TQLC/HQ tại Quận Hương Điền. Rời vùng hành quân đầy máu lửa, bao nhiêu ngày đêm chiến đấu cam go, anh em chúng tôi từ Sĩ quan đến Binh sĩ chỉ thèm một giấc ngủ an bình dù ngắn ngủi, được tắm rửa để giũ bớt cát bụi… và ít giây phút riêng tư để nghĩ về gia đình sau hơn 15 ngày đêm thức trắng để chiến đấu với địch.

Đầu tháng 9 năm 1972, trong một buổi họp tại Bộ Tư Lệnh với TĐT/TĐ2TQLC và tất cả các Sĩ quan Đại đội trưởng, Thiếu tướng Tư lệnh Bùi thế Lân có chỉ thị : “Sư đoàn hiện có trong tay một khối hỏa lực yểm trợ hùng hậu do Quân lực và đồng minh Hoa Kỳ cung ứng. Vừa rồi Tướng Tư Lệnh Không lực Hoa Kỳ vùng Thái Bình Dương có viếng thăm Bộ Tư Lệnh và hứa sẽ ưu tiên và tăng cường các phi vụ B52 cho Sư Đoàn TQLC. Vì vậy tôi ra lệnh cho Quân nhân các cấp: phải tái chiếm thị xã Quảng Trị và Cổ thành trong vòng 2 tuần lễ tới, vì đây là một mục tiêu có tầm mức quan trọng cả về Quân sự lẫn Chính trị và TĐ2/ TQLC sẽ là một trong những đơn vị được vinh dự thi hành lệnh trên.”

Chúng tôi rất hãnh diện được trở lại tuyến đầu cùng các Tiểu đoàn 3, 6, 8 trong trận thư hùng chung cuộc nầy với Cộng Sản Bắc Việt tại thị xã Quảng Trị. Từ thâm tâm các Mũ xanh Thủy Quân Lục Chiến, chúng tôi hãnh diện với màu cờ sắc áo và luôn luôn tự hào là một trong những đơn vị ưu tú nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, do đó chúng tôi hăng say nhận lãnh trách nhiệm tham dự những trận đánh quan trọng để giải quyết chiến trường; hơn nữa chúng tôi, TĐ2/TQLC là đơn vị tiêu biểu và được sự tin cậy của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Vào giai đoạn sau cùng trong kế hoạch tái chiếm Thị xã Quảng trị và Cổ Thành Đinh công Tráng, 2 Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến được giao phó nhiệm vụ như sau :

– Lữ đoàn 147 TQLC với 2 nỗ lực chính : TĐ 3 và TĐ 7 đánh từ hướng Đông Bắc.

– Lữ đoàn 258 với 2 nỗ lực chính : TĐ 2 và TĐ 6 đánh từ hướng Tây Nam.

Bộ chỉ huy TĐ 2 TQLC đóng tại ngã ba Long Hưng, góc đường Lê Huấn và Quốc lộ 1.

– ĐĐ4/TĐ2 TQLC tiến dọc theo đường Hồ đắc Hanh để tiến chiếm trường nữ Trung học Teresa Phước Môn và từ đó tiến dọc theo bờ Cổ Thành hướng Tây Nam để tái chiếm Tòa Hành Chánh Tỉnh Quảng Trị… Đây là mục tiêu then chốt để TĐ 6 làm đầu cầu tiến vào Cổ thành.

– Đại Đội 5 Tiểu đoàn 2 TQLC bên trái ĐĐ4/TĐ2 TQLC.

– Tiểu Đoàn 6 TQLC bên phải ĐĐ4/TĐ2 TQLC.

Rạng sáng 14/9/1972 địch dọn “điểm tâm” cho Đại đội 4 và Đại đội 5 bằng một trận pháo 130 ly ác liệt. Ban chỉ huy Đại đội 4 đóng quân ở một căn nhà gạch đổ nát mà trước đây là quán cà phê Sanh trên đường Hồ đắc Hanh, bị trúng một quả 130 ly, nhưng may mắn là tôi và 2 hiệu thính viên HS Hoàng và HS Chính chỉ bị ngộp thở và xây xát nhẹ vì nhờ hầm tránh pháo có sẵn trong nhà, nhưng Đại đội có 2 Quân nhân cần tải thương.

Mục tiêu đầu tiên của Đại đội là trường Phước Môn, cách khoảng 300 mét. Trung đội 43 của Chuẩn úy Thu bị địch bắn chặn rất ác liệt vì địch đã “ngửi thấy” quyết chí tấn công tái chiếm Tòa Hành Chánh của Thủy Quân Lục Chiến, nên bằng mọi giá chúng phải ngăn cản cuộc tiến quân của ta. Để phản kích địch, tôi phải dùng hỏa lực pháo bắn tiếp cận của từng khẩu 105 ly với đầu nổ chậm, điều chỉnh “trái-phải-xa-gần” từng 10 mét một; đây là lối bắn rất quen thuộc của các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến năm 1972, để đối phó với các chốt địch và các hầm chữ A. Cuối cùng, tôi dùng đại bác 90 ly của chiến xa M48 bắn trực xạ để hạ nốt một chốt địch còn sót lại trong trường Phước Môn.

Đến 14 giờ 30 chúng tôi hoàn toàn làm chủ mục tiêu là Trường Trung học Teresa và qua khai thác tù binh ta biết địch thuộc Sư Đoàn 320 B vừa vượt sông Thạch Hãn đêm qua, lúc 3 giờ sáng, ở khu vực Tòa hành chánh. Phương tiện vượt sông là dây thừng căng từ Tòa hành chánh với phía bờ sông đối diện. Một tù binh quê quán ở Quỳnh Lưu, Nghệ An cho biết đơn vị vượt sông do tên Thiếu úy Dũng chỉ huy và tên này đã tử thương. Chúng còn cho biết rất sợ lối đánh thần tốc, bám trụ và pháo của Thủy Quân Lục Chiến (Qua nhật ký của một tù binh đã ghi “ghét những cây pháo chết tiệt của ngụy” hoặc “A trưởng (Tiểu đội trưởng) gọi đi lãnh tiếp tế nhưng vờ không nghe vì ngại pháo”).

Tuy vậy các chốt bắn sẻ của địch ở các cao điểm hướng bờ sông Thạch Hãn vẫn hoạt động rất mãnh liệt vì chính cá nhân chúng tôi trong lúc phối hợp để đóng quân với Đại úy Nguyễn văn Loan (ĐĐT/TĐ6 TQLC, bạn cùng khóa 20 Đà lạt) và Trung úy Đại đội phó Nguyễn hữu Hào đã suýt mất mạng vì một cú bắn sẻ cách đầu chỉ non gang tay làm cho gạch, xi măng ở khung cửa sổ rơi tung tóe trước mặt.

Để chuẩn bị cho trận đánh kết thúc vào sáng mai : Mục tiêu 28 (Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Trị), tôi và ĐĐP Nguyễn Hữu Hào – có biệt danh là Ông già 72 vì tài xử dụng hỏa tiễn cầm tay M72 rất tuyệt vời của Hào – bàn tính rất chi tiết những việc cần làm chiều và tối nay hầu hoàn thành nhiệm vụ và giảm thiểu thương vong cho đơn vị vì chẳng cấp chỉ huy trực tiếp nào không đau lòng, xót xa khi đơn vị có thương vong.

Phong vien UPI news tai phong tuyen TQLC, Quang Tri nam 1972

Địa hình thị xã Quảng Trị lúc đó khá bằng phẳng vì các cao ốc, khu phố, các trụ điện hầu như bị san bằng và đường phố bụi phủ một lớp dày đến vài phân do những trận oanh kích và mưa pháo của ta lẫn địch. Tôi và đại đội phó Hào đã hoạch định như sau :

a. Nghi binh tấn công để phát giác sự bố trí quân và các ổ súng cộng đồng của địch hầu tìm cách thanh toán.

b. Đêm nay tôi và Tiền sát viên pháo binh Thiếu úy Tài sẽ tác xạ khu vực quanh Tòa hành chánh, dọc đường Trần hưng Đạo, bờ sông và giữa dòng Thạch Hãn để gây căng thẳng và ngăn chặn địch xâm nhập.

c. Xin cánh B/TĐ2 TQLC tác xạ vào các đường tiến sát của địch, vào bờ sông Thạch Hãn phía đối diện Tòa Hành Chánh. Bộ chỉ huy địch có lẽ đã dời về khu vực Tòa Hành Chánh và hầm rượu ngầm (do Pháp xây cất bên cạnh Tòa Hành Chánh) sau khi bị phi pháo nhồi nát khu Cổ Thành Đinh công Tráng.

d. Phối hợp với Đại đội 5 của Trung úy Huỳnh văn Trọn để đồng loạt tấn công vào 6 giờ 30 sáng 15/9/72 hầu lợi dụng được yếu tố bất ngờ và tầm quan sát của địch vì trời còn tối do ảnh hưởng của trận bão Flossie (?).Suốt mùa hè 72, hai Đại đội 4 và Đại đội 5 của chúng tôi như cặp bài trùng đã từng phối hợp rất chặt chẽ và ăn ý trong nhiều trận đánh ác liệt.

e. Các Trung đội 41 và 43 chỉ trang bị vũ khí đạn dược cơ hữu và một ngày lương khô để được nhẹ nhàng, tận dụng tối đa tính cơ động ngõ hầu giảm thương vong do trang bị quá nặng nề. Ba lô cá nhân sẽ do Trung đội 44 của Chuẩn úy Hiếu và Thường vụ Đại đội (Thượng sĩ Đào Chữ) coi sóc.

f. Đạn dược trừ bị được tải lên gần vị trí xa nhất của Đại đội ngay trong đêm.

Ngày 15/9/72.

Quảng Trị đang mùa mưa bão, nước sông Thạch Hãn dâng cao, trần mây thấp, trời rất u ám. Suốt bao ngày qua, nơi đây đã xảy ra bao nhiêu đau thương tang tóc, máu đổ thịt rơi, do tập đoàn Cộng Sản khát máu đến “Giải phóng miền Nam”.

Khu vực Cổ Thành đã được Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 6 khống chế nên Đại đội 4 đỡ lo hỏa lực địch từ trên cao bắn xuống.

Tòa Hành Chánh Tỉnh Quảng Trị là mục tiêu 28 trên phóng đồ hành quân của TĐ2/ TQLC. Hỏa lực yểm trợ cho cuộc tấn công, ngoài sự yểm trợ tận tình và vô cùng hiệu quả của các pháo thủ mũ xanh, Đại đội 4 còn được tăng cường 2 chiến xa M48 và 2 thiết vận xa M113 có trang bị súng phun lửa. Hai Trung đội 41 và 43 của Chuẩn úy Đức và Chuẩn úy Thu làm nỗ lực chính với lệnh hành quân rất rõ ràng:

Hiệu lệnh tấn công khi chiến xa M48 và Thiết vận xa M113 chuyển xạ cao trên mục tiêu 92. Trung đội 41 bên trái, 43 bên phải phối hợp với 2 Thiết vận xa 113 tấn công thật nhanh, tràn ngập vị trí địch bằng hỏa lực và điều động. Đại Đội Phó Hào chỉ huy cánh quân nầỵ

Tôi và Trung đội 42 của Chuẩn úy Huyện là thành phần tiếp ứng, sẵn sàng tấn công dứt điểm mục tiêu… Nếu tình thế xấu, Đại đội 4 hoặc sẽ bám trụ hoặc chỉ tấn công thăm dò phía trước.

Các Mũ xanh Đại đội 4 Trâu Điên được chuẩn bị kỹ lưỡng như được chấp cánh khi phối hợp tấn công với Thiết giáp M48 và Thiết vận xa M 113. Nhìn đồng đội sẵn sàng trong tư thế tác chiến với áo giáp, nón sắt và súng đạn đầy người, tự nhiên tôi thấy hãnh diện và tin tưởng vô cùng và một thoáng lo âu cho đoạn đường thử thách trước mặt: chỉ một đoạn đường ngắn nhưng một số anh em chúng tôi có thể đi không đến !!

Đại đội 4 và Đại đội 5 vừa rời tuyến xuất phát khoảng 20 thước thì địch bắt đầu chống trả bằng những tràng AK47 nghe rất chát chúa và B40 chống chiến xa. Thật may mắn, những loạt B40 đều bắn cao nên bị trợt mục tiêu, có lẽ địch mất bình tĩnh trước khí thế xung trận của Trâu Điên và M113. Tuy nhiên tôi thấy có 3 cọp biển bị thương và 2 quả B40 nổ gần trung đội 42 trừ bị của Đại đội 4. Các đại liên của M113 hạ thấp nòng súng xuống, bắn cày nát vùng đất trước mặt, những tràng M16, M79, đại liên M60 nghe dòn dã và tiếng hô xung phong nghe vang rền cả góc trời, cộng thêm những loạt súng cối 60 ly của Đại đội 4 bắn rất chính xác vào vị trí địch đã làm hỏa lực của chúng yếu hẳn đi.

 

Trong vùng ánh sáng tờ mờ của ngày 15/9/1972, bụi đất bay mịt mù trận địa. Đại đội 4 và M113 không để lỡ thời cơ, nhanh chóng tấn công và tràn ngập vị trí địch quanh các công sự bảo vệ Tòa hành chánh. Trên đường tăng cường cho trung đội 41, giao thêm 4 cọp biển bị thương cho Y tá và thường vụ Đại đội để săn sóc và tải thương. Tuy vậy, vẫn còn một tổ do tên Thiếu úy Lê viết Thắng – quê Quảng Bình, vừa mới cưới vợ được 20 hôm và mới xâm nhập, đã ngoan cố chống cự và bị Tiểu đội do Hạ sĩ nhất Cao thanh toán, hạ 4 tên, thu tại chỗ 1 AK47, 1 K54, 1 đại liên 12 ly 7 và 1 B40. Hạ sĩ nhất Cao và Thiếu úy Hào sau nầy những chiến sĩ xuất sắc năm 1972, được tưởng thưởng “Biệt Công Bội Tinh” do chính Phó Tổng thống Trần văn Hương trao tặng và được công du Đài Loan. Hơn chục tên Cộng sản Bắc Việt thuộc Sư đoàn 320 B đã buông súng đầu hàng để tránh bị tiêu diệt. Do trở ngại trên trục tiến quân, nên hơn một giờ sau Đại đội 2 / TĐ8 /TQLC do Đại úy Bùi phúc Lộc chỉ huy, mới bắt tay được với chúng tôi để phòng thủ bên cánh phải (hướng Bắc), nhờ đơn vị bạn giúp sức nên chúng tôi yên tâm hơn để tập trung lục soát mục tiêu vừa tái chiếm.

Kết quả : sau khi làm chủ hoàn toàn khu vực Tòa Hành Chánh Tỉnh Quảng Trị, chúng tôi thu hồi được cả khuôn dấu của Tòa Hành Chánh lúc 8 giờ 30 sáng 15/9/72.

Riêng đại đội 4 đã tịch thu một số lớn chiến lợi phẩm và một kho tiếp liệu gồm :

– 412 súng cá nhân.

– 102 súng cộng đồng.

– 40 thùng lương khô doTrung Cộng sản xuất.

– 23 máy truyền tin của Trung Cộng.

– 18 tù binh.

– Nhiều hố chôn tập thể và xác quanh khu vực Tòa Hành Chánh và khu hầm ngầm bên trái Tòa Hành Chánh, khoảng 30 xác.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến phải dùng 6 đợt thiết vận xa M113 để chuyển tù binh và chiến lợi phẩm về Bộ Chỉ Huỵ

Qua các máy truyền tin tịch thu của CSBV, chúng tôi nghe chúng gọi nhau ơi ới một cách hoảng loạn, chứng tỏ chúng hoang mang cao độ; có một tên cứ ôm đầu la hét, theo ĐĐP Hào cho biết tên nầy vì quá sợ pháo nên đã lên cơn như vậy từ nhiều ngày trước, hoặc chúng đại tiểu tiện ngay trong Tòa Hành Chánh vì không dám ra ngoài do sợ pháo.

Tòa Hành Chánh bị hư hại nặng, chỉ còn lại tầng trệt, quanh khu vực cầu thang chính của Tòa Hành Chánh, tôi không thể đứng thẳng người được vì gạch ngói ngổn ngang.

Để giữ vệ sinh cho khu vực đóng quân, chúng tôi phải rải bột sát trùng DDT lên các hố chôn tập thể và thu dọn chôn cất các tử thi của cái đám “sanh Bắc tử Nam” còn ngổn ngang trong khu vực.Sau khi tái chiếm hoàn toàn thị xã Quảng Trị, dân chúng bị kẹt lại bên kia sông Thạch Hãn đã lợi dụng lúc quân Cộng sản Bắc Việt “chém vè” đã đào thoát về khu vực quân ta kiểm soát. Họ cho biết quân Cộng sản chạy tán loạn về hướng Đông Hà, Cam Lộ, và để đỡ mất mặt, chúng phao tin quân ta được lính Thái Lan, Đại Hàn tăng cường nên chúng tạm về đâỵ

Việc tàn quân địch “chém vè” được chứng nghiệm đúng, vì sau khi chiếm Thị xã, chúng tôi được một thời gian hơn nửa tháng không bị chúng quấy phá, thỉnh thoảng chỉ bị pháo tầm xa 130 ly.

***

Hơn 30 năm qua đi, hôm nay tôi phải ngồi viết lại bài nầy vì món nợ ân tình quá lớn đối với các đồng đội thuộc Đại đội 4, Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, những Mũ xanh đã hết lòng phục vụ cho Binh chủng và Tổ Quốc. Một số anh em đã anh dũng hy sinh hoặc tàn phế và sau 30/4/75 một số đồng đội khác đã trải qua những năm tháng trong lao tù Cộng sản hoặc nổi trôi theo vận nước điêu linh.

Những anh hùng thực sự của đơn vị là những Binh nhì Hợi, Binh nhất Danh, Chính, Hạ sĩ Hoàng, My, Hội, Rít, Trãi, Ba Gà, Khắn, Hạ sĩ nhất Cao, Trung sĩ Trọng, Trần Sơn (em Trần Vệ K19), Trung sĩ nhất Cảnh, Thượng sĩ Đào Chư, các Chuẩn úy Dương, Hội, Huyện, Hiếu, Thu, Đức, các Thiếu úy Lộc, Tài (Pháo binh), Nguyễn hữu Hào… và còn nhiều người nữa mà tôi không nhớ hết được. Chính họ đã thực sự viết nên những trang Quân sử hào hùng của Binh chủng, những Chiến sĩ tự do chiến đấu để ” Bảo Quốc An Dân”.

Những người lính Mũ xanh sống thật hồn nhiên, đôn hậu, chan hòa tình cảm, rất nhẫn nại và chịu khó nhưng luôn luôn tỏ ra can đảm và chấp nhận hy sinh như nhà văn Mũ xanh Huỳnh văn Phú đã mô tả “Thủy Quân Lục Chiến sống hùng, sống mạnh nhưng sống không lâu”.

Vì người khinh binh hôm nay có nhiệm vụ mở đường, đối đầu với hiểm nguy đợi chờ trước mặt, họ vẫn bình thản, can trường thi hành mệnh lệnh. Và khi chiều xuống, đơn vị dừng quân, họ lo đào hầm hố, gài mìn bẫy để phòng thủ đêm, nhưng vẫn kể cho nhau nghe những chuyện tiếu lâm hoặc ngâm nga những câu thơ thay vần thơ tình có chút lãng mạn, hầu quên đi nỗi nhọc nhằn trên vai người lính như đại để :

Nam : Thương chi cho uổng công tình,
Anh về trong nớ bỏ mình bơ vơ.

Nữ: Bơ vơ thì mặc bơ vơ,
Anh về trong nớ nhớ viết thơ cho mình.

Những người lính Mũ xanh mang trên người trọng trách nặng nề như định mệnh đã dành sẵn cho họ nên họ luôn gắn bó với đơn vị cho đến lúc gục ngã hoặc cho đến giờ bị bức tử.

Họ thật sự là những Chiến sĩ vĩ đại của đất nước.

Tôi phải ghi lại những sự kiện nầy để các thế hệ nối tiếp biết rằng ông, cha của họ đã chiến đấu anh dũng như vậy, nhưng phải bị thua trận, bị bức tử vì sự phản bội của Đồng minh và của một số Chính trị gia miền Nam đã ngây thơ tin vào Hòa hợp, Hòa giải dân tộc của Cộng Sản và để nhớ lại những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi chiến trường sau khi đã chiến đấu vô cùng anh dũng để bảo vệ mảnh đất tự do nơi địa đầu giới tuyến. Tôi phải ghi lại vì ngày 30/3/72 các Chiến sĩ mũ xanh của Đại đội 4, Tiểu Đoàn 2, Thủy Quân Lục Chiến với quân số trên 170 nhảy vào vùng hành quân nhưng đến lúc tôi rời đơn vị vào ngày 26/9/72 khi được bổ nhiệm làm trưởng ban 3 rồi sau đó Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2, Thủy Quân Lục Chiến thì đại đội 4 chỉ còn trên dưới 30 khuôn mặt cũ của ngày xuất quân với không ít hơn một lần bị thương qua những trận đánh hào hùng trước đó.

Tôi thật hãnh diện và không khi nào quên được những đồng đội can trường tuyệt vời, đã chiến đấu khi Tổ Quốc lâm nguy, không sờn nguy hiểm, không màng hiển vinh, coi cái chết tựa lông hồng, đúng là những cảm tử quân như truyền thống của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến.

Viết để kỷ niệm 30 năm.
Ngày tái chiếm Thị xã Quảng Trị và Cổ Thành Đinh Công Tráng.

Lê Quang Liễn.
Houston, mùa Thu 2002.
http://hoiquanphidung.com/showthread.php?22532

 

TRẠI LLĐB LANG VEI

William R. Phillips

Vũ đình Hiếu

Đang hăng say, một quả đạn súng cối của địch rơi gần vị trí khẩu cối 81 ly của hai người lính Mũ Xanh. Cả hai bị sức ép ngã xuống, ù tai, Craig bị ra máu lỗ tai, Phillips bị một miểng bay sớt qua, chảy máu gần mắt. Trung sĩ Brooks đang thủ khẩu đại liên gần đó chạy lại, nhưng cả hai người đều nói Brooks trở về chỗ khẩu đại liên vì họ vẫn còn chiến đấu được. Tiếp theo kho nhiên liệu trúng đạn bốc cháy, ngọn lửa chẩy ra đến gần ụ súng cối 81 ly, Craig nói Phillips bỏ chạy lại ụ súng cối 4,2 inches. Tại đây đã có mặt Tiroch, Dooms, Thompson và Burke.

Sau khi trung tá “Crossbow” bắn phát M-72 đầu tiên, các quân nhân LLĐB Việt Mỹ chạy lại tiếp tay với ông ta, kết hợp thành một toán “diệt chiến xa” gồm có: trung úy Longgrear, trung úy Quý, MacMurray và Wilkins.

Trước đó trung úy Longgrear, Early đang ngồi nghỉ trong một ụ súng cối 81 ly khác, cách hầm chỉ huy khoàng 200 thước, nơi vị trí tuyến phòng thủ đại đội 104. Nhờ hỏa châu, đại đội này quan sát thấy rõ bãi chiến trường, báo cáo về BCH trại cho biết, thêm ba chiến xa của địch cùng với lính bộ binh Bắc Việt đang di chuyển trên con đường đất dẫn đến làng Thượng Lang Troai. Họ vội vàng bắn thêm đạn chiếu sáng cho đại đội 104.

Trung úy Longgrear cùng với một người lính Mũ Xanh xách ống phóng M-72 chạy ra khỏi ụ súng cối. Mặc dầu nhiều sương mù, anh ta nhận ra được mầu cam đỏ chiến xa Bắc Việt cùng với đạn lửa xanh bắn ra từ khẩu đại liên trên chiến xa. Chiếc PT-76 đã qua được lớp hàng rào phòng thủ thứ nhất, đang băng qua lớp phòng thủ bên trong, hướng thẳng vào ụ súng cối 81 ly. Longgrear dương ống phóng M-72, nhắm vào chiến xa, bóp cò nhưng không nổ, Early đưa cho chàng ống phóng hỏa tiễn khác, quả hỏa tiễn 66 ly trúng vào mũi chiến xa rồi đi ngược lên không đi xuyên qua lớp thép ở trước mũi chiến xa.

Ba người bỏ chạy, trong khi chiếc chiến xa Bắc Việt vẫn xông tới ụ súng cối 81 ly. Early chạy về hướng hầm chỉ huy ở chính giữa trại. Longgrear ra lệnh cho Thompson ra tiếp tay với Brande, chỉ huy đại đội 104 mà anh ta nghĩ rằng đã bị thương. Còn lại một mình, Longgrear chạy lại, nhập vào nhóm “diệt chiến xa” của trung tá “Crossbow”. Vẫn chưa đến một giờ sáng, hai quân nhân Mũ Xanh Holt và Burke đang thủ khẩu đại bác không dật 106 ly duy nhất trong trại LLĐB. Họ xử dụng khẩu đại bác rất hiệu qủa, chống lại đoàn chiến xa của địch trên đường mòn đi đến làng Lang Troai. Trong khi đó tuyến phòng thủ của đại đội 104 đã bị chọc thủng, tình trạng đại đội này đang nguy ngập. Chiến xa cùng với bộ binh Bắc Việt đang tràn ngập vị trí của đại đội 104 dân sự chiến đấu.

Holt đã bắn gục hai chiến xa Bắc Việt ngay trong lớp hàng rào phòng thủ bằng đại bác không dật 106 ly. Hai chiếc khác đã vượt qua được, đang tiến tới chỗ trú ẩn của trung ta “Crossbow” và trung úy Longgrear. Họ đã phải xử dụng năm ống phóng M-72 mới hạ được một chiếc tiến đến gần vị trí của họ.

https://i0.wp.com/histoire-militaire.pagesperso-orange.fr/batailles/Viet2.jpg

Khi chiến xa bị trúng hỏa tiễn M-72 khựng lại, không điều khiển được nữa, ba người lính Bắc Việt trong chiến xa, thủ tiểu liên AK-47, mở nắp pháo tháp nhẫy ra. Cả ba đều bị trung tá “Crossbow”, trung úy Qúy bắn hạ bằng súng tay và lựu đạn. Chiếc thứ hai đi vòng qua chiếc trúng hỏa tiễn, tiến lên tấn công toán “diệt chiến xa” bằng đại bác và đại liên. Cả toán chạy ra nấp đằng sau những thùng phi 55 gallons, đã hết nhiên liệu, chứa cát và đá như một bức tường xi măng cốt sắt. Trung tá “Crossbow” ra lệnh cho Longgrear chạy xuống hầm chỉ huy lấy thêm ống phóng M-72. Khẩu đại bác 76 ly trên chiến xa bắn tung một thùng cát đá 55 gallons, thêm một phát nữa xập nóc hầm chỉ huy (trung tâm hành quân) của trại LLĐB.

Trung úy Longgrear chứng kiến chiếc thùng phi 55 gallons bị chiến xa bắn tung lên, anh ta nghĩ thầm trung tá “Crossbow” chắc đã chết nên báo cáo cho đại úy Willoughby. Thực ra trong bốn người cùng với trung tá “Crossbow” chỉ bị thương, mỗi mình trung úy Qúy không sao. Cũng nhờ những loạt súng của trung úy Qúy nên bộ binh Bắc Việt chưa dám xung phong thanh toán những quân nhân bị thương.

Quả đạn đại bác nổ tung vào bức tường làm bằng những thùng phi chứa cát đá, làm cho Wilkins bị kẹt giữa những thùng phi ngất đi, McMurray bị thương nặng, mảnh đạn làm gẫy tay, mắt không nhìn được nữa. Trung tá “Crossbow” bị sức ép tung lên nhưng chỉ bị thương nhẹ nơi hông, gò má bên trái và tai. Ông ta vẫn bình tĩnh, dìu McMurray chạy ra chỗ khác, sau những lớp bao cát rồi quay trở lại cứu Wilkins. Trung úy Qúy vẫn tiếp tục bắn cầm chân địch quân, nói với “Crossbow”, phải chạy đến trú ẩn nơi một hố bom, đợi đến khi trời sáng, tìm đường thoát.

Trong lúc hỗn loạn, trung tá Schungel “Crossbow” vẫn nhận thức được, vài chiến xa địch đã tràn vào phòng tuyến hướng tây trại LLĐB và họ sắp sửa bị tiêu diệt. Các quân nhân LLĐB Việt Mỹ, vội vàng tổ chức thêm toán “diệt chiến xa”. Một quân nhân Mũ Xanh rất can đảm, năng động, đó là Dan Phillips, đã bị thương nhưng vẫn chiến đấu, anh ta đeo sau lưng mấy ống phóng M-72 và nhiều lựu đạn. Phillips tìm cách lại gần chiến xa địch để hạ chiến xa hiệu quả hơn.

Image result for vietnam war THE BALLE OF LANG VEI

Đến khoảng ba giờ sáng, quân Bắc Việt trong quân phục mầu xanh, đội nón sắt tràn vào bên trong căn cứ. Trung tá Schungel bàn với Wilkins lúc đó đã tỉnh táo chạy vào hầm chỉ huy, nhưng thấy không ổn vì căn hầm nhỏ khó chống cự nên hai người cùng với Bill Craig chạy vào trong dẫy nhà dành cho toán LLĐB/HK. Họ chia nhau ra mấy lỗ châu mai, tử thủ bên trong.

Khoảng 3:30 sáng, phi cơ bao vùng vẫn tiếp tục thả hỏa châu soi sáng bãi chiến trường. Từ trong nhà, Schungel nhìn ra thấy rõ năm lính Bắc Việt với súng AK-47 và bộc phá, ông ta bắn ra và lính Bắc Việt bắn trả lại làm ông ta bị thương lần nữa nơi chân trái. Sau đó Schungel cùng với Wilkins chạy ra bãi đổ vật liệu phế thải và ẩn náu ở đó. Trong khi đó, Craig cùng với Tiroch và khoảng 50 dân sự chiến đấu chống trả quyết liệt. Nhóm này bị địch quân đẩy lui dần về phiá đông bắc căn cứ. Sau đó họ chia ra từng nhóm nhỏ, chui ra khỏi lớp hàng rào phòng thủ, rút về căn cứ cũ của trại LLĐB Lang Vei. Các quân nhân LLĐB khác cùng với các dân sự chiến đấu lui dần lên hướng bắc, rồi tìm cách rút ra khỏi căn cứ. Nhóm của Craig ra khỏi lớp hàng rào bên trong, định vượt lớp bên ngoài thị bị địch phát giác bắn xối xả phải lui trở lại. Craig, Tiroch cùng với khoảng mười quân nhân LLĐB/VN kẹt lại. Lợi dụng ánh hỏa châu vừa tắt, nhóm này chạy ra khỏi căn cứ, nấp sau một bụi tre. Trên bầu trời, phi cơ thả bom xuống trại LLĐB, miểng bom làm bị thương hai quân nhân LLĐB/HK và một Việt Nam. Họ tạm thời tìm chỗ trú ẩn qua đêm, đợi khi trời sáng sẽ đi về căn cứ Khe Sanh.

Tình hình trong trại càng bết, quân Bắc Việt đã gần như làm chủ căn cứ. Hai chiến xa Bắc Việt đã bắn xập hai ngõ ra vào hầm chỉ huy. Một qủa đạn đại bác 76 ly làm hai quân nhân Mũ Xanh Early và Moreland bị thương nặng. Đại úy Willoughby chỉ huy trại LLĐB Lang Vei lúc đó không biết còn bao nhiêu người sống sót. Ông ta bị kẹt bên trong hầm chỉ huy, bên ngoài cũng không vào được nếu chưa thanh toán được hai chiếc xe tăng Bắc Việt.

Trong hầm chỉ huy ngoài Willoughby ra, còn có: Longgrear, Emmanuel Phillips, Brooks, Early, Morehead, Fragos, Dooms, sĩ quan chỉ huy toán A LLĐB/VN, đại đội trưởng 104, người thông ngôn và nhiều dân sự chiến đấu.

Trong lúc tuyệt vọng, đại úy Willoughby gọi căn cứ Khe Sanh, yêu cầu cho pháo binh tác xạ ngay trên đầu ông ta. Ông ta cũng yêu cầu cấp cứu vì tình thế đã “hết thuốc chữa”. Thủy Quân Lục Chiến thỏa mãn yêu cầu pháo binh, nhưng không thể đưa quân đến tiếp cứu được (sự thật TQLC sợ bị phục kích trên đường di chuyển từ Khe Sanh đến trại LLĐB Lang Vei lúc trời vẫn còn tối). Đi đường vòng cũng không được vì lộ trình xa hơn và vẫn có thể bị phục kích. Trực thăng không thể đổ quân xuống trại LLĐB được vì địch đã vào được bên trong.

Sự từ chối không đi cứu làm cho vị chỉ huy trưởng tất cả các đơn vị LLĐB/HK tại Việt Nam, đại tá Jonathan F. Ladd tức giận. Ông ta gọi điện thoại vào Saigon, yêu cầu được nói chuyện trực tiếp với đại tướng Westmoreland. Tướng Westy, thức dậy duyệt xét tình hình và trả lời, ông ta không có quyền thay đổi quyết định của cấp chỉ huy trận điạ. (Trong quyển sách “Soldier Report” của ông ta. Tướng Westmoreland rất buồn về chuyện này. TQLC/HK là một quân chủng, có hệ thống chỉ huy hàng dọc của họ… cũng vì lý do đó, tướng Westmoreland xin về hưu khi đã lên chức Tham Mưu Trưởng Lục Quân).

Lính Bắc Việt đến bao vây xung quanh hầm chỉ huy và kêu gọi bằng tiếng Việt lên đầu hàng, nếu không họ sẽ cho chất nổ phá xập căn hầm. Các binh sĩ Thượng đã chiến đấu rất can đảm từ lúc đầu, nhưng họ đã cảm thấy đã đến lúc phải ra đầu hàng. Các quân nhân LLĐB vẫn tin họ có thể bất ngờ xông ra, do trung úy Longgrear dẫn đầu, tìm đường sống. Trung úy Longgrear nấp một bên vách hầm, khi các binh sĩ người Thượng bới đống gạch vụn chui ra ngoài hầm chỉ huy. Lính Bắc Việt gờm sẵn tiểu liên AK-47, tịch thu vũ khí, bắt mấy tù binh cởi áo.

Lúc trời bắt đầu sáng Craig và Tiroch vẫn còn nghe tiếng súng, đó đây. Hai người di chuyển đến một chỗ kín đáo nhìn vào trong trại LLĐB quan sát. Họ trông thấy trung sĩ nhất Ashley, trung sĩ y tá Allen, cùng với binh nhất Johnson đang chỉ huy một toán quân người Lào từ căn cứ cũ trên đường kéo về tiếp cứu trại LLĐB Lang Vei. Ba quân nhân LLĐB/HK được biệt phái làm việc với người Lào khi họ di chuyển đến trại LLĐB cũ. Họ đã thuyết phục được vị đại tá Lào cho một toán quân đi theo ba người lính Mũ Xanh Hoa Kỳ.

Quân đội Bắc Việt đã hoàn toàn làm chủ căn cứ, đến phiên họ phải giữ. Khi toán quân Lào vừa vào đến gần hàng rào phòng thủ, bị đại liên chạy trở lại đường số 9 củng cố lại đội ngũ để phản công đợt hai. Craig và Tiroch rời chỗ núp, chạy xuống nhập vào đoàn quân đi cứu viện. Lần này địch pháo kích bằng súng cối làm đám quân người Lào bỏ chạy luôn. Lúc đó vào khoảng mười một giờ sáng, cố gắng cuối cùng giải cứu trại LLĐB Lang Vei thất bại.

Trung tá “Crossbow” Schungel cùng với Wilkins trốn nơi chứa vật dụng phế thải cũng bò ra khỏi căn cứ đến được chỗ an toàn. Họ làm dấu hiệu nhận quân bạn khi một phi cơ quan sát bao vùng bay ngang qua. Lúc đó, trung tá Schungel chỉ biết ông ta và Wilkins là hai người sống sót, còn số phận những người khác hoàn toàn không rõ.

Cả hai người đều bị thương, bước đi rất khó khăn. Trung tá Schungel được một quân nhân LLĐB/VN dìu bước đi trên đường số 9, sau đó gặp Craig và anh ta cõng vị trung tá LLĐB/HK đến căn cứ cũ, nơi có uân Lào đang trấn giữ.

Sau khi được băng bó vết thương, Schungel lên máy truyền tin liên lạc với hầm chỉ huy trong trại và nói chuyện được với đại úy Willoughby. Họ đồng ý sẽ gọi khu trục cơ thời đệ nhị thế chiến A-1 Skyraiders đánh bom vì loại máy bay này, bay chậm nên thả bom chính xác hơn các phản lực cơ.

Willoughby liên lạc với phi cơ quan sát để trận oanh kích hiệu qủa, rồi cả nhóm quân nhân LLĐB Việt Mỹ sẽ tìm cách chiến đấu chạy thoát ra ngoài căn hầm. Trong số những quân nhân sống sót trong hầm chỉ huy, chỉ có hai người không bị thương. Riêng Morehead bị thương nặng nơi đầu, và họ quyết định phải bỏ lại. Trung úy Longgrear đi đầu mở đường, đại úy Willoughby cùng với Emmanuel Phillips cõng Early.

Nhờ các phi cơ đánh bom, quân Bắc Việt không ngóc đầu lên được, nên cả nhóm thoát được ra ngoài, leo lên một xe Jeep do trung úy Qúy lái chạy thật nhanh đến căn cứ LLĐB cũ. Trung tá Schungel gọi trực thăng đến bốc tất cả về Khe Sanh.

https://i2.wp.com/www.modernforces.com/img/new_site/Lang_vei_5.jpg

Một đoàn trực thăng khác cùng với trực thăng võ trang Cobra hộ tống bay vào trại LLĐB Lang Vei. Trên trực thăng có thiếu tá Quamo, MACV-SOG (Lôi Hổ) chỉ huy một toán biệt kích đoàn Nghiên Cứu Quan Sát bay vào trại để cứu hoặc đem về những xác chết LLĐB Hoa Kỳ. Một đoàn trực thăng khác đem vào căn cứ mười quân nhân Mũ Xanh Hoa Kỳ cùng với bốn mươi dân sự chiến đấu vào làm thành một lớp bảo vệ cho toán biệt kích MACV-SOG tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ.

Khoảng 5 giờ chiều, quân nhân Mũ Xanh Todd chui ra khỏi hầm quân y. Anh ta chui xuống hầm chỉ huy trông thấy xác Morehead nằm chết dưới lớp cát đá. Nghe tiếng trực thăng, Todd chạy lên, và là quân nhân LLĐB cuối cùng được cứu thoát.

Sau trận tấn công trại LLĐB Lang Vei, mười trong số hai mươi bốn quân nhân LLĐB/HK bị coi như mất tích. Vài hôm sau, xác của Burke và Ashley được tìm thấy. Thompson, Brande và McMurray bị bắt và được trả về trong chiến dịch “Trở Về Nhà” (Home Coming) năm 1973 khi Bắc Việt ký hiệp định Paris. Holt và dan Phillips vẫn còn “mất tích” cho đến ngày nay. Kể thêm hai quân nhân Mũ Xanh Lindewald và Hanna nơi “tiền đồn” và Morehead trong hầm chỉ huy… Biết chắc họ đã chết nhưng vẫn không thâu hồi được xác. Riêng Ashley được ân thưởng huy chương Danh Dự (Medal of Honor) đã chỉ huy đám quân Lào quay trở lại tiếp cứu cho trại.

Theo tài liệu: William R. Phillips “The magnificent Sacrifice”, Behind The Line magazine 1996, page: 10-21.

 

Dallas, Texas March 18, 2010

http://www.bietdongquan.com/tailieu/lucluongdacbiet/trangcualldb.htm

Nam Vang đi dễ khó về

Huỳnh Kim Chiến

Huy hieu DVH Qui Nhon HQ504

Đã gần 35 năm trôi qua, mà chuyện dài Hổ Cáp 2 vẫn còn như ngày nào. Tuy ký ức không chết đi, nhưng thời gian cũng làm phai mờ đôi chút. Huỳnh Kim Chiến xin lỗi các bạn Nguyễn văn Độ, Võ Uyên Sao, Nguyễn văn Chừng, và Nguyễn văn Quý nếu hồi ký này có phần nào sai sót hay không được chính xác như các sự thật đã xảy ra.

S ợi dây ngang cuối cùng vừa buộc xong thì lệnh từ đài chỉ huy đã đưa xuống: “Chuẩn bị thả hạm kiều, tất cả thủy thủ đoàn tập họp ở sàn chính chờ lệnh hạm phó”. Tôi không nhớ rõ đó là lần thứ mấy Dương Vận Hạm Qui-Nhơn HQ 504 cập bến Nam Vang, thủ đô xứ chùa tháp trong chiến dịch “Hồi Hương Việt Kiều”.

Duong Van Ham Qui Nhon HQ504

 Những mâu thuẫn và xung khắc giữa Việt kiều sống trên lãnh thổ Kampuchia và người bản xứ đã không còn biện pháp kềm chế. Đầu năm 1970, người Kampuchia bắt đầu những cuộc tấn công trả thù một cách dã man vào người Việt sống chung quanh vùng Biển-Hồ và ngoại ô thành phố Nam Vang cũng như các thành phố lân cận. “Cáp-duồn”, một danh từ đã đem đến sự kinh hoàng khi mọi người phải nhắc tới. Người Kampuchia đã chặt đầu và thả trôi sông nạn nhân bị họ đem ra hành quyết. Trên chuyến giang hành từ biên giới Việt-Kampuchia đến Nam Vang, tàu chúng tôi thỉnh thoảng thấy xác không đầu trôi sông đang được các giang đĩnh hộ tống vớt lên. Nhìn cảnh tượng đau đớn đó, trong lòng không khỏi bùi ngùi, xót xa. Biết bao người Việt vô tội đã phải là nạn nhân của cuộc trả thù man rợ này. (Người Kampuchia đã vịn cớ vào lịch-sử cha ông của họ bị tiền bối của chúng ta hà hiếp và xâm lấn lãnh thổ, cho nên họ vẫn tìm cách trả thù nếu có cơ hội?). Trước tai họa khủng khiếp đó, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã can thiệp với chính phủ Nam Vang và cuộc hành quân Hồi Hương Việt-Kiều đã được mở ra. Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã được giao phó, đảm nhận vai trò nồng cốt trong chiến dịch này.

Cho đến lần cập bến Nam Vang đó, hàng trăm ngàn Việt kiều đã được hồi hương qua các chuyến vận tải bằng Hải Vận Hạm, Dương Vận Hạm và ngay cả các Chiến Đấu Hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà. Làm sao nói lên hết được cảm xúc của mình khi nhìn thấy những gương mặt rạng rỡ và những đôi mắt biết ơn từ những Việt kiều được bước lên chiến hạm để chuẩn bị cho chuyến hồi hương trở về đất tổ quê cha. Chúng tôi cảm thấy đôi chút an ủi vì đã góp phần xoa dịu nỗi đau của người cùng giống nòi, huyết thống.

Những tháng cuối của năm 1970, Hổ Cáp 2 đã có 5 chàng gia nhập vào HQ504, lấy Dương Vận Hạm Qui-Nhơn làm thành lũy trong cuộc chiến chống Cộng Sản xâm lăng phương Bắc. Tôi và HQ thiếu úy (chúng tôi đã tự động thăng cấp) Nguyễn văn Chừng, Võ Uyên Sao trình diện đơn vị trước tiên, sau đó là Nguyễn văn Độ và Nguyễn văn Quý. Chuyện tự động thăng cấp đã bị Hạm-Phó Phan Lạc-Tiếp dợt cho mấy trận (mà vẫn không từ), trong khi Hạm-Trưởng Phan Phi-Phụng thì không nói lời nào (cho nên chúng tôi rất là quí mến ông ấy!).
Sau khi phân chia các ca trực và công việc cần thiết trong thời gian tàu cập bến, hạm-phó Phan Lạc-Tiếp đã nhấn mạnh đến tầm quan-trọng trong nhiệm vụ giữ gìn an-ninh cho chiến hạm và chỉ thị cho ca trực phải đề cao cảnh giác. Thủy thủ đoàn chúng tôi được chia ra làm ba, hai ca ở lại tàu ứng chiến và một ca được phép đi bờ.
Hạm kiều được bắt xuống cầu tàu vừa xong thì một sĩ-quan Kampuchia vội bước lên tàu đòi gặp hạm-phó. Tôi không đứng gần nên không nghe được mẩu đối thoại của họ, chỉ thấy sau đó hạm-phó cho lệnh đòi tôi trình diện. Thì ra ông ta chính là sĩ quan bến tàu có nhiệm vụ nhận hàng do chiến hạm chúng tôi chuyển đến. Tôi được lệnh hạm-phó tiếp xúc với ông ấy để sắp xếp công tác bóc dở hàng hoá, bởi vì tôi kiêm nhiệm chức vụ sĩ quan chuyển vận của chiến hạm. Sau cái bắt tay nẩy lửa, ông ta sổ ra một tràng: “Comment allez-vous?” Tôi hơi giật mình sửng sốt, ông ta nói tiếng Tây chớ không phải tiếng Miên (mà tôi cũng có biết tiếng Miên đâu!). Tôi cố moi vốn liếng Pháp ngữ còn sót lại trong đầu mà đối đáp. Thỉnh thoảng mắc tật cà lăm, phải nhờ hạm-phó cứu bồ.
Khoảng một giờ sau, trong lúc chúng tôi đang bận rộn với công việc, thì nghe hạ sĩ quan trực hạm kiều thông báo: “Qui-Nhơn rời tàu”. Tôi nhìn ra thì thấy có cả HQ Thiếu-úy Võ Uyên Sao đi cùng với hạm-trưởng xuống. Tôi quay qua tâm sự với đệ nhất đao phủ thủ của khoá 21, Nguyễn văn Độ.
– Thằng Sao sướng thiệt, lúc nào cũng được đi chơi trước.
– Mà lại đi với hạm-trưởng nữa chứ, Độ chêm vào.

Chúng tôi vẫn nghĩ Sao có ưu điểm là đẹp trai, ăn nói hoạt bát nên mới được cưng như vậy. (Tôi có dịp gặp lại Sao hồi tháng 6/2005 mới được Sao tiết lộ rằng lần ấy hạm trưởng Phan Phi-Phụng được ông đại-sứ Philippine tại Kampuchia mở tiệc khoản đãi để cám ơn HQ504 đã chuyển vận một số hàng hóa cho tòa đại sứ của ông ta. Sao cũng cho biết nhờ kiêm nhiệm chức vụ sĩ quan tiếp tân và nghi-lễ, lại biết thêm trò bói toán nữa nên có dịp gần gũi nhiều với hạm-trưởng và có khi ngay cả hạm trưởng phu-nhân nữa không biết chừng?).
Buổi chiều hôm đó, Độ đến rủ tôi:
– Ê Chiến, tao với mày xuống phố Nam Vang chơi
– Đi tới chỗ nào? Có mục gì hay không? Tôi hỏi lại
– Mày cứ hay hỏi, đi theo tao rồi sẽ biết.
Tôi vội thay quần áo civil rồi đi theo Độ xuống cầu tàu. Độ cẩn thận nhét vào người một khẩu Colt 45 để phòng thân (hắn là sĩ quan trọng pháo nên lúc nào cũng súng với ống). Tôi không hiểu tại sao cập bến nào, Độ cũng rủ ren tôi đi chơi với hắn. Có lẻ Độ hợp với tôi nhiều hơn, hoặc là thấy tôi có vẻ cù-lần nên muốn chỉ bảo cho một vài chiêu. Chúng tôi đón xe lam xuống phố. Xe lam ở thành phố Nam Vang khác với Sài Gòn chúng mình bấy giờ. Họ sử dụng xe Daihatsu 4 bánh nên di chuyển có phần êm hơn xe 3 bánh. Ngồi trong xe, đầu óc tôi miên man suy-nghĩ và cảm thấy mình hơi liều. Không biết tình hình đã lắng dịu hay chưa, rủi mình xui xuống tới dưới kia gặp phải nhóm người Miên nào đó cáp-duồn cho một trận thì khốn. Tôi lắc đầu, cố xua đi những điềm gở đó và tự nhủ: Thôi thì cứ nhắm mắt trao thân này cho đệ nhất đao phủ thủ.
Chúng tôi đi ăn ở một nhà hàng được trang hoàng và phục dịch theo kiểu Tây. Thành phố Nam Vang vẫn có nhiều sinh hoạt mang cung cách của Pháp, người Kampuchia cũng chịu chung số phận như người Việt chúng ta bị thực dân Pháp đô hộ gần trăm năm. Tối hôm đó, tôi không ngờ đệ nhất đao phủ thủ đưa tôi đi “trả thù dân tộc”. Đó là một trong những chiêu mà tôi đã học được từ đệ nhất đao phủ thủ. Tôi không có ý đổ tội cho quan Độ đâu, bụng làm dạ chịu mà. Nhưng cái cảm giác nhờn nhợn kia vẫn còn vương vấn mỗi khi hồi tưởng về sự kiện ấy. Ngày hôm sau tôi dậy trễ. Lúc ra ngoài phòng ăn sĩ quan thì thấy quan Nguyễn văn Chừng khệ nệ mang vào phòng, hộp ôi là hộp. Chừng khoe:
– Tớ mua được một ít quà về cho gia-đình.
– Một ít đó hả? Độ hỏi với theo, có vẻ ra điều châm chọc
– Thì có gì đâu nào, mầy cứ hay thắc mắc vớ vẫn. Chừng đáp.
Quan Chừng được mọi người trên chiến hạm nhắc đến như là một biểu hiệu của sự mẫu mực. Mà điều đó rất đúng. Chừng hiền lành, đứng đắn, và đạo đức nữa. Thỉnh thoảng hắn được hạm trưởng khen trước mặt chúng tôi, và muốn mọi người noi gương hắn. Thật cũng khó học được ở quan Chừng, vì tôi đã lỡ nhận quan Độ làm “thầy” của mình rồi.

Sau bữa cơm trưa, tôi lại cùng Độ xuống phố. Lần này Độ đưa tôi đến thăm nhà một người bạn mà Độ đã làm quen được trong lần tàu cặp bến trước đây. Tôi phục hắn sát đất. Cả đời mình muốn quen với một người thì thật là khổ sở, mà hắn thì chỉ bữa trước bữa sau. Có lần hắn nhạo tôi: Mầy thật tối nước quá!
Nhà của người bạn Độ ở cách bến tàu không xa mấy. Chúng tôi cuốc bộ cũng tới. Đó là một gia đình lai Pháp, theo lời của Độ. Bước vào nhà, tôi gật đầu chào một người đàn ông có vẻ nặng ký đang nằm trên chiếc ghế bố ở góc phòng. Ông ta lên tiếng:
– Chào cậu Độ đến chơi
– Dạ chào bác. Độ lịch sự chào lại và không quên giới thiệu tôi với ông ta.
Tôi không biết ông là người Việt hay người Hoa mà nói tiếng Việt rất sành sỏi. Tôi đoán chắc vợ ông ta là người Pháp, vì theo lời Độ thì đây là gia đình lai Pháp mà. Ông ta cất tiếng gọi:
– Ph. à, có anh Độ đến thăm.
– Dạ! Có tiếng của một cô gái đáp lại từ bên trong.
Tôi tò mò chờ để được diện kiến người đẹp của Độ. Khoảng một phút sau, tôi ngạc nhiên khi thấy một cô bé còn rất trẻ bước ra chào. Tôi đoán cô ta chừng 15, 16 tuổi là cùng, và cũng không có vẻ gì gọi là Tây lai cả. Tôi cũng không cho là cần thiết, nên không tìm hiểu gì thêm. Độ lên tiếng mời cô bé đi ăn ở dưới phố. Cô quay qua xin phép người đàn ông và được chấp thuận. Trong lần đi chơi đó, tôi chỉ nghĩ mình là một kẻ dư thừa, đi theo để tăng thêm uy-tín cho Độ mà thôi! Cô bé và Độ nói chuyện với nhau rất thân mật. Tôi giữ phép lịch sự, đi ở phía sau một đoạn xa xa nên không nghe hết những gì mà họ trao đổi với nhau. Thỉnh thoảng cô bé có quay lại hỏi tôi vài câu xã giao.
Tàu chúng tôi mở dây, rời bến Nam Vang quay đầu về Sài Gòn 3 ngày sau đó. Mấy tháng sau, HQ504 nhận được chỉ thị quay trở lại Nam Vang để làm một chuyến bóc hàng chót.
Buổi chiều ngày thứ 2 tại bến cảng Nam Vang. Tôi đang ngồi đấu láo với quan Chừng trong phòng ăn sĩ quan thì viên hạ sĩ quan trực hạm kiều vào tìm tôi:
– Thiếu-úy Chiến, có khách muốn gặp.
– Ai vậy? Tôi hỏi lại.
– Ông ra gặp rồi sẽ biết. Anh ta vừa trả lời vừa cười cười.
Tôi đi theo anh ta ra ngoài hạm kiều lòng tự hỏi: “Ai mà kiếm mình vậy cà?”
Tôi nhìn xuống cầu tàu hỏi anh ta:
– Ai đâu ?
– Đó! Anh ta chỉ tay xuống một người con gái đang đứng chờ dưới bến.
– Anh có lầm không? Tôi đâu có bạn gái nào ở đây.
– Anh Chiến! Giọng cô gái mừng rỡ khi quay lại nhìn thấy tôi.
– Ph. kiếm anh Độ hả? Tôi hỏi vọng xuống.
– Hông, em kiếm anh. Em đến tìm để thăm anh. Cô bé trả lời.
Tôi giật mình ngạc nhiên nhủ thầm: chắc em tìm quan Độ không gặp nên vớ đại lấy mình. Tôi mời cô bé Ph. lên tàu và đưa vào phòng khách (cũng là phòng ăn sĩ quan). Vào đến nơi thì thấy có cả hạm trưởng và hạm phó ở trong đó. Tôi định mở lời giới thiệu thì Ph. đã cất tiếng trước:
– Chào chú Phụng, chào chú Tiếp.
– Chào cháu, cháu có khoẻ không? Commandant Phụng chào lại.
– Sao lâu quá không thấy cháu đến chơi? Hạm-phó Tiếp nối lời.
– Dạ cháu bận đi học. Ph. đáp.
– Cháu uống nước gì để chú gọi.
– Da, nước cam đi chú. Ph. trả lời hạm phó.

Tôi đấm nhẹ vào trán mình một cái và lải nhải: thì ra họ đã biết nhau hết rồi, chỉ có riêng mình là ngố chẳng biết gì. Ph. có mang theo một quyển tập thật dầy và một bó hoa (hoa gì và màu gì tôi không còn nhớ rõ). Cô bé quay qua tôi:
– Đây là quyển lưu bút, em muốn anh viết cho em mấy dòng trước khi tàu rời bến. Còn cái nầy em tặng anh.
Ph. đưa cho tôi cả 2 thứ, quyển tập và bó hoa. Tôi chới với cầm lấy những thứ đó, im lặng một chút rồi nói:
– Cám ơn Ph. Em ngồi đây chơi, để anh vào phòng viết lưu-bút.
Tôi đi vào phòng riêng, ngồi xuống ghế mà chưa biết phải làm gì. Một lúc sau, tôi cầm viết lên hí hoáy, rồi sục sạo trong các ngăn tủ cố tìm một thứ gì để tặng lại cho cô bé. Không thấy gì hết, chẳng lẽ chịu thua. Chợt thấy bài nhạc “Cát Bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nằm trong ngăn kéo. Tôi cầm lên, thấy cũng còn mới bèn mở vào trang trong ghi vội mấy dòng.
Ngày cuối cùng ở cảng Nam Vang. Lúc đó cũng gần đến giờ khởi hành. Ph. lại đến tìm tôi. Tôi chạy xuống cầu tàu để gặp cô bé vì không còn nhiều thì giờ nữa.
Gương mặt cô có vẻ buồn, tôi cũng cảm thấy không được bình tĩnh lắm. – Tàu anh sắp sửa khởi hành, chỉ còn mấy phút nữa thôi. Ph. kiếm anh có chuyện gì?
– Thì em đến để tiễn đưa anh. Ph. trả lời, rồi tiếp:
– Em không hiểu tại sao anh tặng em bài hát đó?
Tôi gãi đầu, cố lấy giọng bình tĩnh mà triết lý:
– Đời người không có nghĩa gì trong thế giới này cả. Chỉ như hột cát trong sa mạc mà thôi.
– Em vẫn không hiểu. Bộ anh không có món gì khác tặng em sao?
Tôi cảm thấy bí lối nên trả lời đại:
– Mai mốt rồi em sẽ hiểu. Anh xin lỗi Ph. anh phải đi. Hy vọng có ngày nào đó tàu anh sẽ trở lại Nam Vang rồi anh sẽ cắt nghĩa thêm cho em nghe.
Tôi nhìn xuống thấy có vòng nước chung quanh đôi mắt cô bé. Tôi nói lời từ giã cuối cùng rồi chạy lên hạm kiều. Lệnh rút hạm kiều và tháo dây đã được ban ra sau đó. Tàu từ từ quay mũi và rời bến. Tôi chờ cho sân trước dọn dẹp cẩn thận xong bèn chạy lên đài chỉ huy. Ph. vẫn còn đứng ở cầu tàu, tay vẫy vẫy. Hạm phó Phan Lạc-Tiếp đến gần tôi:
– Cô bé vẫy tay chào cậu đó.
– Dạ chắc không phải đâu, cô ấy chào hạm truởng với hạm phó đó.
Không có tiếng trả lời, mà có tiếng của hạm trưởng ra lệnh:
– Hai máy tiến “Full”.
Tôi quay đầu nhìn lại, bóng của Ph. nhỏ dần, nhỏ dần rồi biến mất như hột cát trong sa mạc ………..
huỳnh kim chiến

http://www.denhihocap.com/thovan20/hkchien.html

Mạn đàm với giáo sư Ngô Bảo Châu

Đồ Hiếm (Danlambao)Riêng nhắn thêm đến các vị cha mẹ Việt Nam, mà lỡ nghe theo lời của GS Ngô Bảo Châu, xin quý vị hãy xem gương Bác Hẹ của Đảng đỏ, một d(o)anh nhân thế giới (ảo), mà viết tiếng Việt như mèo mửa, còn làm thơ chữ Hán hay hơn cả người Tàu, để quyết định tương lai cho mình, chớ không phải con em mình!

 
Mới đây, cổng thông tin Bộ Giáo dục & Đào tạo (1) đã dẫn lại ý kiến trên trang Facebook cá nhân của Giáo sư Ngô Bảo Châu về việc thí điểm dạy ngoại ngữ là tiếng Trung Quốc. Ông Ngô Bảo Châu viết: “Vì nước Mỹ là nước giàu nhất thế giới nên tất cả con em Việt Nam phải chọn tiếng Anh làm ngoại ngữ thứ nhất? Giống như đã từng có lúc Liên xô vĩ đại là mô hình để cả nhân loại dõi theo nên tất cả trẻ con phải học tiếng Nga. Hiển nhiên việc trẻ con có thể chọn 1 trong 5 sinh ngữ để học như ngoại ngữ thứ nhất là tiến bộ. Hiển nhiên trong số 5 sinh ngữ đấy phải có tiếng Trung. Để tồn tại bên nách Trung Quốc, chúng ta không có lựa chọn nào khác là buôn bán với họ, nếu có lãi thì tốt, hiểu văn hóa của họ, nếu hiểu họ hơn họ hiểu ta thì tốt”.
Tư tưởng của GS Châu quả là quá phiêu (diêu) như cái giải cánh đồng bất tận mà ông đã có được – giải Fields. Khi đôi chân của GS Châu và cả gia đình đã cắm chặt trên đất Mỹ rồi, tha hồ mà ông phán như thần phán. Học tiếng Trung của dân Trung Hoa là điều tiến bộ, thế thưa ông, có bao nhiêu nước trên thế giới, dạy tiếng Trung cho trẻ em của nước họ như là sinh ngữ 1, và bao nhiêu nước đã chọn tiếng Anh? Câu trả lời là 0% và 99%. Tiếng Anh được coi như chìa khóa để hội nhập vào thế giới văn minh, tại sao lãnh đạo nước ta không tạo điều kiện dễ dàng đó cho các thế hệ mai sau mà cứ chỉ đạo họ phải đi giật lùi về “cửa Khổng sân Trình” từ cả ngàn năm trước???
Bàn về lợi ích tại sao phải chọn Anh văn làm sinh ngữ chính thì xin lỗi GS Châu, người dân vỉa hè cũng thấy cái ưu thế vời vợi trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế cho đến thị trường, tin học đến khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quân sự và thậm chí các phương tiện giải trí phim ảnh, ca nhạc… đâu đâu cũng lấy tiếng Anh làm chuẩn mực, thế thì nhồi nhét học sinh tiểu học chỉ mới lớp ba 80.000 ký tự Trung văn liệu có phải là chọn lựa tiến bộ? Và trình độ tiếng Anh của học sinh VN hiện nay đã quá tệ lậu, ví dụ rõ như trăng rằm là TT Ma dzê Xuân Phúc, thì phải tập trung đầu tư vào tiếng Anh mới đúng chứ.
Đọc tới đây thế nào ngài GS cũng cười vào mũi đồ Hiếm (xin đừng nói lái… tội nghiệp) là hàm hồ, Tổng Bí đỏ đã (lỡ) nói rồi, nước ta “dân chủ đến thế là cùng” mà, đây là sự chọn lựa tự do, các cháu không chọn thì thôi, không bắt buộc. Thế thì tại sao lại dạy thí điểm? GS Châu biết rõ chính sách thí điểm nghĩa là gì mà, nếu GS Châu ở bên Mỹ… lâu quá, lỡ quên tiếng Việt thì cho phép đồ tui được giải thích, thí điểm là thử thực hiện trong phạm vi hẹp để rút kinh nghiệm, sau đó thấy thành công sẽ nhân rộng ra, ví dụ trong nông nghiệp, địa phương xã thí điểm cấy một giống lúa mới, chưa từng trồng trên đất nhà bao giờ. Nghĩa là, sẽ có một số các cháu lớp ba trường tiểu học Hà Nội, sẽ được mang ra làm con dê tế thần cho cách mạng văn hóa (ma dzê in TQ)… tập 2 này, bởi vì Đảng đỏ là chuyên gia 71 năm với nhiều thành tích trong việc “lập lờ đánh lận con đen“.
Chưa kể, học phải có sách và có thầy cô. Tiền cứu trợ cho ngư dân 4 tỉnh miền Trung thì nhà sản không có, đành an ủi bằng… gạo mốc chống đói qua ngày, nhưng sách vỡ lòng tiếng Hán – một sự nghiệp trồng người “dĩ đại” (lại xin đừng nói lái, tội nghiệp đồ tui vốn dân giá sống miền Nam) – không thua gì sự nghiệp dĩ đại của… Bác Hẹ, nhà sản đã vung tiền tỷ không tiếc. Nhà sản lúc nào cũng đặt dân vào thế gạo đã nấu thành cơm, không cần đưa ra bàn cãi chi cho rách việc, nên bộ Giáo dục cứ len lén tâm tư mà in ấn giáo trình học tiếng Trung từ hồi năm thìn bão lụt nào rồi, nay mới đem trình làng. Công nhận Đảng đỏ ta làm gì cũng quành chán (hoành tráng), chuyện lớn như vầy không phải tính như kế hoạch đại hội đảng từng 5 năm một bước đâu, mà đã được tính từ hồi qua họp bên Thành Đô về lận! Trước là sửa lịch sử, đổi địa lý, sau đến bỏ môn lịch sử, nay là học Hán. Hết ủ ấm, phun sương mấy chục năm trời, nay đến ngày mọc rễ, lên mầm bụ bẫm mới đem ra gieo thí điểm trên cánh đồng (phiêu) rải đầy phân Tàu.
Hệ lụy thứ hai là thầy cô giáo dạy tiếng Trung, “Không thầy đố mày làm nên“, tính sơ sơ 650 trường tiểu học tại Hà Nội thôi là đã phải mời ít nhất 10.000 thầy đạt chuẩn sư phạm từ TQ sang đứng lớp mới… (lại) đúng quy trình. Các thầy TQ qua Việt Nam đảm nhận một công mà hai, ba, bốn, năm nhiệm vụ luôn (cho tiện). Nào là giảng dạy tiếng Hán (hay dạy gì khác, chỉ có Trời và có Hoa Nam biết thôi); Nào là gián điệp, dòm trước ngó sau, cài cả tin tặc vào “phây” các thầy cô Việt trong trường xem có tư tưởng chống đối phản động gì không; Nào là gieo giống đỏ (đúng cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen), cải tạo đầu óc thế hệ trẻ đừng quá căm thù TQ vì TQ lúc nào cũng là anh cả láng giềng cực tốt (híc) đã viện trợ cho VN hết tỷ này đến tỷ khác (để kích động dân ta đánh cho chết mẹ Miền Nam), và sau cùng (nhưng chưa dứt) là các thầy/cô lấy vợ/chồng Việt, sinh con đẻ cái thành lập ra bang hội, trên dưới đoàn kết một lòng như Bác Hẹ và Bác Mao ta đó, tha hồ thao túng, nắm đầu mấy thằng con hoang trong Đảng đỏ quay như quay dế! Nếu để ý, ta cũng có thể thấy, các “ông trùm” công ty kinh doanh ở miền Nam hầu hết là người gốc Hoa: Trương Mỹ Lan (BĐS Vạn Thịnh Phát), Trầm Bê (NH Phương Nam-Sacombank), Thái Tuấn (Thái Tuấn Group), Kinh Đô, Đồng Khánh, Bút bi Thiên Long…
Trong “phây” (Facebook) của GS Châu, có đến hơn 5000 lượt thích, đa số vuốt đuôi không cần lý do lý trấu gì cả, dăm bẩy tay nói liều thục mạng, phải học tiếng Tàu đặng làm đối tác với Tàu, hoặc xin vào các doanh nghiệp của Tàu đang khai trương đỏ lòm từ Bắc chí Nam tại VN. Hãy xem người Mỹ, người Châu Âu khi sang TQ sống và làm việc, họ vẫn dùng tiếng Anh. Tiếng Trung chỉ học “nói” đôi ba câu đủ để đi mua sắm, trả giá (khi đi tắm hơi), còn tất cả giao dịch, ký kết văn bản hợp đồng đều dùng tiếng Anh, còn tiếng Tàu hả, hãy quên đi, bỏ đi tám! Chuyện trong nước, bạn trẻ nào xong đại học, muốn xin vào làm doanh nghiệp của TQ thì ghi tên học thêm các lớp hàm thụ tiếng Trung buổi tối về đàm thoại, chứ bỏ ra 10 năm học mù mắt tiếng Trung, đó mới thật sự là một sự đầu tư thần kinh và khốn nạn, thưa GS Châu. GS hãy đến các trường quốc tế tại VN với học phí 500-600 đô la/tháng xem con em của các thành phần nào đủ tiền để vào học tại đó và ngôn ngữ nào được dạy trong trường để bọn nhóc 5c – con cháu các cụ cả – này sau trung học (dù đậu hay không) sẽ được chấp cánh bay cao, bay khỏe sang Mỹ, sang Anh, sang Úc để định cư, có cha mẹ thuộc thành phần khùng (thần kinh hay khốn nạn) nào (lại) đì con mình sang Nga hay sang Tàu không hả thưa GS?
Âm mưu Hán hóa Việt Nam của Trung Quốc ngày càng lộ rõ, hết thành lập Viện Khổng Tử tại Việt Nam hồi tháng 10 năm 2013 đã như là một cuộc xăm lăng trên mặt trận văn hóa, nay lại đưa ra việc dạy thí điểm tiếng Trung, thì phải gọi tất cả những động thái trên là từng bước từng bước thầm “Dọn đường về nước (Tàu)” của bầy thái thú con hoang đỏ đang lập công bán nước mang về phủ phục dưới chân thiên triều.
Cuối bài, xin trích câu nói của TS Nguyễn Xuân Diện: “Mặc dù Việt Nam đã bị Trung Quốc đô hộ cả ngàn năm, liên miên bị TQ xâm lược như vậy, mặc dù người TQ đã truyền chữ Hán vào VN, thiết lập chế độ cai trị, áp đặt văn hóa lễ nghi, nhưng đã không thể đồng hóa VN.” để thức tỉnh các vị lãnh đạo Bộ Giáo dục mà mau bỏ đi cái đề án nô dịch dạy tiếng Trung/Nga từ lớp 3. Riêng nhắn thêm đến các vị cha mẹ Việt Nam, mà lỡ nghe theo lời của GS Ngô Bảo Châu, xin quý vị hãy xem gương Bác Hẹ của Đảng đỏ, một d(o)anh nhân thế giới (ảo), mà viết tiếng Việt như mèo mửa, còn làm thơ chữ Hán hay hơn cả người Tàu, để quyết định tương lai cho mình, chớ không phải con em mình!
(Tháng 9/ 2016)
(1) GS Ngô Bảo Châu: Học sinh được chọn ngoại ngữ để học là tiến bộ http://www.moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=4245

Biển Đông: Nhật Bản và Singapore kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế

mediaThủ tướng Singapore Lý Hiển Long (trái) và đồng cấp Nhật Bản Shinzo Abe tại Tokyo ngày 28/09/2016.REUTERS/Kim Kyung-Hoon

Nhân chuyến công du Nhật Bản trong vòng 4 ngày khởi sự từ đầu tuần, vào hôm qua, 28/09/2016, thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã hội đàm với đồng nhiệm Nhật Bản Shinzo Abe tại Tokyo. Hồ sơ Biển Đông là một trong những chủ đề thảo luận và hai bên đã gián tiếp nhắc nhở Trung Quốc về sự cần thiết phải tôn trọng luật pháp quốc tế.

Trong buổi họp báo chung sau cuộc họp, hai thủ tướng Nhật Bản và Singapore đã xác nhận là tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông có nằm trong chương trình thảo luận giữa hai lãnh đạo. Theo thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, thì ông và đồng nhiệm Singapore Lý Hiển Long đã nhất trí về « tầm quan trọng của luật pháp và sự hợp tác trong cộng đồng quốc tế ».

Riêng thủ tướng Lý Hiển Long thì khẳng định rõ là dù không phải là một nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, và không thiên vị bên tranh chấp nào, nhưng Singapore cũng có « những lợi ích then chốt để bảo vệ ».

Đó là quyền tự do hàng hải và hàng không, cũng như một « trật tự khu vực và thế giới dựa trên luật pháp, một trật tự cần thiết để duy trì và bảo vệ các quyền, đặc quyền của mọi nước cũng như thể hiện sự tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao trong việc giải quyết tranh chấp ».

Hai thủ tướng Shinzo Abe và Lý Hiển Long được cho là đã muốn nhắc nhở Trung Quốc về sự cần thiết phải tôn trọng luật lệ quốc tế, điều mà Bắc Kinh đã coi thường khi phủ nhận phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye ngày 12/07/2016 bác bỏ yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc tại Biển Đông.

Ngoài hồ sơ Biển Đông, lãnh đạo Nhật Bản và Singapore cũng nêu bật sự cần thiết của hiệp định tự do mậu dịch Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP mà ông Lý Hiển Long xem là một thỏa thuận « chiến lược quan trọng ».

Thủ tướng Singapore đã khuyến khích Tokyo sớm phê chuẩn hiệp định này và cho rằng : « Sự tham gia của Nhật Bản (trong TPP) rất quan trọng vì Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai trong khối và là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới ».

http://vi.rfi.fr/chau-a/20160929-nhat-ban-va-singapore-phai-ton-trong-luat-phap-quoc-te-o-bien-dong

Đại tá Mỹ gốc Việt đưa tàu chiến tới Đà Nẵng

VOA Tiếng Việt. 29.09.2016


Đại tá Lê Bá Hùng, Chỉ huy Biên đội tàu khu trục số 7, tại Đà Nẵng hôm 28/9.

Đại tá Lê Bá Hùng, Chỉ huy Biên đội tàu khu trục số 7, tại Đà Nẵng hôm 28/9.

Một quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt đã đưa Biên đội tàu khu trục số 7 của Mỹ tới Việt Nam tham gia cuộc giao lưu hải quân giữa hai nước cựu thù.

Lễ đón đội tàu của Mỹ diễn ra tại cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng hôm qua, 28/9. Tin từ Hoa Kỳ cho hay, sự kiện thường niên có tên gọi Chương trình Giao lưu Hải quân 2016 tập trung vào “các hoạt động phi tác chiến cũng như tổ chức các hoạt động phục vụ cộng đồng”.

Đại tá Lê Bá Hùng, Chỉ huy Biên đội tàu khu trục số 7, nói trong một thông cáo của Đại sứ quán Mỹ rằng “năm nay, chúng tôi đã mở rộng các hoạt động trên biển bằng cách đưa vào chương trình một tình huống giả định phức tạp hơn nhằm thực hành Bộ Quy tắc ứng xử cho những cuộc chạm trán ngoài ý muốn trên biển và thực tập tìm kiếm cứu nạn”.

Ngoài Biên đội do ông Hùng chỉ huy, các đơn vị Hoa Kỳ tham gia đợt giao lưu này còn có tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS John S McCain, lực lượng Đặc nhiệm 73 và Ban nhạc Hạm đội 7 “Orient Express”.

Đại tá gốc Việt nói thêm rằng ông “rất mong được hợp tác với tàu USS John S McCain và giao lưu với hải quân Việt Nam cùng người dân Đà Nẵng trên cơ sở những thành công và bài học kinh nghiệm từ Hoạt động Giao lưu Hải quân năm trước”.

Chương trình Giao lưu Hải quân Việt – Mỹ năm ngoái có sự góp mặt lần đầu tiên của tàu tác chiến gần bờ USS Fort Worth.

Theo phía Mỹ, chương trình giao lưu hải quân hiện nay, gồm các hoạt động chung kéo dài nhiều ngày trên đất liền và trên biển, đã được hình thành từ các chuyến thăm cảng Đà Nẵng của hải quân Hoa Kỳ hơn 10 năm trước.

Đại tá Lê Bá Hùng lần đầu tiên chỉ huy một tàu khu trục với thủy thủ đoàn 300 người tới Việt Nam hồi cuối năm 2009, sau khi trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên nhận chức vụ hạm trưởng.

Quân nhân này sinh ra tại thành phố Huế, và gia đình ông đã được tàu Mỹ vớt khi vượt biển đi tị nạn hồi cuối những năm 70.

http://www.voatiengviet.com/a/dai-ta-my-goc-viet-dua-tau-chien-toi-da-nang/3530019.html

 

Thằng Thời

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Xin thầy mẹ đừng nuôi con ăn học
Hoặc tìm con một nghề nghiệp ấm thân

Bởi mai này con sẽ làm tên lính
Học làm gì cho vô ích phù vân
Xin thầy mẹ mài con ra gan dạ
Để lớn lên khỏi sợ trước kẻ thù
Chẳng ói mửa khi chìm trong biển máu
Chẳng hãi hùng khi lạc giữa rừng sâu

Con ước muốn thầy cho con cây súng
Ngay bây giờ để tập bắn cho quen…

Xin Thầy mẹ đừng bắt con phải học
Nghĩa lý gì với cuộc sống hôm nay
Giống nòi ta bao nhiêu năm khổ nhục
Tiếng quạ kêu an át suốt đêm ngày…

Xin thầy mẹ đừng nuôi con ăn học
Hoặc tìm con một nghề nghiệp ấm thân
Bởi mai này con sẽ làm tên lính
Học làm gì cho vô ích phù vân…

Một bài thơ trước 75 (Vô Danh)
https://c1.staticflickr.com/9/8387/8542794565_c556726f58_c.jpg

Ngày xưa, ở Ban Mê Thuột, trước nhà tôi, trong cái xóm nhỏ gọi là xóm đạo, có tay kia tên là Thời, cũng bặm trợn lắm chứ chẳng hiền lành gì. Thằng Thời thích chơi với tôi và tôi cũng thích chơi với nó vì cả hai thằng đều con nhà nghèo và đều có chút tánh khí ngang tàng trong người. Thằng Thời lớn hơn tôi cỡ chừng vài tuổi gì đó, nhưng không hiểu tại sao chúng tôi nói chuyện với nhau lại xưng mày tao, và mỗi lần nhắc tới Thời thì thiên hạ ai cũng đều gọi nó là thằng Thời. Có lẽ, khi một thằng con trai đã sinh ra trong một gia đình nghèo thì thiên hạ có quyền muốn gọi bằng bất cứ danh từ gì cũng được.

Gia đình thằng Thời người gốc Bình Định, ăn nói nghe hơi “lọa” tai nên chúng tôi thỉnh thoảng còn gọi nó là Thời nẩu. Cái tiếng Thời nẩu này chỉ có mình tôi dám gọi, những đứa khác trong xóm mà vô ý gọi như thế là sẽ bị cú đầu liền.

Gia đình thằng Thời rất nghèo. Nhà tôi tuy nghèo nhưng dù sao thì cũng còn được cắp sách đi học và có cơm ăn áo mặc, dù không phải là loại mắc tiền nhưng cũng không đến nổi vá chùm vá đụp, lu gạo trong nhà ít khi cạn láng. Nhưng nhà thằng Thời thì nghèo đến độ phải chạy cơm từng bữa, con cái chẳng được đi học, không có cả quần áo tươm tất để mặc, mấy anh em mặc quần áo vá chùm vá đụp coi rất thảm thương.

Ba thằng Thời làm phu khuân vác ngoài chợ. Nói là phu khuân vác cho sang nhưng thật ra thì hễ ai cần bất cứ việc gì, từ việc khuân vác cho đến việc gánh phân heo, ba nó đều làm tuốt. Má thằng Thời cũng đi làm hay đi ở nhà nào đó không biết mà sáng sớm ra đi mãi cho đến tối mịt mới trở về. Thằng Thời ở nhà coi hai đứa em. Lâu lâu ba thằng thời về nhà, miệng toàn mùi rượu, đi đứng nghiêng ngả và ca hát om xòm. Ông hát nhiều bài nhưng chỉ có một bài bọn tôi thích nhất là bài (xin quí vị lượng thứ cho danh từ tục tỉu) “Ăn L… giăng phăng” vì nó là tiếng Pháp, lời nghe ngộ nghỉnh như sau: “Ăn L… giăng phăng đờ la Ba Trí à…” Mãi sau này tôi mới biết đó là bài quốc ca La Marseillaise của Pháp, bắt đầu bằng câu: “Allons enfants de la patrie, le jour de gloire est arrivé…” Nghe ông ca như thế, đàn ông thì ôm bụng cười khoái chí, còn đàn bà thì nhăn mặt khó chịu, bảo chú Bảy “Hát hò gì mà dô duyên tục tỉu.” Mỗi lần bọn con nít chúng tôi gặp ba thằng Thời, đều chạy theo năn nỉ: “Chú Bảy, chú Bảy hát bài… ăn L… cho tụi con nghe đi.” Thôi, tôi kể lại, xin quí vị đừng chấp chúng tôi, chuyện con nít mà….

Nhưng chú Bảy không bao giờ hát khi tỉnh táo, ông chỉ lầm lầm lì lì.
Được cái là ba thằng Thời, dù có tật rượu chè nhưng khi uống rượu say về nhà thì chỉ hát hò, không bao giờ la mắng hay đánh đập vợ con như nhiều người Việt Nam khác. Đúng ra, chú Bảy rất thương mấy đứa con của chú. Hôm nào ông làm được ra tiền thì thế nào cũng đem về mấy ổ bành mì thịt, hay gói xôi, hay củ khoai, hay con khô mực (có lẽ để dành từ bàn nhậu) cho con cái ăn. Nhưng cũng có vài khi, cả đêm ba má nó không về, bỏ 3 anh em ở nhà bị đói meo râu. Thằng Thời thương em, tự động đi kiếm củi nấu cơm cho các em ăn. Có khi hết gạo, nó qua nhà tôi mượn gạo. Hồi đó chưa có mì gói cho nên nấu một nồi cơm bằng củi không phải là chuyện đơn giản. Vào lúc mùa mưa củi ướt, có khi nó lục đục tới khuya mới nấu chín được nồi cơm. Anh em chúng nó ngồi quây quần ăn cơm trên nền đất với chén nước mắm, dưới ngọn đèn dầu leo lét, coi thấy vừa tội nghiệp và lại vừa dễ thương đầm ấm, chan chứa tình người làm sao.

Nhà nó là chỉ là một cái chòi nhỏ vách bằng ván, cũng vá chùm vá đụp như áo quần của anh em thằng Thời. Nhà lợp mái tôn, lại cũng là thứ tôn cũ đi lượm ở đâu về, cái dài cái ngắn, cái đen cái trắng, cũng vá chùm vá đụp lên nhau cũng như vách ván. Nền nhà bằng đất nên mùa mưa thì đi trong nhà mà như lội bùn và mùa hè thì bụi tung mù, làm thằng Thời lâu lâu phải sách nước tạt xuống cho đỡ bụi. Trong nhà độc nhất chỉ có một cái giường tre, một cái bàn nhỏ cũ kỹ chắc lượm ở đâu đem về, mấy cái ghế cao thấp không bằng nhau, một cái tủ đựng chén bát, một cái bếp nhỏ và một hủ gạo. Sau nhà là một thùng phuy nước cho cả gia đình tắm gội, giặt giũ.
Hồi đó tôi rất thích qua nhà thằng Thời chơi, dù nhà nó chẳng có gì. Có lẽ tôi thích qua nhà nó chơi vì thằng Thời có nhiều tài vặt. Hình như, trời thường đãi những thằng con nhà nghèo bằng những cái tài đặc biệt mà bọn nhóc con nhà giàu không thể có được.

Cái tài đầu tiên của thằng Thời là tài chơi đánh trỏng. Không biết ai còn nhớ trò chơi đánh trỏng ở Việt Nam mình không. Trò chơi rất đơn giản gồm 2 khúc cây, một dài một ngắn. Trước khi chơi, người ta khoét một cái lỗ nhỏ trên mặt đất rồi để khúc cây nhỏ nằm nửa trong nửa ngoài cái lỗ này. Khi đánh vào phần đuôi của cây gỗ nhỏ này, nó sẽ văng lên cao và người chơi sẽ đánh vào khúc cây vừa bay lên. Ai đánh cho nó đi xa nhất thì người đó thắng.
Trò chơi đánh trỏng coi rất đơn giản nhưng rất khó và nếu chơi thì rất mê vì khi đánh được khúc cây nhỏ từ dưới đất lên cao, người chơi khó mà đánh trúng được nó. Riêng tôi, đánh 10 lần thì bị hụt đến 9 lần, và nếu có đánh trúng thì cũng khó mà đánh cho xa được.
Riêng thằng Thời thì khỏi nói. Nó khum người, gõ một phát cho cây gỗ nhỏ tung lên cao. Thay vì quất một phát vào lưng khúc gỗ, nó còn gõ vào khúc cây hai ba cái như người ta nhồi một trái banh trong tay rồi mới nghiến răng quất một phát thật là chính xác và thật mạnh. Nhiều khi, nó đánh xa quá, khúc cây trỏng văng mất tiêu, không ai kiếm ra được…
Thằng Thời còn có tài kể chuyện. Không hiểu nó nghe được ở đâu vì nó không biết đọc, nhưng những chuyện trong Tam Quốc Chí như Quan Công Phò Nhị Tẩu, Lã Bố hí Điêu Thuyền, Tào Tháo rượt Lưu Bị, Triệu Tử Long đại phá quân Tào như thế nào nó kể nghe rất hay và hấp dẫn. Kể hoài và kể nhiều thì lâu lâu cũng bị bí. Khi nào bí quá thì anh chàng lại tự phịa ra thêm để tiếp tục kể cho chúng tôi nghe. Tôi biết nó phịa vì sau này lớn lên đọc Tam Quốc Chí, tôi tìm mãi chẳng thấy có khúc nào đã xảy ra như lời nó kể ngày xưa. Có điều là, chuyện nó phịa mà tình tiết cũng lâm ly hấp dẫn chẳng khác gì chuyện Tam Quốc thật. Thế mới tài.

Thằng Thời còn có tài làm diều. Muốn làm diều thì phải có keo nhưng nhà thằng Thời làm gì có cho nên nó phải “cộng tác” với tôi vì tôi đi học, luôn luôn có keo sẵn trong cặp táp. Chúng tôi mỗi đứa dán một cái diều và trăm lần như một, diều của thằng Thời luôn luôn là đẹp hơn và nhẹ hơn nên luôn luôn bay cao hơn tôi.

Nhờ thằng Thời, tôi mới biết là muốn thả diều phải chờ cho đến lúc có gió to. Một hôm tôi ôm diều sang nhà nó rủ nó đi thả diều. Thằng Thời cười bảo làm gì có gió cho mày đi thả diều mà đòi. Tôi ngây thơ, dốt mà lại có cái đầu cứng như đá cho nên bảo nó:

-Mày không đi với tao thì tao đi một mình.

Thế là tôi quyết định đem diều ra thả. Thằng Thời đi theo, miệng cười cười. Tôi cầm diều chạy lên chạy xuống con đường đất, chạy chậm rồi đến chạy mau, chạy muốn xịt … nước ra đít mà con diều thổ tả nhất định không chịu bay lên cao, cứ lên được một chút, nhưng hễ tôi ngừng chạy là con diều lại rớt ngay xuống đất, ngay trước mặt tôi. Cuối cùng, tôi phải chịu là nó đúng. Tôi xé nát con diều (mà không xé thì nó cũng đã gần nát như tấm giẻ rách rồi) giận dỗi bỏ về, nghe tiếng cười hềnh hệch của thằng Thời phía sau lưng mình….

Trên trái đất này, nếu có thằng bé con ngu dốt nào cứ đòi thả diều lúc không có gió ấy chính là thằng Nhị đen cứng đầu ngu dốt ở Ban Mê Thuột….
Thằng Thời còn có tài đá dế và bắt dế. Năm nào cũng thế, hễ mùa dế tới thì cu cậu bận rộn tưng bừng và xu hào rủng rỉnh.
Mùa đá dế, mỗi buổi chiều, sau khi đi học về, vừa quẳng cặc táp xuống là tôi phóng qua nhà thằng Thời để… coi dế và theo nó đi đá dế. Dân nhà quê chúng tôi có những thú giải trí mà dân thành phố không bao giờ có được, đá dế là một thí dụ.

Một trận đá dế cũng hào hứng chẳng kém gì một trận đá gà hay một trận đánh võ. Trước khi đấu, chúng tôi thường đem dế ra khoe rồi cạp độ. Khi thì cá độ bằng tiền, một đồng, hai đồng, khi thì chỉ một cây kẹo hoặc cây bút chì, cục gôm. Nghĩa là có thứ gì trong tay thì cá thứ đó.

Thằng Thời cho tôi làm phụ tá… đá dế. Nó sai gì tôi làm đó. Chúng tôi luôn luôn mỗi đứa cầm hai cái lon. Một cái lon dành để chứa dế đá, cái kia dùng để chứa dế bán.
Trước khi đá, minh chọn một cái lon nhỏ làm đấu trường. Sau đó, dùng tóc móc vào đầu con dế mình rồi quay nó vài chục vòng cho nó say, phun nước bọt vào cho con dế say thêm… nước miếng. Liệu chừng dế đã say rồi thì có thể thả nó vô “Đấu trường”, tiếp tục dùng sợi tóc gấp làm đôi ngoáy ngoáy vào mặt nó, chọc cho nó điên lên. Khi dế bắt đầu vỗ cánh lên, nhe nanh ra và hí lên ren rét, ấy là lúc có thể thả đối thủ phía bên kia vào được…

Đá gà ra sao thì tôi không biết nhưng đá dế thì hào hứng lắm. Hai con dế rống lên, phóng vào nhau, vừa cắn vừa đạp loạn xạ. Khi con nào quay đầu bỏ chạy tức là con đó bị thua. Cũng đôi khi có con bị cắn đứt ruột hay đứt đầu, coi cũng ghê gớm lắm.
Thường thì một trận đấu kéo dài chỉ chừng chục giây đồng hồ là cao lắm, nhưng chuẩn bị cho nó đá thì mất rất nhiều thì giờ và công sức. Công sức bắt đầu từ lúc đi bắt dế, nuôi dế, chọc cho dế tức vân vân và vân vân…

Tôi không hiểu thằng Thời đi rình ở đâu mà mỗi ngày bắt về chừng chục con dế lửa, loại to con và chiến nhất thế giới. Thằng Thời đá dế nổi tiếng xóm tôi, không ai hạ được. Và cứ đến mùa dế, như đã nói, thằng Thời tiền bạc luôn luôn rủng rỉnh vì nhờ bán dế. Hồi đó, tôi nhớ mãi, thuốc lá Ruby người ta bán 3 đồng 4 điếu mà thằng Thời bán có con dế có khi được tới 5 đồng một con. Mỗi ngày bán được vài con là cu cậu có quyền cà rem kẹo bánh vi vút và tôi cũng được hưởng ké.
Tại sao lại có chuyện 3 đồng 4 điếu Ruby vào đây? Xin thưa, một lần, bán được mấy con dế được gần 10 đồng, thằng Thời ra tiệm “bà Quán” bỏ ra 3 đồng mua 4 điếu thuốc lá Ruby. Tôi hỏi nó mày biết hút thuốc à, thằng Thời trả lời, “Không, tao mua cho cha tao, tối về hút.”
Hồi đó nghe nó nói như thế tôi chẳng nghĩ gì thêm, nhưng sau này nghĩ lại tôi mới thấy phục thằng Thời. Một lần nữa, tôi không biết trên thế giới này có bao nhiêu thằng con trai đi bán dế để ăn kẹo mà còn nghĩ đến cha mình như thằng Thời?
Nhưng ngoài những chuyện đá dế và thả diều trên, thằng Thời còn nổi tiếng là một thằng bặm trợn. Nó đánh nhau gan lì, không thua ai và ai cũng nói thằng Thời có võ.

Người Bình Định, nghe nói, ai cũng có chút ít võ nghệ dằn thân. Xóm tôi ai cũng ngán nó nhưng với những người trong xóm, nó hiền khô, không hề bắt nạt ai. Nhưng con nít xóm khác mà đi lạc qua xóm tôi, gặp thằng Thời mà ăn nói lạng quạng thì thế nào cũng bị ăn đòn. Khi đụng độ, thằng Thời không có tật nói nhiều. Câu trước câu sau là nó đã vung tay đánh người ta bật ngữa ra sau rồi, không ai đỡ kịp. Lâu lâu, nó cũng sang xóm khác sinh sự đánh nhau và có lần đánh thua, cu cậu bị một bọn nào đó tới tận nhà kiếm, làm nó phải ra ngoài rẩy trốn mấy ngày mới dám mò về.

Tôi phục thằng Thời ở chỗ là nó đi ăn thua ở đâu chứ không đi ăn thua với người trong xóm. Trong xóm, thằng Thời chẳng bao giờ làm phiền ai. Gặp người lớn tuổi, nó nói chuyện một tiếng xưng ông bà, hai tiếng xưng con…

Một ngày nọ, tôi đang ngồi trên chiếc giường tre trong nhà thằng Thời đọc nhật trình cho nó nghe thì bà Mậu, một người đàn bà khó tánh và điêu ngoa nhất xóm, chạy thẳng vào trong nhà nó, mặt mày hầm hầm làm như chỉ muốn gây sự.

Bà Mậu là một người đàn bà bí mật và khó tánh nhất xóm, nhưng theo lời nhiều người nói, là một người đàn bà đẹp. Bà người Huế, không có chồng, nhưng nhà cửa ở rất sang trọng bề thế so với những căn nhà bình dân trong xóm tôi. Nhà bà có điện, và cái hàng rào kẽm gai rào chung quanh càng làm cho nó có vẻ riêng biệt và sang trọng. Lâu lâu trong nhà bà, từ ngoài hàng rào nhìn vào, chúng tôi thấy có thấp thoáng bóng đàn ông, thường là đàn ông Tây, dân chủ đồn điền cafe. Tết nhất, xe hơi đậu hàng đống trước nhà bà, nhảy đầm tưng bừng bên trong, nhạc vang ra ầm ỉ làm bọn con nít chúng tôi cứ chen lấn nhau ngoài hàng rào mà xem.

Có người đồn bà là gái giang hồ mà hồi tôi còn nhỏ chẳng biết gái giang hồ là gái gì. Mãi sau này mới biết là đĩ nhưng đó chỉ toàn là thứ tin đồn nói nhỏ với nhau nghe thôi chứ không ai có bằng chứng gì. Nhưng phải công nhận, sau này khi lớn hơn một chút, khi nhìn bà, tôi phải công nhận bà là một người đàn bà mà ai nhìn vào cũng thấy thích, kể cả tôi. Thêm vào đó, bà ăn mặc lịch sự và sang trọng. Chưa nhìn thấy bà Mậu là người ta đã ngửi được mùi nước hoa thơm lừng. Có lẽ bà là một trong vài người đàn bà hiếm hoi sức nước hoa trong xóm đạo tôi.

Thấy bà Mậu vào nhà mình một cách ngang ngược như thế, thằng Thời vẫn ngồi yên trên ghế, hỏi bà:

-Chào bác, bác kiếm ai?

Bà không trả lời, nhìn láo liên khắp nhà một lúc rồi hỏi:

-Cha mẹ mi có nhà không hỉ?
-Thưa, cha mẹ con đi làm hết rồi.

Không nói gì thêm, bà Mậu khom người chổng bộ mông đít tròn trịa và vĩ đại về phía chúng tôi, nhìn xuống đáy giường một lúc như tìm kiếm vật gì. Rồi bà đứng lên, đi thẳng tới bên cái tủ quần áo cũ kỹ không có cửa, nhăn mặt lại, thò tay vào đống quần áo cũ của cả nhà thằng Thời xới qua xới lại một lúc. Lại cũng kiếm cái gì.

Thằng Thời hỏi:

-Bác kiếm chi?

Con mụ không trả lời, lại tới bên hủ gạo, mở nắp nhìn vào. Nhưng hủ gạo tối quá, bà không nhìn thấy được nên bà thò tay vào trong hủ gạo ngoáy qua ngoáy lại một lúc. Cặp vú to lớn và trắng như trứng gà bóc của bà lắc qua lắc lại trong chiếc áo hở ngực theo từng động tác. Hồi đó còn nhỏ tôi chẳng biết gì nhưng nhìn cặp vú bà cũng thấy… vui vui.

Rồi bà nhăn mặt lại, rút tay ra, đậy nắp lại.

Thấy bà ngang ngược như thế thì tôi bất mãn ra mặt. Mẹ, nhà tôi mà ai tới xục xạo kiểu này thì tôi đục cho hộc máu. Nhưng thằng Thời, tuy là một thằng chẳng hiền lành gì, thậm chí nổi tiếng là hung tợn nhất xóm, lại ngồi im không nói năng gì.
Rồi bà đứng lên, tới gần cái tủ để đồ ăn nhỏ tí tẹo mở cửa ra nhìn vào. Không thấy gì, bà xoay người, tới bên cái giường tre duy nhất của nhà thằng Thời, lật tung mấy cái mền, cái gối, rồi dở luôn cả cái chiếu lên để tìm cái gì bà đang kiếm.

Bà nhăn mặt phê bình:

-Ăn ở chi mà dơ như mọi rứa hỉ.

Tôi nhìn thằng Thời, toan xúi nó chửi cho con mẹ mất dạy một trận, nhưng nó lắc đầu quay đi, không nói gì.
Rồi bà Mậu nạt lớn:

-Thời, mấy đứa em mi đi mô rồi hỉ?
-Tụi nó chơi phía trước.
-Mi đem tụi hắn vô đây cho tao nói chuyện hỉ?

Thằng Thời đứng lên đi liền, đầu cúi xuống, không nói một lời. Ra ngoài, thằng Thời gọi lớn:

-Con Ba thằng Tư đâu, về nhà anh Hai biểu…

Trong nhà, còn lại mình tôi, bà Mậu đưa mắt nhìn tôi. Tôi chẳng sợ, nhướng mắt nhìn lại, kên kên. Bà Mậu có vẻ không ưa cái nhìn sấc sược của tôi, liền nhăn mặt lại, hỏi:

-Còn thằng ni, mi mần chi ở đây hỉ?

Tôi phạng liền:

-Tui làm chi thì mắc mớ gì tới bà?
Chỉ có thế là bà tru tréo lên liền:
-Trời ơi là trời, học trò học trẹt chi mà ăn nói mất dạy như rứa hỉ. Tau hỏi là hỏi cho vui, mi mần chi mà trả lời như quân du côn đầu đường xó chợ rứa hỉ. Cha mẹ mi tốn tiền cho mi đi học, mi để cho người ta dạy mi ăn nói như rứa hỉ? Mi con nhà đàng hoàng, cha mạ mi dạy mi như răng tao không biết, nhưng mi đi theo với thằng Thời chơi riết rồi mi mất dạy như nó.

Đúng là một con quỷ cái… vú bự. Chỉ một câu nói, nó chửi gia đình tôi, chửi luôn cả trường học của tôi, chửi luôn cả nhà thằng Thời. Nhưng tôi đâu ngán. Đã chuẩn bị, tôi sẵn sàng ăn thua đủ với con đĩ này. Tôi tính phùng mang chửi lại một trận thì thằng Thời dắt mấy đứa em nó vào nhà.
Bà Mậu chỉ mặt thằng Thời và 2 đứa em nó, hỏi:

-Tụi bay có đứa nào lấy cái quần sa-teng đen tao phơi ngoài hàng rào không hỉ? Tụi bay thấy quần đẹp có lỡ lấy, trả lại tau, tau bỏ qua, còn không thì tao cho cảnh sát nhốt hết cả nhà tụi bay, cha mạ tụi bay vô tù hết. Tao quen lớn lắm, tụi bay biết không hỉ?

Trời đất, lúc ấy tôi mới biết là bà Mậu mất cái quần Sa-teng.

Nghe nói vô tù, hai đứa em thằng Thời trợn 2 cặp mắt khiếp đãm nhìn bà Mậu, nước mắt bắt đầu muốn chảy ra. Thằng Thời nói liền, giọng chẳng hề sợ hãi:

-Bác đừng có nói vậy oan cho tụi con. Nhà tụi con nghèo thiệt nhưng không có phải là quân ăn cắp đâu bác. Bác vào nhà con bác sục sọi khắp nơi, bác có tìm thấy cái gì đâu.

Thấy thằng Thời nói có lý, bà lại nói:

-Tau nói cho tụi bay biết hỉ, nếu tụi bay thấy cái quần Sa-Teng bay rớt ở đâu thì phải lượm đem tới nhà tau, không được ăn cắp hỉ…
Rối bà Mậu bỏ đi ra, không quên lườm cho tôi một phát, ngụ ý bảo mày liệu hồn, lần sau là tao tới nhà mày đấy.

Bà Mậu đi rồi, hai đứa em thằng Thời mới oà lên khóc nức nở. Thằng Thời vỗ về hai em, căn dặn:
-Anh Hai dặn tụi bay hoài mà tụi bay không nghe. Nhà mình nghèo, tụi bây đi chơi nhớ đừng có bày trò chơi gần mấy nhà giàu như nhà bà Mậu, lỡ người ta có mất cái gì, người ta có cớ đổ tội cho tụi bây. Tụi bây làm khổ tao, làm phiền luôn cả cha mạ.

Con Ba lau nước mắt nói:

-Dạ anh Hai đã dặn, tụi em đâu có dám đi đâu đâu, tụi em chỉ chơi trước nhà thôi mà…

Thằng Thời lắc đầu, mặt mày chua xót bảo:

-Thôi đi chơi đi, nhớ lời anh Hai dặn.

Hai đứa nhỏ lau nước mắt bước ra. Chỉ chừng vài phút sau là tôi nghe được những tiếng cười hồn nhiên và vui tươi của chúng nó ở trước nhà…
Tôi hỏi thằng Thời:

-Thời, nhà của mày, sao mày để cho con đĩ thúi vô nhà lục soát khắp nơi rồi còn chửi bới mày tùm lum như vậy?

Thằng Thời lắc đầu, cặp mắt buồn buồn nói:

-Mày không biết, đâu phải chỉ có con mẹ Mậu mới hung tợn như vậy. Trong xóm này ai cũng vậy hết… Nhà tao nghèo nên bị thiên hạ coi rẻ, hễ ai mất cái gì thì việc đầu tiên là họ chạy vào đây lục soát trước, coi thử tụi tao có ăn cắp không. Nhà tao ban ngày mở cửa, ai muốn vào chẳng được…

Tôi nói rất là thành thật với lòng mình:

-Đù mẹ con đĩ đó dám vô nhà tao mà làm như thế thì tao chém nó chết liền tại chỗ. Tao chờ.

Thằng Thời lắc đầu, giọng buồn buồn:

-Thôi kệ mày ơi, nhà mình nghèo, mình có nói cỡ nào đi nữa thì cũng chẳng ai thèm tin, thôi thì cứ để cho thiên hạ vô lục soát thì người ta mới tin được. Mình vàng thiệt đâu sợ lửa mày…

“Mình vàng thiệt đâu sợ lửa mày…” câu nói đơn giản này của thằng Thời đã ám ảnh tôi không biết bao nhiêu năm rồi. Tại làm sao trong những hoàn cảnh nhục nhã bi thương như thế mà những người nghèo lại nói được những câu hiền lành và dễ thương như thế. Tôi không hiểu được.

Rồi thời gian cũng qua, cái tuổi thơ hiền lành vô tội của hai thằng cũng theo thời gian mà lần lần phai nhạt. Càng lớn hơn thì chúng tôi càng ít có dịp gần gũi nhau vì khi thằng Thời đã có chút ít vóc dáng và sức lực, ba nó cho nó đi làm mướn ở đâu không biết, một tuần nó mới về nhà vài lần. Phần tôi, công việc học hành cũng bận rộn, và càng lớn thì khoảng cách của tôi với nó như càng xa đi, không còn như hồi còn nhỏ. Dù hai gia đình sau này cũng vẫn còn nghèo nàn khốn khổ như xưa, nhưng tâm hồn hai thằng bé con ngày nào ắt đã có nhiều sự thay đổi. Thằng Thời thất học, lúc nhỏ tôi thích chơi với nó để khi thì nghe chuyện Tam Quốc, khi thì đi đánh trỏng, khi thì đi thả diều, đá dế. Nhưng lớn lên thì nó cũng chỉ có chừng đó mà thôi, không có gì mới hơn. Phần tôi, những trò chơi ngày xưa không còn hấp dẫn nữa. Tôi bắt đầu biết mê đọc sách, đọc báo, ham coi xi nê, mê tài tử xi-nê như Alain Delon, Marlon Brando, biết những thú giải trí khác của những thằng học sinh còn được may mắn cắp sách tới trường. Chúng tôi nói chuyện không còn hợp nhau nữa…

Rồi đến một ngày nào đó, tôi cũng không còn nhớ đến thằng Thời nữa, dù biết rằng gia đình nó vẫn còn ở chỗ cũ, ngay trước nhà tôi, phía sau một căn nhà lớn.
Một ngày, lúc này tôi đã vào Trung học, tôi gặp thằng Thời và ngạc nhiên khi thấy nó mặc áo trắng, quần ống túm, để tóc dài kiểu Beatles. Mới nhìn qua thì coi cũng giống như trai… Sài gòn, nhưng nhìn kỹ, vì đôi chân vẫn còn mang dép nên coi có vẻ quê mùa chứ không được … à la mốt lắm. Cu cậu còn biết hút cả thuốc lá…
Tôi lúc ấy đang còn đi học, chưa ra đời nên thấy nó như thế thì cũng phục lắm. Tôi rà tới hỏi thăm và trò chuyện.

Thằng Thời gặp tôi cũng mừng lắm. Nó khoe nó đi làm ở Nha Trang mới về. Tôi hỏi làm gì, nó bảo làm đủ thứ cho một nhà hàng bán bar cho Mỹ. Rồi nó kể chuyện Nha Trang cho tôi nghe làm tôi muốn chảy nước miếng. Nó kể chuyện Nha Trang lộng lẫy to lớn như thế nào, ban đêm đèn bật sáng đẹp ra làm sao, người ta đi lại như thế nào, rạp xi nê rạp chiếu bóng tốt như thế nào, bờ biển đẹp và con gái đi tắm biển mặc quần sì líp lòi đít, áo xú chiêng lòi vú ra làm sao làm cho tôi mê quá. Nó khoe tôi là nó còn nói được cả tiếng Mỹ. Rồi nó sổ luôn một tràng cho tôi nghe để chứng minh: “Du ô kê, Ai ô kê, Du nốt ô kê, Ai nốt ô kê, ô kế… moa đờ phét…”
Đúng ra thì phải là “Ma đờ Phắc” nhưng thằng Thời người Nẫu, nói trẹo thành “Moa Đờ Phét.” Tôi không biết Mỹ có hiểu không nhưng tôi thì hiểu.
Hồi đó Mỹ bắt đầu đổ quân vào Việt Nam, nhưng chỉ ở Nha Trang, còn Ban Mê Thuột thì chưa có. Quả thật là thằng Thời có tài nói chuyện. Nó đã nói là mọi người phải nghe. Nó kể chuyện lính Mỹ uống mấy chục chai bia mà không say, và khi say thì làm gì, làm gì, vân vân và vân vân. Nó khoe nó cho ba nó tiền mua một chiếc Xích Lô đạp cho nên nhà nó bây giờ đã có đầy đủ cơm ăn áo mặc. Mặt thằng Thời rạng rỡ.

Tôi chào mừng nó rồi chia tay…

Sau đó chừng một năm, tôi lại gặp thằng Thời lần nữa. Lần này, nó mặc đồ lính, mang huy hiệu con ó của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, đang từ trên phố đi bộ lững thững về nhà. Tôi gặp nó, hai đứa đứng giữa đường nói chuyện. Tôi hỏi mày đi lính hồi nào, nó nói chừng sáu tháng, mới huấn luyện xong, về trung đoàn, còn huấn luyện tiếp.
Tôi hỏi đủ thứ như, đi lính sướng không mày (một câu hỏi ngu dốt nhất thế giới), ăn uống thế nào nào, bắn súng sướng không mày… Tôi hỏi tùm lum vì mường tượng, một ngày nào đó, tôi cũng sẽ mặc đồ lính như nó thôi. Đất nước mình đang có chiến tranh mà, làm sao tránh được.

Thằng Thời trả lời:

-Đi lính thì nhớ nhà lắm, nhưng mà vui.
-Vui làm sao?
-Người ta sao mình vậy. Chính phủ cho cái gì ăn cái đó, phát cái gì mặc cái đó, thằng nào cũng giống thằng nào, không có thằng nào giàu hơn thằng nào hay mặc đồ sang hơn thằng nào để nó khi dễ mình…

Thì ra nó vẫn còn bị cái dĩ vãng nghèo khổ, bị người ta khi dễ ám ảnh… Nó mời tôi vô một cái quán cóc, uống chai bia.
Mặt mũi thằng Thời dù mới đi lính nhưng không hiểu sao đã có dáng dày dạn phong sương. Hình như ai mặc đồ lính cũng đều có vẻ dày dạn phong sương cả. Chúng tôi ngồi nói chuyện, thằng Thời khoe:
-Tao bây giờ biết đọc chữ quốc ngữ chút chút rồi.
-Ai dạy mày?
-Quân đội dạy, bạn bè dạy thêm nữa…

Nó kể chuyện những ngày ở quân trường thật là… thoải mái sung sướng. Ăn uống đầy đủ ngày tới 3 bữa lận, mà bữa nào cũng no say, được ăn thả dàn, không bao giờ thiếu. Còn ngủ thì có giường riêng, có mùng riêng, mền riêng, gối riêng, chiếu riêng. Nó còn được chính phủ phát cho “một núi” quẩn áo, có cả áo lót, quần lót, hai đôi giầy, ba đôi vớ. Cuối tháng lại được lãnh tiền, cuối tuần được cho nghỉngơi, ra phố uống cà phê, đi dạo phố hay tắm biển Nha Trang.

Hồi đó đất nước mình chiến tranh, mỗi ngày không biết có bao nhiêu thanh niên bị lùa vào quân trường để tập làm lính, ai cũng than cực, ai cũng than khổ, ai cũng chê cơm lính khô như đá, tanh hôi, nuốt không vào. Tôi không biết có bao nhiêu người lại khen đời sống quân trường là đời sống thoải mái, được ăn uống đầy đủ như thằng Thời. Có lẽ không nhiều lắm…

Ai bảo sinh ra trong gia đình nghèo thì khổ. Nhà nghèo cũng có những cái hay đặc biệt của nó.

Nhưng thằng Thời cũng có chuyện để than phiền về đời lính. Nó bảo:
-Chuyện khổ nhất đời lính là chuyện… phải mang giày. Tao từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ biết mang đôi giầy, bây giờ chính phủ bắt mang giầy, đút cặp dò vô đôi bốt đờ sô thấy ngứa ngáy khó chịu quá chừng…
Ngồi nói chuyện một lúc, có tay kia trong xóm, tên là Quới, lớn tuổi hơn chúng tôi và khá trải đời. Tay này làm gì không biết nhưng đầu lúc nào cũng Bi-dăng-tin bóng lộn, mang giày mũi nhọn, hút thuốc lá Basto Xanh. Chúng tôi quen tay này nhưng không hiểu vì sao không ưa hắn được. Hắn bước vào quán, nhìn thấy thằng Thời liền hỏi:

-Trời đất, mày mà cũng đi lính à?
Thằng Thời hãnh diện trả lời:
-Dạ em đi lính năm ngoái.
Tay Quới ngồi xuống bàn gần đó, đưa tay trịnh trọng tháo cặp mắt kính đen bỏ xuống bàn, nói lớn, làm như muốn cho mọi người trong quán biết hắn là một tay sành đời:
-Mày con trai một trong nhà, đáng lý phải được hoãn dịch, và mày cũng chưa tới tuổi, tại sao lại phải bỏ nhà đi lính?
Thằng Thời trả lời tỉnh bơ:
-Dạ tại em muốn đi.
Tay kia biểu môi:
-Nhà chỉ có mình mày, mày không ở nhà giúp đỡ cha mẹ, tại sao lại đi lính? Bộ muốn làm anh hùng hả?
-Dạ em đâu có muốn làm ông gì anh Quới? Nước mình nổi giặc, em phải xung phong đóng góp một tay chớ anh. Em có hỏi cha, cha em nói mi muốn đi lính thì cứ đi đi, hai em lớn rồi, ở nhà phụ cha được…
Tay kia lại nói:
-Ai cũng muốn trốn lính ở nhà cho yên thân, chỉ có mày là ham đi lính. Thiệt tình.
-Nói như anh thì chính phủ lấy ai mà đánh giặc.
Tôi ngồi suy nghĩ về những gì hai người nói với nhau, tự hỏi lòng, tại sao thằng Thời được hoãn dịch vì gia cảnh và chưa tới tuổi đi lính mà lại tình nguyện đi. Nếu nói nó đi lính vì nhà nó nghèo khổ thì không phải bởi vì lúc sau này thằng Thời đi làm công sở Mỹ, tiền bạc rủng rỉnh và đem tiền về khá nhiều để nuôi gia đình. Mấy con em gái nó bắt đầu lớn và ăn mặc cũng bảnh choẹ ra, không lôi thôi như hồi xưa nữa. Nó đi lính, tôi nghĩ, vì thích cuộc sống giang hồ…
Đó là lần cuối cùng tôi gặp thằng Thời….
Một buổi chiều, cách đó chừng một năm, khoảng gần Tết, tôi đang ngồi trong nhà học bài thì có một thằng hàng xóm xông thẳng vào nhà, la toáng lên:
-Người ta đem xác thằng Thời về rồi…
Tôi giật nẩy mình lên, rụng rời hỏi:
-Thằng Thời chết rồi à?

-Ừ, mày ra coi, người ta đem xác nó về…

Tôi phóng ra ngoài, nhìn thấy một chiếc xe nhà binh đậu bên kia đường, trước nhà thằng Thời. Mấy người lính chum nhau khiêng xuống một cái hòm màu đỏ.
Hàng xóm mọi người đều bu quanh cái hòm đông quá nên tôi không thể tới gần được. Tôi cũng chen lấn và mãi một lúc lâu sau, tôi mới chun vào nhà nó được, nơi cái quan tài đỏ còn mở nắp để giữa nhà, chiếm gần hết diện tích…

Đã không biết bao nhiêu năm bây giờ tôi mới vào nhà thằng Thời, và ngạc nhiên vì nhà nó bây giờ có khá nhiều thay đổi. Cái nền đất của nhà thằng Thời bây giờ đã được tráng xi-măng, cái giường tre cũ đã được thay thế bằng cái giường nệm, bàn ghế trong nhà cũng hoàn toàn khác xưa. Hình như căn nhà cũng được nới rộng ra một chút xíu…

Cuối cùng thì thằng Thời cũng trở về mái nhà xưa, nhưng về trong chiếc quan tài màu đỏ. Về giữa tiếng khóc than của cha mẹ nó, anh em nó, và của cả tôi. Suốt đời nó phải ở nhà nền đất, bây giờ nền nhà đã được tráng xi măng, không biết nó đã hưởng cái sự sang trọng này được bao nhiêu lâu mà bây giờ phải nằm im lìm bất động, không phải trên giường mà trong một cái hòm, trên cái nền nhà yêu dấu xa xưa của mình.
Tôi tới gần cái hòm, nhìn vào…

Mặt thằng Thời tươi tỉnh, cặp mắt nhắm nghiền như người đang ngủ. Chiếc áo lính xanh của nó bị máu nhuộm đỏ một nửa từ ngực trở xuống vì hình như không có ai thay đồ cho nó. Không hiểu tại sao, tôi nhớ mãi cái gói Basto xanh trong túi áo nó. Cái vỏ là vỏ bao thuốc lá Basto xanh, nhưng máu đã biến nó thành một gói Basto đỏ…
Không hiểu tại sao, sau này đi lính, tôi cứ nghĩ tới bao thuốc lá Basto Xanh biến thành Basto đỏ của thằng Thời ngày nào.
Tôi chỉ ngồi gần xác thằng Thời được chút xíu thì bị đẩy ra, nhường chỗ cho người khác…

Tôi nhìn thấy chú Bảy ba thằng Thời ngồi xổm ngay trước cửa nhà, tay cầm một điếu thuốc lá, mặt thẩn thờ, cặp mắt hoang dại. Trong nhà, sâu hơn một chút, con Ba đang ôm thiếm Bảy. Bà khóc không nên tiếng, ôm lấy đứa con gái, bàn tay run lên từng hồi…

Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi có cảm giác mình gần gũi với chiến tranh. Xưa nay, dù chiến tranh đã bùng lên dữ dội khắp quê hương mình, nhưng tôi chỉ biết qua báo chí và radio. Bây giờ thì tôi đang nhìn thấy thảm cảnh chiến tranh ngay trước mặt mình…

Tôi lang thang gần đó, tới chỗ những đám người đang tụ tập để nghe người ta nói về thằng Thời. Người thì bảo thằng Thời xung phong lên chiếm đồi thì bị bắn, người thì bảo nó bị phục kích, có người lại bảo rằng chính tai họ nghe đại đội trưởng của thằng Thời nói vớichú Bảy là nó tình nguyện đi lên lấy xác của bạn, bị bắn chết nửa đường. Toàn là những chuyện nói để mà nói với nhau, còn sự thật thì ai mà biết được….

Theo tôi, thằng Thời chết bằng cách nào, chết như thế nào đi nữa thì cũng không quan trọng. Cái quan trọng là nó đã chết cho Tổ quốc. Cái quan trọng là kể từ đây, gia đình thằng Thời sẽ thiếu vắng nó. Cha mạ nó sẽ thiếu một người con. Một người con mà thuở còn thơ ấu, đi bán dế ăn quà còn dám bỏ ra 3 đồng để mua 4 điếu thuốc lá Ruby cho cha, một người con lưu lạc phương xa cầu thực và đã dành dụm tiền bạc để mua cho cha mình một chiếc xe xích-lô. Một người con mà ngay từ hổi còn nhỏ, đã biết đối đáp như sau để bảo vệ danh dự cho gia đình mình: “Thưa bác, nhà tụi con nghèo thật nhưng không phải là quân ăn cắp…”

Kể từ đây, con Ba thằng Tư, hai đứa em thằng Thời sẽ thiếu một người anh đáng kính. Một người anh đã biết thương yêu đùm bọc cho chúng nó từ những ngày xưa khi cả 3 anh em đểu vẫn còn quá nhỏ dại. Người anh đã nửa đêm chạy đi mượn gạo về nấu cơm cho em ăn. Người anh dù thất học nhưng đủ khôn ngoàn để dạy dỗ khuyên răn các em: “Nhà mình nghèo, tụi bay đi chơi đừng chơi gần nhà bọn nhà giầu để hễ có mất đồ đạc, người ta đổ thừa cho mình, làm khổ tao, làm phiền cha mạ…”

Kể từ đây, xóm tôi sẽ mất đi một thằng Thời bặm trợn. Nhưng nói như thế thì oan cho mày Thời ạ. Mày du côn bặm trợn ở đâu không biết nhưng ở xóm này thì mày có làm gì ai đâu. Thậm chí mày còn bảo vệ con nít hàng xóm nữa.

Kể từ đây, quân đội tôi sẽ mất đi một người lính tốt, một chiến sĩ can trường.

Tôi không biết quê hương đất nước mình có bao nhiêu người lính trẻ như thằng Thời. Tôi biết chắc chắn là rất nhiều bởi nước mình nghèo, dân tộc mình hiền lành hiếu thảo và ngay thật…

Sau ngày thằng Thời chết thì chiến tranh càng tăng cường độ. Tôi vẫn tiếp tục đi học và sau Tết Mậu Thân, nhìn cảnh quê hương tôi bị tàn phá, dân tôi bị tàn sát dã man thì tôi quyết định, đậu xong tú tài, tôi sẽ tình nguyện đi lính. Đù mẹ bọn khốn nạn chúng mày muốn máu, tao sẽ có máu.
Ai cũng sợ quân trường cực khổ nhưng tôi, giống như thằng Thời, cực khổ đời lính chẳng có nghĩa lý gì hết. Mẹ, toàn chuyện con nít. Đối với những thằng bé sinh ra và lớn lên trong những gia đình nghèo như chúng tôi thì đi bất kỳ chỗ nào, làm bất kỳ chuyện gì trên cái quê hương miền Nam Việt Nam yêu dấu này cũng chẳng có gì ghê gớm cả.

Sau ngày thằng Thời chết, chú Bảy ba thằng Thời uống rượu nhiều hơn và về nhà trễ hơn xưa nhưng bây giờ ông không còn ca hát vui vẻ như những ngày thằng Thời còn sống nữa. Buổi tối đi làm về, ông không hát, chỉ cúi đầu đạp chiếc xe xích lô về nhà, lưng cong lại như chất chứa cả gánh nặng của quê hương và trời đất trên đôi vai già nua nhỏ bé của mình. Nhiều người trong xóm đồn là họ đã nhìn thấy nhiều đêm, thằng Thời ngồi vắt vẽo trên chiếc xích lô do cha nó đạp, miệng hút thuốc lá phì phào. Người ta còn đồn rằng, có lần, chú Bảy say rượu làm té xe xích-lô, thằng Thời còn phụ cha nó đẩy xe lên. Đây chỉ là những tiếng đồn đãi trong xóm, tôi chưa bao giờ nhìn thấy. Nhưng tôi biết, nếu thằng Thời có về thì nó không bao giờ ngồi trên xe cho cha nó đạp mà nó sẽ phụ cha nó để đạp chiếc xe. Tôi biết tính thằng Thời mà…

Kính thưa quí vị, tôi vừa kể lại chuyện một thằng hàng xóm bạn tôi chết trận. Đất nước mình chiến tranh, thanh niên đi đánh giặc chết là chuyện thường, chẳng có gì đáng nói ở đây. Cái đáng nói là tại sao, xin nhấn mạnh rằng tại sao, tại sao những thằng như thằng Thời, vànhững thằng con nhà nghèo khác trên khắp quê hương mình, những gia đình mà tụi CS gọi là “Giai cấp bần nông hay giai cấp vô sản”, đã đi lính để chống lại chúng nó cho đến giọt máu cuối cùng? Đối với những con người nghèo khổ này thì nói thật, CS hay tư bản, chế độ này hay chế độ kia, có gì là khác nhau đâu? Quốc Gia hay CS có gì khác với chúng tôi?

Câu trả lời rất là đơn giản. Họ chiến đấu bởi vì, chính phủ mình ngày xưa, dù không phải là tuyệt đối hoàn toàn, dù có nhiều khuyết điểm và lầm lỗi, nhưng là một chính quyền của nhân bản và đạo đức, còn biết tôn trọng tự do của người dân, còn biết bảo vệ tài sản của người dân, lo cho dân, cho người dân những cơ hội để tiến thân. Gia đình họ tuy nghèo nhưng vẫn còn có được cuộc sống êm đềm hạnh phúc, được có cơm ăn ngày ba bữa, được luật pháp bảo vệ.
Cuối cùng, quan trọng nhất, chính quyền mình còn cho họ một hy vọng, một niềm tin để chiến đấu và để sống.

Hy vọng gì và niềm tin gì, xin thưa, là một ngày nào đó, cho dù nếu thế hệ tuổi trẻ cực khổ của miền Nam này không còn ngẩng mặt lên được để làm người thì con cháu họ cũng sẽ có cơ hội để ngẩng mặt lên, sẽ được tiến thân, sẽ được làm người. Bây giờ thì chỉ có họ khổ, nhưng họ chấp nhận làm bóng tối để nuôi dưỡng mặt trời, nuôi dưỡng hy vọng, nuôi dưỡng ngày mai… Nhưng nếu họ buông súng, cả dân tộc mình sẽ lầm than khốn nạn. Họ chẳng bao giờ muốn thế.

Đó là lý do tại sao tuổi trẻ miền Nam đã ùn ùn ra chiến trường cầm súng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng chết bất kỳ giờ phút nào, tại bất kỳ chỗ nào để chống bọn Cộng phỉ xâm lăng..

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?217248

Tuyến Phòng Thủ Phía Bắc

Người dịch: Kiều Công Cự
(HOLDING THE LINE – Trung Tướng NGÔ QUANG TRƯỞNG)


Lời nói đầu: Trong mùa Hè năm 1972, Cộng quân đã mở ra 3 cuộc chiến trên toàn miền Nam tại 3 chiến trường : An lộc, Kontum và Quảng trị. Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã có một loạt bài viết cho Ban Quân sử thuộc Bộ Quốc Phòng Mỹ vào năm 1985 về 3 mặt trận này. Tài liệu này có nhan đề: The Easter Offensive of 1972, đã được bạch hóa, nhưng cuộc chiến VN vẫn còn đó… . Chúng tôi xin dịch lại một phần, để chúng ta có cái nhìn rõ ràng, chuẩn xác hơn về cuộc chiến, về những người lãnh đạo, những điều kiện khách quan và chủ quan,…….

Cac chien si TQLC ben dong My Chanh nam 1973

Sau 4 ngày đầu chiến đấu đầy khó khăn và những đợt rút lui quá nhiều bi thảm do những đợt pháo kích dữ dội của địch, những vị trí của ta ở tuyến đầu Quảng trị vẫn còn nhiều nguy khốn. Tuy nhiên, người ta có quyền hy vọng ở tuyến phòng thủ mới sẽ được bảo vệ một cách vững chắc. Mặc dầu áp lực của đối phương hết sức nặng nề, những lực lượng chính qui và thành phần diện địa đã ổn định được đội ngũ và bảo vệ được kháng tuyến chính một cách mạnh mẽ.

Đến giờ phút này, tất cả đều tin rằng sẽ chận đứng được sự xâm lăng của Bắc quân. Họ thực hiện tốt những trách vụ của mình bằng tất cả phương tiện của chính mình, mà không hoàn toàn trông đợi ở sự Không Yểm của Hoa kỳ. Trong những ngày này, thời tiết quá xấu kéo dài, làm cho những phi vụ Không Yểm không thể thực hiện được, ngay cả những tác xạ bằng trực thăng võ trang cũng bị giảm thiểu. Tuy nhiên Hải Pháo của Mỹ ở ngoài khơi phía Đông vẫn còn giúp đỡ được và những phi vụ trải thảm B52 vẫn trút xuống những vùng tập trung và những đường tiến sát của địch từ 5 đến 6 lần mỗi ngày.


Sự thất thủ của căn cứ Tân Lâm và Mai Lộc cùng với sự thiệt hại nặng nề về người, những quân trang, quân dụng và nhất là hậu quả tâm lý bất lợi cho miền Nam VN, nhưng nó cũng chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến tinh thần và sự tự tin trong chiến đấu của những lực lượng phòng thủ. Trong tuần lễ sau đó niềm tự tin này đã được thể hiện một cách mạnh mẽ trên những kháng tuyến chính của Quân Lực VNCH. Những cuộc tấn công liên tục của Cộng quân đều bị bẻ gãy hay đánh bại. Theo báo cáo của những đơn vị tham chiến cho biết, nhiều đội hình của CSBV (Cộng sản Bắc Việt) đều bị đẩy lùi, chia cắt hay phải hoảng loạn tháo chạy trước hỏa lực của Bộ Binh, Thiết Giáp hay Pháo Binh của ta, khiến chúng phải rút về sau để tái tổ chức và bổ sung, và chỉ mở ra những cuộc chạm súng hay tấn công bằng những cuộc pháo kích vào vùng trách nhiệm của SĐ3/BB. Mặc dầu thời tiết tiếp tục gây trở ngại cho những cuộc Không Yểm của Hoa kỳ, tuyến phòng phủ phía Bắc vẫn được bảo vệ một cách chặt chẽ.

Đến lúc này thì 3 Liên đoàn BĐQ (1,4,5) được điều động tăng cường cho Mặt trận Quảng Trị. Khi thời tiết có dấu hiệu sáng sủa hơn thì vị Tư lịnh QĐI đã cho nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh kế hoạch phản công phải được phát động càng sớm càng tốt, để xử dụng không yểm chiến thuật ở mức tối đa của nó. Mối bận tâm của ông là khi kế hoạch sắp được Ban Tham Mưu Quân đoàn soạn thảo thì tướng Giai, Tư Lịnh SĐ3/BB (Đơn vị tham chiến và hướng tấn công của CSBV trong giai đoạn mở đầu) kiêm Tư lịnh mặt trận phía Bắc, đề nghị một cuộc tái tổ chức phòng thủ chiều sâu, một cố gắng phải làm ưu tiên trong bất cứ tình huống nào. Sự khác biệt căn bản về quan điểm chiến thuật này là một sai lầm nghiêm trọng dẫn đến sự thất thủ của thành phố Quảng trị sau này.

Rõ ràng tướng Lãm đã bị ảnh hưởng quá nhiều bởi sự hiện diện của những lực lượng tăng cường do Bộ TTM điều động. Đầu tiên là cuộc không vận của BTL/SĐ/TQLC cùng Lữ đoàn 369/TQLC, kế đến là BCH/BĐQ cùng với 3 Liên đoàn 1,4,5/BĐQ , không kể BCH/Thiết Giáp cùng với Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh được từ Sài gòn đưa ra sau đó. Tướng Lãm tin tưởng rằng với những lực lượng tăng cường đó ông không những giữ được hai tỉnh phía Bắc mà còn có thể chiếm được những lãnh thổ đã mất trong một thời gian ngắn.

Với sự tin chắc đó, Tướng Lãm đã nhiều lần bác bỏ lời yêu cầu của Tư lịnh SĐ3 là xử dụng những lực lượng tăng viện đó để củng cố sự phòng ngự của Quảng Trị. Nhưng Tướng Giai cứ nhất mực đòi cho được và cuối cùng thì Tư Lịnh /QĐI phải miễn cưỡng gửi cho ông ta một LĐ/BĐQ đầu tiên, rồi đến các LĐ/BĐQ khác. Cuối cùng 3 LĐ/BĐQ đều có mặt tại vùng I Chiến Thuật, được khai triển ở Quảng Trị và đặt dưới quyền điều động của SĐ3/BB.

Sự có mặt đông đảo của các đơn vị này đòi hỏi Tướng Giai và Ban Tham Mưu của ông phải có một sự kiểm soát về mặt hành quân và nhất là một sự thống nhất về chỉ huy.

Tuy nhiên, mặc dầu được tăng cường một quyền hạn rộng rãi, SĐ3 chưa bao giờ nhận được một sự yểm trợ dồi dào về Hậu cần và những thông tin đáng kể về mặt xử dụng những quyền hạn và chỉ huy trên thực tế. Điều rắc rối này đã được ghi nhận khi BTL/QĐ thông báo cho tướng Giai rằng, những trách nhiệm đè nặng trên vai ông sẽ được chia phần gánh vác khi QĐI quyết định đặt BTL/SĐ/TQLC và BCH/BĐQ dưới sự chỉ huy trực tiếp của Quân Đoàn, bằng cách giao phó cho 2 lực lượng này những vùng trách nhiệm riêng biệt. Nhưng những thông báo này đã bị dẹp qua một bên. Lý do thì chỉ có tướng Lãm biết mà thôi. Dĩ nhiên tướng Lãm phải nhớ trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ( năm 1971 tại Hạ lào), vị Tư Lịnh SĐ/TQLC đã không thi hành lịnh của ông mà cho đến bây giờ chẳng bị chế tài bởi một hình thức quân kỷ nào hết. Và cũng để chứng tỏ quyền hạn của BTL/QĐI, Đ/Tá Trần công Liểu CHT/BĐQ đã tự ý rời Đà Nẵng mà chẳng có một lịnh lạc hay một thông báo nào hết. Còn BTL/SĐ/TQLC thì không nhận một sự chỉ huy nào của QĐI. Tình trạng càng rắc rối hơn khi vị Tư Lịnh SĐ3 nhận thấy những lịnh của ông ban ra cho những đơn vị liên hệ, sẽ không được thi hành tức khắc, mà phải đợi hỏi lại đơn vị gốc để đưọc kiểm tra và hướng dẫn. Nhất là trong những cuộc hành quân có phần khó khăn.

Nhưng Tướng Lãm đã không quan tâm đến những khó khăn mà Tướng Giai gặp phải. Thái độ của ông luôn luôn lạc quan. Ông vẫn tin tưởng QĐI có đủ lực lượng để chận đứng những đơn vị VC tại tuyến phòng thủ hiện nay, cho nên ông ra lịnh cho bộ Tham Mưu chuẩn bị một kế hoạch phản công.

Thái độ lạc quan của Tướng Lãm lại được thể hiện rõ nét qua biến cố ngày 9/4. Cái ngày mà địch quân phát động một cuộc tấn công thứ nhì từ hướng Bắc và hướng Tây. Nhưng lại một lần nữa, lực lượng phòng thủ đã đẩy lui mọi cuộc tấn công. LĐ1 Kỵ binh, LĐ258/TQLC và LĐ5/BĐQ đều báo cáo những thành quả tốt đẹp. Nhiều chiến xa địch bị bắn hạ do những quả M72 từ những người lính TQLC, BĐQ và những khẩu đại bác gắn trên Chiến xa M48 của LĐ1 Kỵ Binh. Căn cứ Phượng Hoàng (Pedro), trước đây do SĐ3 trấn giữ đã bị tràn ngập, đến đầu năm 1972, được giao lại cho TQLC và đơn vị này đã bẽ gảy 3 cuộc tấn công dữ dội của địch. Gần đây nhất, nội trong ngày 9/4, TĐ6/TQLC bảo vệ căn cứ đã được tăng cường 2 Đại đội của TĐ1/TQLC và một Chi đội M48, đã tiêu diệt 30 tăng T54 của Trung đoàn 203 và khoảng 700 tên địch thuộc Trung đoàn 66, thuộc SĐ 304. Cho đến buổi chiều cùng ngày, chu vi phòng thủ của SĐ3 và các lực lượng tăng phái, từ bờ biển phía Đông, chạy dọc theo bờ Nam của sông Đông Hà, đến tận hướng Tây và Tây Nam tới căn cứ Phượng Hoàng và sông Thạch Hãn vẫn còn nguyên vẹn.

Ở thời điểm này, trách nhiệm và quyền hạn của Tướng Giai đã vượt xa hơn vị trí của một vị Tư Lịnh. Ông đã chỉ huy 2 Trung đoàn Bộ Binh cơ hữu (Tr/đoàn 2 và 57), điều động hành quân 2 LĐ/TQLC, 3 LĐ/BĐQ, 1 LĐ/Kỵ Binh và những lực lượng diện địa của tỉnh Quảng Trị. Như vậy ông ta có đủ quyền hạn trên 9 LĐ bao gồm khoảng 23 TĐ và những lực lượng diện địa. Trách nhiệm của ông còn giám sát và bảo vệ những đơn vị Pháo binh và Tiếp vận đang hành quân tại Đông Hà, cũng như phải theo dõi những hoạt động của Chính quyền cấp Tỉnh và quận hạt. Ông ta rất bằng lòng và rất được khích lệ khi Tư Lịnh QĐI đã hoàn toàn tin cậy và giao trọn quyền hạn cho ông ta.

TQLC trong cuoc hanh quan tai cjhiem Quang Tri nam 1972

Nhưng có một điều cần lưu ý ở đây là Tướng Lãm không tự cảm thấy phải vội vàng đến thăm viếng những vị chỉ huy dưới quyền của ông ở tại mặt trận, hay những đơn vị ở tại tuyến đầu của QĐI. Ông chỉ nghe thuyết trình về những diễn biến của trận đánh qua các bản báo cáo và ban hành những chỉ thị, những huấn lịnh cho ban Tham mưu của ông. Tự bản thân ông không bao giờ đi thị sát tuyến phòng thủ của SĐ3, để hiểu rõ những trở ngại mà các đơn vị trưởng phải đối mặt. Rõ ràng trong suy nghĩ của ông thì tình trạng hiện nay không đủ để cần có sự hiện diện của ông. Quân đội miền Nam đã chiến thắng trong những ngày 9 và 10/4 càng làm tăng thêm sự lạc quan của ông và dẫn đến một quyết định là chính thời điểm này, phải mở ra một cuộc phản công. Những người trong ban Tham Mưu của ông nhận được lịnh thảo ra một kế hoạch băng qua sông Đông hà để chiếm lại quận Gio linh và toàn bộ lãnh thổ phía Bắc đến tận vùng Phi quân Sự. Ông ta nhận định rằng một cuộc hành quân như thế nằm trong khuôn khổ của QĐI và sẽ chận đứng mọi cuộc xâm lăng của quân CSBV. Nếu cuộc phản kích thành công thì toàn bộ lực lượng địch sẽ bị đẩy về phía bắc vùng Phi quân Sự.

Mặc dầu kế hoạch phản công được tranh luận rộng rãi và cân nhắc cẩn thận, nhưng cuối cùng đã bị loại bỏ. Chỉ vì một điều, nếu tập trung mọi lực lượng tấn kích về phía bắc thì sườn phòng thủ về phía Tây trở nên yếu ớt và lỏng lẻo, trong khi trên thực tế thì địch ở đây mạnh hơn nhiều. Nếu sườn phía tây bị chọc thủng ở nhiều đoạn, thì thành phố Quảng trị trở nên nguy khốn. Cho nên Tướng Lãm sau đó quyết định hướng cuộc phản công về phía Tây thay vì phía Bắc. Ông dự trù tái lập tuyến phòng thủ cũ ở phía tây bằng cách tung toàn bộ lực lượng tái chiếm theo từng giai đoạn, nhắm vào các căn cứ cũ Mai Lộc, Tân Lâm. Cùng thời gian đó, ông ra lịnh cho các đơn vị tham chiến phải làm sạch các đơn vị địch trong vùng trách nhiệm của họ trước rồi tiến sang giai đoạn kế tiếp. Cuộc phản công này mang tên là Hành quân Quang Trung 729, lấy một biểu tượng cùng một nhân vật lịch sử mà VC đã lợi dụng để đặt tên cho cuộc xâm lăng của bọn chúng. Cuộc hành quân dự trù khởi diễn vào ngày 14/4/1972.

Tướng Giai đã ban lịnh cho SĐ3 và những đơn vị tăng phái. Cuộc Hành quân Quang Trung 729 bắt đầu. Tuy nhiên chẳng có cuộc tiến quân nào băng qua Tuyến xuất phát. Trái lại những cánh quân mệt mõi ở sườn phía tây không sẳn sàng tiếp cận với địch. Và như thế hai tuần lễ trôi qua, những người lính đã không sẳn sàng và không thể tiến lên phía trước. Trong khi đó Cộng quân đã mở nhiều đợt pháo kích cả ngày lẫn đêm vào tuyến đóng quân của quân đội miền Nam, gây ra nhiều thiệt hại nặng nề về thương vong. Đến ngày cuối cùng của cuộc hành quân đầu tiên, không đơn vị nào tiến xa hơn 500m từ Tuyến xuất phát. Bị giới hạn trong chỉ huy và những phương tiện giám sát, Tướng Giai cảm thấy không thể phối hợp được một cuộc hành quân đủ mạnh, trong bất cứ một vùng hoạt động nào. Hơn thế nữa trong giai đoạn này, ông ta cũng không nhận ra, tinh thần chiến đấu đã giảm sút giữa các cấp chỉ huy tăng phái và các đơn vị của họ. Các cấp chỉ huy này không mấy tin vào một cuộc phản công vào kẻ địch, bởi vì tướng Giai cũng không đủ khả năng chỉ huy các đơn vị phân tán này, và những thuộc cấp của ông thường trì hoãn sửa soạn những cuộc tấn công viện lý do trở ngại về Tiếp vận, quân số bổ sung chưa kịp, đơn vị mệt mỏi và nhiều lý do khác nữa. Mặc dầu họ có gửi cho tướng Giai những báo cáo hằng ngày về mức độ tiến quân, nhưng chạm tuyến vẫn không có gì thay đổi. Những lịnh bắt buộc họ phải quét sạch địch trong vùng trách nhiệm trước khi đến giai đoạn kế tiếp, đòi hỏi một cuộc chuyển quân cẩn thận trong bất cứ trường hợp nào và cung cấp cho họ những sự biện hộ rộng rãi cho việc đơn vị của họ không thể tiến nhanh được.

Theo bản báo cáo mà Tướng Giai nhận được từ những đơn vị trưởng của mình, họ đều báo cáo là sẽ cố gắng dọn sạch địch trong khu vực trách nhiệm, cần rất nhiều không tập vào những khu vực tập trung của địch, cần rất nhiều không tập để làm tiêu hao lực lượng địch, trước khi những Tiểu đoàn tác chiến của ta tiến về phía Tây. Trong những ngày tiếp theo sau đó, tại BTL/SĐ3 tràn ngập những báo cáo chạm địch với nhiều thương vong. Cuộc Hành quân Quang Trung 729 không còn được xem là một cuộc phản công, mà tệ hại hơn nữa là một cuộc chiến tiêu hao, trong đó các đơn vị của ta bị những đợt pháo kích khủng khiếp của địch làm mất dần đi sức mạnh và tính hiệu năng. Tinh thần chiến đấu của binh sỉ tiếp tục xuống thấp mà tướng Giai không thể nào khôi phục lại được. Bây giờ thì ông không thể thúc đẩy những Tiểu đoàn của ông rời khỏi hầm hố và giao thông hào để tiến vào một cuộc tấn công phía trước được nữa. Những cấp chỉ huy dưới quyền của ông cũng đều biết rằng những đơn vị của họ đã mất hết sức mạnh để bẻ gẫy đội hình của địch đang đối diện, họ cũng biết rằng Pháo binh địch có thể mở ra bất cứ lúc nào để tàn sát họ, họ cũng biết rằng những đạn dược và tiếp liệu cần thiết để bảo đảm cho cuộc tấn công này đã đi quá khả năng cung cấp của SĐ3 và QĐI.

Trong những ngày này, những cố gắng của Tướng Lãm để tái lập lại hệ thống kiểm soát và chỉ huy có hiệu quả đã thất bại lại còn gây ra nhiều vấn đề khá trầm trọng. BTL/SĐ/TQLC và BCH/BĐQ, mà những đơn vị cơ hữu của họ được đặt dưới quyền điều động của QĐI, lại đứng ngoài những hoạt động chiến đấu và từ chối không nhận bất cứ một sự chỉ định hay vùng trách nhiệm nào. Là những vị chỉ huy cao nhất của TQLC và BĐQ, nhưng họ càng làm cho sự chỉ huy thêm rắc rối và sự kiểm soát càng phức tạp hơn, như về những lịnh lạc của tướng Giai, bằng cách đặt ra những câu hỏi và phê bình về những vấn đề có liên quan đến đơn vị của họ. Tuy nhiên, không những chỉ có những vị này, mà cả tướng Lãm nhiều khi ban hành những lịnh lạc trên những hệ thống truyền tin và trên điện thoại đến từng cá nhân Lữ đoàn trưởng, nhất là vị Lữ đoàn Trưởng LĐ1 Kỵ Binh (là người cùng trong binh chủng Thiết Giáp với Tướng Lãm).

Tướng Giai thường chỉ biết những lịnh này sau khi các đơn vị trưởng đã thi hành. Những sự kiện này thường làm suy giảm nghiêm trọng đến quyền hạn của ông ta. Không tin cậy và không phục tùng dần dần trở nên gay gắt, cuối cùng đưa đến sự đổ vỡ hoàn toàn không thể tránh được về mặt chỉ huy và kiểm soát tại tuyến đầu của Vùng I Chiến Thuật.

Sau 2 tuần lễ mưa gió liên tục và tầng mây nặng trĩu làm trở ngại rất nhiều việc xử dụng không yểm chiến thuật, thời tiết bắt đầu quang đãng, những phi vụ không trợ của Không Quân Mỹ đã gia tốc nhịp độ, như để bù đắp lại thời gian đã bị mất mát. Hằng ngày đủ loại phi vụ xuất hiện từng đàn trên bầu trời Quảng Trị. Những đợt trải thảm của B52, những phi vụ chiến thuật, những yểm trợ cận phòng của trực thăng võ trang gia tăng hằng ngày để đổ lửa đạn xuống những mục tiêu nghi ngờ. Sự gia tăng không yểm này làm lên tinh thần binh sỉ và niềm tự tin của những người lính bộ chiến. Ngày 18/4 những hoạt động của địch gia tăng một cách đáng kể bằng những cuộc “tiền pháo hậu xung”, bộ binh và chiến xa địch cùng xuất hiện. Đây là lần thứ ba địch mở cuộc tấn công lớn nhằm đánh chiếm thành phố Quảng trị. Những đơn vị Bộ binh và TQLC đều báo cáo chạm địch và bị pháo kích. Lúc 1830 G một đơn vị địch có phối hợp Bộ binh và Thiết giáp đã mở ra một cuộc tấn công vào phía tây của SĐ3/BB. Tại mọi vị trí các đơn vị đều báo cáo có sự xuất hiện của tăng địch. Trong vòng 3 giờ đồng hồ, không lực Mỹ đã đáp ứng một cách tích cực với những phi vụ chiến thuật và những đợt B52 trãi thãm nhiều nơi, khiến cuộc tấn công của địch bị bẻ gẫy hoàn toàn. Sự không yểm này tạo cơ hội cho những đơn vị VNCH vùng lên phản công, ít nhất cũng vượt qua bước tiên khởi của cuộc Hành quân Quang Trung 729.

TQLC chien thang Quang Tri nam 1972

Nhưng chẳng có điều gì xảy ra. Các cánh quân vẫn còn dính chặt dưới giao thông hào và chẳng có dấu hiệu nào tiến lên phía trước. Trước những nỗ lực tấn công của địch quân không thành công và trước những cơ hội vùng lên chiếm lại những phần đất đã mất, nhưng quân ta lại bỏ lỡ, đã không làm cho vị tư lịnh QĐI phải suy nghĩ. Và tình trạng ù lì đang trải ra trên khắp các đơn vị, đã phải báo động cho ông ta phải tìm hiểu lý do tại sao và nguyên nhân sự kiện nào, để rồi tái tổ chức những đơn vị và hoán chuyển những vị trí yếu kém. Nhưng những điều cần thiết này đã vượt ra ngoài suy nghĩ của ông ta. Trước những áp lực đè nặng của đối phương, những đơn vị VNCH phải tự động chống đỡ và phải phối hợp phòng thủ để bảo vệ thành phố Quảng trị. Nhưng những nổ lực này cũng chẳng được bao lâu.

Tuần lễ sau đó, tuyến phòng thủ Đông Hà và dọc theo sông Cửa Việt bị tan vỡ do một sai lầm về chiến thuật hết sức ngớ ngẩn. Điều này dẫn đến những bản báo cáo mà BTL/QĐI nhận được cho biết Cộng quân đã xâm nhập từ phía Tây và đe dọa sẽ cắt đứt con đường tiếp tế từ Đông Hà đến căn cứ Ái Tử trên QLI. Trong ý nghĩ đầu tiên vị LĐT/LĐ1 Kỵ binh đã ra lịnh cho Thiết đoàn 20 Chiến xa đang bố trí trên tuyến Cửa Việt , lui về phía nam, dọc theo QLI để chận đứng những đơn vị địch sẽ xuất hiện tại đây. Khi thấy các Chiến xa di chuyển về phía nam, những đơn vị đang phòng thủ đâm ra hoảng loạn, bỏ hàng ngũ và tiến từng đàn theo sau mà không có gì ngăn cản nỗi. Trước khi vị Tư Lịnh SĐ3 biết được những gì đang xảy ra, trong khi ông đang điều động những đơn vị sẳn sàng đến căn cứ Ái Tử và tuyến phòng thủ Cửa Việt, một trong những tuyến phòng thủ mạnh nhất đã nhiều lần bị VC tấn công gần một tháng qua vẫn giữ vững, bởi những người lính can đảm, kiên trì nhất, bây giờ đã bị bỏ đi. Ta đã trao cho địch một phần đất quan trọng chỉ vì vị chỉ huy chiến thuật này đã không tính hết được cái ý nghĩ tiên khởi đó, về một cuộc chuyển quân mà không báo cáo lên cấp trên của ông ta và cũng không tiên liệu hết hậu quả hành động của mình.

Lại một lần nữa bằng sự can thiệp hết sức tự nhiên, vị Tư lịnh SĐ3 đã cố gắng đưa ra những đặc lịnh tái thiết lập, mặc dầu cũng chẳng được bao lâu. Nhưng thời gian quí báu đó đã đi qua mất rồi. Cuối cùng trong lúc này ông ta cố gắng duy trì sự kiểm soát tình thế, nhưng không có cách nào để đẩy các đơn vị của mình trở lại bờ sông Cửa Việt, để tái lập những vị trí đã mất. Ông ta bắt buộc phải tập họp họ lại ở phía tây của thành phố Quảng trị và khai triển một tuyến phòng thủ mới về phía bắc của sông Thạch Hãn. Tuyến mới này bao quanh và bảo vệ căn cứ Ái Tử rất quan trọng vì được coi như một trung tâm Yểm Trợ Tiếp Vận thu nhỏ lại tại đây.

Ngày 22/4/1972 LĐ147/TQLC đã trở lại căn cứ Ái Tử sau một thời gian dưỡng quân và bổ sung quân số, để thay thế cho LĐ258/TQLC được luân chuyển ra Huế. Tuy nhiên TĐ1/TQLC vẫn còn ở lại để trấn giữ căn cứ Phượng Hoàng và đặt dưới sự điều động của LĐ147. (Những vị trí phòng thủ của QL/VNCH trong cuộc vây hãm thành phố Quảng trị )

Trong những ngày sau đó, tinh thần chiến đấu của binh sĩ xuống thấp một cách nhanh chóng. Họ luôn luôn bị đe dọa bởi những đợt pháo kích và những cuộc tấn công có tăng yểm trợ. Cộng quân đã chuyển qua những cuộc chiến tranh qui ước. Binh sĩ đã qua nhiều đêm không ngủ, căng thẳng và lo lắng cái viễn ảnh bộ binh địch sẽ mở ra các cuộc đột kích bất cứ lúc nào mà họ chọn. Cho nên trong thời gian ngưng đọng giữa các cuộc tấn công, thì đó là lúc địch quân có thể nghĩ ngơi , còn hầu hết binh sĩ ta bị pháo kích cầm canh, nên luôn luôn ở trong tình trạng báo động, căng thẳng ngày và đêm, sức khỏe của họ bị đào mòn vì lo sợ và bất định, trong thời gian phòng thủ tại một căn cứ chiến đấu mà giá trị chiến thuật trở nên mờ nhạt.

Căn cứ Ái Tử, phía Bắc sông Thạch Hãn, là một chọn lựa không thích hợp về mặt chiến thuật. Trong suốt tháng tư, đây là điểm được chọn là điểm tiếp vận và đây cũng là điểm mà pháo địch gửi đến hằng ngày, đêm với một mức độ dữ dội. Cho nên Tư Lịnh SĐ3 đã quyết định dời Bộ Tham Mưu về phía Nam của con sông Thạch Hãn, trong cổ thành Quảng Trị. Ông ta chỉ hỏi ý kiến của vị Cố vấn SĐ. Tướng Giai sợ rằng những cấp chỉ huy dưới quyền của ông biết được kế hoạch này, họ sẽ tìm cách phá hỏng bằng những hành động vội vàng nào đó. Ông ta cũng không thông báo kế hoạch này cho vị Tư Lịnh QĐI. Đơn giản là ông ta muốn cẩn thận, muốn đặt mọi việc trước một sự đã rồi. Nhưng đó là một hành động gây tức giận cho tướng Lãm và sự bất tin cậy bắt đầu lớn dần giữa họ, khoảng cách càng lúc càng lớn cho đến những biến cố dồn dập xảy ra dẫn đến sự thất thủ của thành phố Quảng Trị.

Sự Thất Thủ Của Thành Phố Quảng Trị

Những cuộc tấn công trong những ngày cuối tháng Tư của Cộng quân gây ra sự thất thủ của thành phố Quảng trị. Ở thời điểm này, hậu quả của những sự căng thẳng và sự khích động trong bốn tuần qua trong cuộc chiến tranh qui ước đã làm tinh thần kỷ luật và chiến đấu của những người lính miền Nam đã đến hồi báo động và nguy hiểm. Sự liên kết và niềm tự tin trong chiến đấu chỉ còn là những mảnh vụn, cũng sẽ sẳn sàng ra đi. Những đơn vị của SĐ3 chiến đấu mà không nghĩ rằng mình sẽ chiến thắng và hầu như họ chỉ biết chống đỡ. Những vị trí cuối cùng ngày càng co cụm lại.

Trong lúc này Cộng quân mở ra nhiều đợt tấn công từ hướng tây, gần ranh giới của tỉnh Thừa Thiên, cắt đứt QLI ở phía Nam và ngăn chận tất cả những đoàn xe tiếp tế của đơn vị bạn trên một đoạn đường dài hơn 7 Km. Ý định của chúng là cô lập những lực lượng của QĐI ở Quảng Trị và cắt đứt hoàn toàn con đường giao thông huyết mạch mà ta phải giữ bằng bất cứ giá nào. Phản ứng đầu tiên của vị Tư Lịnh QĐI trong trạng huống này là đưa ra một loạt những lịnh lạc cho các đơn vị tiếp vận, thúc đẩy những đoàn quân xa chở tiếp liệu băng qua những đoạn đường đang bị địch phong tỏa. Kế tiếp vị Tư Lịnh SĐ3 lặp lại cái lịnh khai thông QLI từ phía Bắc. Những lịnh lạc này bắt buộc Tướng Giai phải thay đổi nhiệm vụ của Thiết đoàn Kỵ Binh đang giữ vai trò bảo vệ tuyến phòng thủ để chuyển sang nhiệm vụ khai thông QLI về hướng Nam. Cuối cùng đích thân Tư lịnh QĐI đã điều động một TĐ/TQLC đang giữ nhiệm vụ bảo vệ Huế phải khai thông QLI từ phía Nam. Những cuộc chuyển vận này làm tiêu hao khá nhiều nhiên liệu và đạn dược đáng lẽ phải được ưu tiên ở Quảng Trị và việc tái lập con đường huyết mạch đó đã không thành công.

Thời tiết rất xấu trong ngày 27/4 và địch đã chiếm được ưu thế hơn. Trong những ngày này, những hoạt động của địch cho thấy dấu hiệu bọn chúng muốn đẩy mạnh việc tiến chiếm những phần đất còn lại của quân đội miền Nam tại Quảng Trị. Tuyến phòng thủ mới của SĐ3 cũng dần dần thâu ngắn lại từ vùng phụ cận Quảng Trị đến phía đông, phía bắc, phía tây. Những đơn vị ta báo cáo chạm địch rất đông đảo và bị pháo nhiều. Suốt ngày địch tấn công dai dẳng, biển người và những đợt pháo cày nát những vị trí phòng thủ khiến một số đơn vị phải rút lui. Đến cuối ngày, LĐ1 Kỵ Binh đã đẩy lui địch được khoảng 2, 3 Km trên QLI, trong khi đó pháo tập trung mạnh vào căn cứ Ái Tử của LĐ147/TQLC.

Để đáp lại lời kêu gọi khẩn cấp của SĐ3, Không Quân Chiến Thuật Hoa kỳ và Pháo đài Bay B52 đã can đảm bất chấp mọi thời tiết quyết chận lại không cho địch tiến vào thành phố Quảng Trị. Đến ngày kế tiếp, thiết giáp địch đã đến gần cầu Quảng Trị, cách thành phố khoảng 2Km về hướng Tây Nam, đây là vùng trách nhiệm của Tr/đoàn 2. Thiết đoàn 17 đã gửi một Chi đoàn M41 đến tăng cường cho Tr/đoàn 2, nhưng đơn vị này đã rút lui. Những Chi đoàn của LĐ1/Kỵ Binh đã có kinh nghiệm đẩy lui địch trong ban ngày, nhưng phải rút lui về hướng Bắc của căn cứ Ái Tử khoảng 1Km, để có bộ binh bảo vệ. Không may, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật đã bị thương và được tải thương khẩn cấp. Khi ông đi rồi thì những quân nhân trong LĐ đã không thể nào kiểm soát nỗi và họ đã bỏ đi về phía nam bằng qua con đường do LĐ147/TQLC được lịnh chận lại.

Tr/đoàn 57 cũng không còn khả năng tác chiến nữa. Vị Trung đoàn trưởng không còn biết được tình trạng của 2 Tiểu đoàn ở gần thị trấn Đông Hà như thế nào nữa. Chung quanh và để bảo vệ ông chỉ có Trung đội Thám báo của Tr/đoàn. Suốt ngày đêm làn sóng người tiếp tục đổ về phía Nam. Chỉ có một đơn vị còn đủ khả năng bảo vệ căn cứ Ái Tử là LĐ147/TQLC, mặc dầu họ bị tấn công liên tục bằng bộ binh và những đợt pháo dữ dội.

Ngày 29/4 tình cảnh thành phố Quảng Trị đã trở nên bi thảm. Địch đang mở những hướng tấn công mới. Mặt khác, đến lúc này những vị đơn vị trưởng của ta rất quan tâm đến sự thiếu thốn về nhiên liệu và đạn dược. Những khẩu pháo 105 và 155 ly sau khi bắn hết đạn đều bị phá hủy. Những cố gắng để mở lại một vài đoạn đường trên QLI diễn tiến hết sức chậm chạp vì thiếu sự phối hợp và những hành động tích cực. Viễn ảnh đó gần như vô vọng. Quảng Trị đã được tái tiếp tế bằng trực thăng. Đó là những chuyến bay của những phi công đầy can đảm và chấp nhận hy sinh khi bay dọc theo QLI.

Trước khi đối mặt với một tai vạ sau cùng, Tướng Giai đã mở một cuộc họp với các đơn vị trưởng của ông, tại bộ chỉ huy ở trong cổ thành Quảng Trị và trình bày một kế hoạch rút lui về phía Nam sông Thạch Hãn. Trên căn bản thì kế hoạch xử dụng một LĐ/TQLC để bảo vệ thành phố Quảng Trị, thiết lập một tuyến phòng thủ mới tại bờ Nam sông Thạch Hãn với lực lượng Bộ Binh và các LĐ/BĐQ, xử dụng lực lượng Chiến Xa và Thiết Kỵ để mở con đường QLI về phía Nam. Tất cả các đơn vị sẽ di chuyển vào sáng hôm sau tức là ngày 1 tháng 5.

Được thông báo về kế hoạch rút quân này, Tướng Lãm chỉ ngầm đồng ý, mặc dầu ông chưa bao giờ xác nhận sự đồng thuận của ông. Cũng như ông chưa bao giờ ra một cái lịnh như thế với Tư Lịnh SĐ3/BB.

Tuy nhiên trong buổi sáng ngày 1/5, Tướng Lãm đã gọi cho Tướng Giai và nói rằng ông không chấp thuận cái lịnh rút quân. Ông yêu cầu Tướng Giai ra lịnh cho tất cả các đơn vị ở lại tại chỗ và giữ vững vị trí mình với “bất cứ giá nào”. Ông cũng nhấn mạnh rằng cá nhân ông không cho phép bất cứ đơn vị nào rút lui. Tướng Giai phải đưa ra cái phản lịnh ở giờ thứ 11. Đó cũng chỉ là một sự lặp lại một mệnh lệnh mà Tướng Lãm đã nhận được từ TT Thiệu ở Sài gòn. Quyết định này được coi như là xác nhận bởi vì tại cuộc Hội đàm Paris, phái đoàn VNCH đã tẩy chay hội nghị kể từ ngày đầu tiên quân CSBV tràn qua sông Bến Hải và xâm lăng miền Nam.

Một sự kiện thật dễ dàng khi cầm điện thoại lên và hủy bỏ một mệnh lệnh. Ở tại chiến trường và dưới áp lực nặng nề của địch, những lịnh lạc xung khắc nhau như thế này sẽ dẫn đến một hậu quả không tránh được, là tạo nên một sự bối rối và hỗn loạn. Ngay cả Tướng Giai cũng không có đủ thì giờ để hủy bỏ cái lịnh mà chính ông ta ban hành và cùng một lúc phải phổ biến những lịnh mới cho từng cấp chỉ huy qua một loạt những điện đàm dài dòng. Hơn nữa tất cả các LĐ Trưởng và Tr/đoàn Trưởng cũng không có mặt tại chỗ để thi hành những lịnh lạc mới. Một vài người thông báo là đơn vị của họ sẳn sàng đi đến vị trí mới, một số khác từ chối thẳng thừng. Sự thay đổi lịnh đã được ban ra. Tướng Giai kiên nhẫn thuyết phục họ nên tuân theo những chỉ dẫn mới nhận được từ Quân đoàn. Ông ta lặp lại lịnh mới và nhấn mạnh mỗi một đơn vị phải thi hành. Ông ta cũng hủy bỏ cái lịnh mà ông ta vừa ban hành và tái thiết lập BCH của ông. Tất cả đều trụ lại tại thành phố Quảng Trị.

Nhưng trong vòng 4 giờ sau đó, những tuyến phòng thủ của quân đội miền Nam đã đổ vỡ hoàn toàn. Những đơn vị từ phía bắc đóng chung quanh căn cứ Ái Tử đã đổ xuôi như một dòng thác băng qua sông Thạch Hãn và tiếp tục chảy xuôi về phía nam như một chiếc đập đang bị vỡ. Những đơn vị cơ giới khi đến cầu Thạch Hãn thì không thể qua được, vì cây cầu đã bị phá hủy hoàn toàn. Họ bỏ lại toàn bộ xe cộ và những trang bị rồi lội qua sông và tiếp tục xuôi nam. Ở bờ Nam của con sông, những đơn vị bộ binh cũng không muốn giữ cái kháng tuyến mới. Khi họ nhìn thấy những Chiến xa rút lui, họ đã bỏ trống tuyến ngay và phóng theo đoàn người. Nhưng đoàn người ấy cũng không đi được xa lắm. Chiến Xa, Thiết Giáp hết nhiên liệu, rồi chiếc này nối đuôi chiếc khác thành hàng dài trên QLI. Chỉ có một đơn vị vẫn còn giữ được sự phối hợp và liên kết chỉ huy trong suốt thời gian hỗn loạn này là LĐ147/TQLC, vẫn bình tĩnh bảo vệ thành phố Quảng Trị. Nhưng cuối cùng chính vị LĐ trưởng cũng thấy tình trạng này là vô vọng và ông cũng ra lịnh cho các đơn vị của ông rời khỏi thành phố lúc 1430G, để lại Tư Lịnh SĐ3 và ban Tham Mưu của ông trong Cổ thành, mà không có một đơn vị nào bảo vệ.

Thiet van xa M113 tai Quang Tri nam 1972

Sau cùng khi biết được những gì đã xảy ra, Tướng Giai đã cùng ban TM lên 3 chiếc M113, trong cố gắng bắt kịp đoàn người phía trước. Lúc đó những chiếc trực thăng Mỹ đã đến để di tản những toán cố vấn và những nhân viên người VN của họ.

Tư Lịnh SĐ3 muốn nhập vào đoàn người phía trước nhưng thất bại. QLI đầy cứng những người dân chạy loạn và những toán quân ô hợp và mọi loại xe cộ, quân đội và dân sự. Tất cả hốt hoảng tìm đường về Huế dưới những bức tường lửa dã man hung bạo của các loại pháo địch. Tướng Giai bị bắt buộc phải quay lại Cổ thành và sau đó ông ta và ban TM được trực thăng Mỹ bốc đi. Khi chiếc Chinook cuối cùng bốc lên khỏi mặt đất lúc 16:55 G, mang theo các cố vấn của SĐ3, thì VC đã bắn theo bằng những loạt súng nhỏ. Những toán quân CSBV đầu tiên đã tràn vào Cổ thành. Quảng Trị đã thuộc về kẻ thù: đó là tỉnh lỵ đầu tiên của VNCH rơi vào tay CS trong cuộc chiến.

Trên QLI, cả một dòng thác người chạy loạn, dân sự và binh lính tiếp tục xuôi nam. Con đường đã diễn ra một cảnh tượng tàn sát không thể nào tưởng tượng nỗi. Những chiếc xe đủ loại bốc cháy dữ dội. Những chiếc Thiết Giáp, GMC, xe nhỏ của quân đội và dân sự đầy cứng cả con đường, không tài nào lưu thông được. Trong khi đó pháo binh địch mở ra một cuộc tàn sát đẫm máu không nương tay. Cho đến xế trưa hôm sau, cuộc thảm sát mới chấm dứt. Hàng nhiều ngàn người dân vô tội đã được tìm thấy trên đoạn đường dài của QLI và sau đó báo chí đã đặt cho cái tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Sự khích động và sự thảm thương của thảm cảnh này, cũng giống như cuộc tàn sát tập thể tại Huế hồi Tết Mậu thân (1968) đã ám ảnh người dân phía Bắc của Vùng I Chiến Thuật một khoảng thời gian lâu dài.

Nhiều đơn vị miền Nam và LĐ147/TQLC vẫn giữ được kỷ luật giữa sự hỗn loạn đó và chiến đấu trên đường di chuyển ngoài vùng phụ cận của quận Hải Lăng. LĐ5 và theo sau đó là LĐ1 và LĐ4/BĐQ vừa di chuyển vừa đánh tan những đơn vị địch cản đường. Họ đã bắt kịp LĐ1 Kỵ binh đang đóng quân đêm khoảng 4 Km tây nam Hải Lăng. Đến khuya hôm đó, những thành phần còn lại của SĐ3/BB đã đến gần căn cứ Hòa Mỹ, nơi mà tướng Giai và ban TM của ông cũng đã đến đây. Ông đang chuẩn bị để tái lập lại BCH và tái tổ chức lại đơn vị.

Ngày 2/5, LĐ1 Kỵ Binh tiếp tục xuôi Nam theo QLI dưới cơn mưa pháo liên tục của địch. Cuối cùng đơn vị Thiết Giáp này cũng đến được căn cứ Hòa Mỹ, khoảng 25 Km phía Tây Nam Quảng Trị, vào lúc xế trưa.

LĐ147/TQLC là đơn vị đoạn hậu, nên chấp nhận mọi cuộc tấn công tương tự khi bắt đầu rời căn cứ Ái Tử để đi vào Quận lỵ Hải Lăng và bắt đầu xuôi Nam vào lúc rạng đông. Với sự yểm trợ của Không quân Chiến thuật Mỹ, cùng một số Chiến Xa, LĐ này đã băng qua hành lang an toàn từ cầu Bến Đá đến cầu Mỹ Chánh trên QLI. Cầu Bến Đá đã được TĐ9/TQLC trấn giữ và cầu Mỹ Chánh đã được LĐ369/TQLC đang thành lập tuyến phòng thủ mới tại đây với TĐ2 và TĐ5/TQLC.

Toàn bộ thành phố Quảng Trị giờ đây đã rơi vào tay giặc. Điều này giúp cho CSBV có cơ hội đẩy mạnh tấn công đến tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế………..

Người dịch: Kiều Công Cự
Anaheim ngày 20/5/2006
http://hoiquanphidung.com/showthread.php?22529